Oct 21, 2019

Cổ thi Việt Nam

Thơ Chữ Hán - Bắc Hành Tạp Lục 北 行 雜 錄 (3)
Nguyễn Du (1766 - 1820) * đăng lúc 04:57:01 PM, Jul 07, 2008 * Số lần xem: 7259
Thơ Chữ Hán - Bắc Hành Tạp Lục 北 行 雜 錄 (3)
Gồm các bài thơ sau :

Sơ thu cảm hứng
Sở vọng
Lỗi Dương Ðỗ Thiếu Lăng mộ (bài 1)
Lỗi Dương Ðỗ Thiếu Lăng mộ (bài 2)
Đăng Nhạc Dương lâu
Nhiếp Khẩu đạo trung
Lí gia trại tảo phát
Vũ Thắng quan
Tín Dương tức sự
Ngẫu hứng
Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm Hầu
Độ Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng
Hà Nam đạo trung khốc thử
Cựu Hứa đô
Âu Dương Văn Trung Công mộ
Bùi Tấn Công mộ
Hoàng Hà
Hoàng Hà trở lạo
Tỷ can mộ
Trở binh hành
Kê Thị trung từ
Đồng Tước đài
Thất thập nhị nghi trủng
Lạn Tương Như cố lí
Hàm Đan tức sự
Hàn Tín giảng binh xứ
Liêm Pha bi
Tô Tần đình (bài 1)
Tô Tần đình (bài 2)

*
058-059
(b>Sơ thu cảm hứng - (Cảm hứng đầu thu) 1 & 2

初秋感興

[1]
蕭蕭木落楚江空
無限傷心一夜中
白髮生憎班定遠
玉門關外老秋風

[2]
江上西風木葉稀
寒蟬終日噪高枝
其中自有清商調
不是愁人不許知

Phiên âm: Sơ thu cảm hứng

[1]
Tiêu tiêu mộc lạc Sở giang (1)không
Vô hạn thương tâm nhất dạ trung
Bạch phát sanh tăng Ban Định Viễn (2)
Ngọc Môn quan (3) ngoại lão thu phong
[2]
Giang thượng tây phong mộc diệp hi
Hàn thiền chung nhật táo cao chi
Kì trung tự hữu thanh thương điệu (4)
Bất thị sầu nhân bất hứa tri

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Cảm hứng đầu thu

[1]
Sông Sở hoang vắng lá cây rụng bời bời
Trong một đêm xiết bao đau lòng
Ban Định Viễn ghét tóc trắng mọc ra
Ở ngoài cửa Ngọc môn, già với gió thu
[2]
Gió tây thổi trên sông lá cây thưa thớt
Ve sầu lạnh suốt ngày kêu trên cành cao
Trong tiếng kêu có điệu thanh thương
Không phải người buồn thì không biết được

Dịch thơ: Cảm hứng đầu thu

[1]
Tơi bời lá rụng sông Tương
Một đêm cũng thể đau thương vô vàn
Ưa gì tóc bạc chàng Ban
Già theo với gió thu vàng ải quan
[2]
Sông cây thưa lá gió tây
Cành cao ve lạnh suốt ngày kêu ca
Điệu buồn trong tiếng đưa xa
Không buồn ai có nghe ra ve sầu

Đặng Thế Kiệt dịch

Chú thích:

(1) Sở giang: Tức sông Tương.

(2) Ban Định Viễn: Tức Ban Siêu 班超 (32-102), tướng nhà Hán. Thời Đông Hán 漢 có công chinh phục các nước Tây Vực 西域 được phong tước Định Viễn Hầu 定遠侯, làm đô hộ Tây Vực ba mươi năm, đầu bạc mới trở về.

(3) Ngọc Môn quan: Cửa ải thuộc tỉnh Cam Túc trên đường thủy sang Tây Vực.

(4) Thanh thương điệu: Âm điệu buồn nhất trong ngũ âm của nhạc cổ.

***

060
Sở (1) vọng - Trông vời đất Sở

楚望

荊襄千里古名都
一半襟江一帶湖
天假富彊供百戰
地留缺陷限三吳
秋風落日皆鄉望
流水浮雲失霸圖
孫索劉分何處在
蒼然一望盡平蕪

Phiên âm: Sở (1) vọng

Kinh (2) Tương (3) thiên lí cổ danh đô
Nhất bán khâm giang nhất đái hồ
Thiên giả phú cường cung bách chiến
Địa lưu khuyết hãm hạn Tam Ngô (4)
Thu phong lạc nhật giai hương vọng
Lưu thủy phù vân thất bá đồ
Tôn sách Lưu phân hà xứ tại (5)
Thương nhiên nhất vọng tận bình vu

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Trông vời đất Sở

Kinh, Tương nghìn dặm hai đất kinh đô nổi tiếng thời xưa
Một nửa sông bao quanh, một nửa là hồ
Trời cho giàu mạnh, đem cung ứng cho chiến tranh trăm trận
Đất để chừa khoảng trống giới hạn Tam Ngô
Gió thu lúc mặt trời lặn ngóng quê nhà
Nước trôi mây nổi, sạch hết mưu đồ làm bá làm vua
Đâu rồi đất Tôn Quyền tranh giành với Lưu Bị?
Trông chỉ thấy xanh um một vùng cỏ hoang

Dịch thơ: Trông vời đất Sở

Kinh, Tương nghìn dặm cựu danh đô
Một nửa bọc sông, một nửa hồ
Giàu mạnh trời cho, nuôi bách chiến
Quanh co đất vạch, rõ Tam Ngô
Gió thu ngày xế vời quê cũ
Nước chảy mây trôi sạch bá đồ
Đâu đất Tôn, Lưu giành giựt mãi
Một vùng cây cỏ mọc hoang vu

Đặng Thế Kiệt dịch

Chú thích:

(1) Sở: Tên một nước lớn thời Chiến Quốc.
(2) Kinh: Châu thứ nhất trong Cửu Châu 九州.
(3) Tương: Đất Tương Dương 襄陽, nay ở tỉnh Hồ Bắc 湖北.
(4) Tam Ngô: Ba miền nước Ngô: Ngô Hưng 吳興, Ngô Quận 吳郡 và Cối Kê 會稽 thời Tam Quốc 三國.
(5) Tôn Lưu: Tức Tôn Quyền 孫權 và Lưu Bị 劉備, cùng tranh đất Kinh Châu 荊州.

***
Lỗi Dương (1) Ðỗ Thiếu Lăng (2) mộ (I)
Mộ Ðỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương (I)

耒陽杜少陵墓

天古文章天古師
平生佩服未常離
耒陽松柏不知處
秋浦魚龍有所思
異代相憐空灑淚
一窮至此豈工詩
掉頭舊症醫痊未
地下無令鬼輩嗤

Phiên âm: Lỗi Dương (1) Ðỗ Thiếu Lăng (2) mộ (I)

Thiên cổ văn chương thiên cổ si (sư)
Bình sinh bội phục vị thường ly
Lỗi Dương tùng bách bất tri xứ
Thu phố ngư long hữu sở ti (3) (tư)
Dị đại tương liên không sái lệ
Nhất cùng chí thử khởi công thi (4)?
Trạo đầu cựu chứng y thuyên vị?
Ðịa hạ vô linh quỉ bối xuy.

Nguyễn Du


Dịch nghĩa: Mộ Ðỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương (I)

Văn chương lưu muôn đời, bậc thầy muôn đời
Bình sinh bái phục không lúc nào ngớt
Cây tùng cây bá ở Lỗi Dương, không biết ở nơi nào?
Cá rồng trong bến thu, còn có chỗ để tưởng nhớ
Ở hai thời đại khác nhau, thương nhau, luống lơi lệ
Cùng khổ đến thế há phải bởi tại thơ hay?
Chứng bệnh lắc đầu ngày trước, bây giờ đã khỏi chưa?
Dưới địa phủ đừng để cho lũ quỉ cười
Dịch thơ: Mộ Ðỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương (I)

Thơ thiên cổ cũng thầy thiên cổ,
Vốn một lòng ngưỡng mộ bấy nay.
Lỗi Dương tùng bá đâu đây?
Cá rồng thu lạnh sông đầy nhớ thương,
Há văn chương lụy người đến thế?
Chạnh nghìn xưa dòng lệ khôn ngăn,
Lắc đầu bệnh cũ còn chăng?
Suối vàng chớ để mấy thằng quỉ trêu.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, Paris, France, 1995, trang 199-201).

Chú thích:

(1) Lỗi Dương: ở tỉnh Hồ Nam. Năm Ðại Lịch thứ 6 (771) đời vua Ðường Ðại Tôn 唐文宗, Ðỗ Phủ ở Hồ Nam lưu lạc đến Hồ Bắc. Một hôm đến huyện Lỗi Dương lên núi yết Nhạc miếu, bị nước lụt dâng ngót 10 hôm không trở về được. Quan huyện Lỗi Dương nghe tin bèn thân hành đưa thuyền đến đón. Về đến huyện, Ðỗ uống rượu say rồi mất. Gia đình nghèo không đưa hài cốt về quê được phải táng ở Lỗi Dương. Bốn mươi năm sau (813) cháu là Ðỗ Tự Nghiệp mới dời di hài về chôn gần mả tổ tại núi Thú Dương, tỉnh Hà Nam. Nguyễn Du sang sứ Trung Quốc năm 1813, tức là một nghìn năm sau khi mả của Ðỗ Phủ đã dời về núi Thú Dương. Cho nên không còn ai biết nền cũ nằm ở chỗ nào.

(2) Ðỗ Thiếu Lăng: chỉ Ðỗ Phủ 杜甫 (712-770), một thi bá đời Thịnh Ðường. Vì có nhà ở đất Thiếu Lăng 少陵, phía nam Trường An 長安, tỉnh Thiểm Tây 陝西 nên có biệt hiệu là Thiếu Lăng.

(3) Hữu sở ti: trong bài "Thu hứng 秋興 (số 4)" của Ðỗ Phủ có câu: Ngư long tịch mịch thu giang lãnh, Cố quốc bình cư hữu sở ti 魚龍寂寞秋江冷, 故國平居有所思 nghĩa là: 'Cá rồng vắng vẻ sông thu lạnh, Thong thả lòng thêm nhớ cố hương'. Nguyễn Du đã đúc hai câu làm một, vừa để nói lên nỗi lòng của Ðỗ Phủ ngày xưa, vừa tỏ tấm tình của mình khi đến viếng mộ: Mộ tuy không còn thấy, nhưng vẫn còn có chỗ để gởi lòng kính thương kính mộ là những áng thơ tuyệt tác như câu 'Ngư long ...'

(4) Công thi: câu này vừa khóc Ðỗ Phủ vừa than nỗi mình.

***

Lỗi Dương (1) Ðỗ Thiếu Lăng (2) mộ (II)

耒陽杜少陵墓

每讀儒冠多誤身
天年一哭杜陵人
文章光燄成何用
男女呻吟不可聞
共羨詩名師百世
獨悲異域寄孤墳
扁舟江上多秋思
悵望耒陽日暮雲

Phiên âm: Lỗi Dương (1) Ðỗ Thiếu Lăng (2) mộ (II)

Mỗi độc nho quan đa ngộ thân (3)
Thiên niên nhất khốc Ðỗ Lăng nhân
Văn chương quang diệm thành hà dụng
Nam nữ thân ngâm (4) bất khả văn
Cộng tiển thi danh sư bách thế
Ðộc bi dị vực ký cô phần (5)
Biên chu giang thượng đa thu tứ
Trướng vọng Lỗi Dương nhật mộ vân.

Nguyễn Du

Dịch thơ: Mộ Ðỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương (II)

Mỗi lần đọc 'Mũ nho thân lụy',
Lại khóc thương người cũ Ðỗ Lăng.
Ích gì ngời sáng thơ văn,
Bầy con kêu đói sao đành lòng đây?
Ai cũng khen thơ thầy muôn thuở,
Riêng ta thương phần mộ đìu hiu.
Thuyền sông thu nhớ thêm nhiều,
Buồn trông theo đám mây chiều Lỗi Dương.

Đặng Thế Kiệt dịch

Chú thích:
(1) Lỗi Dương: ở tỉnh Hồ Nam. Năm Ðại Lịch thứ 6 (771) đời vua Ðường Ðại Tôn 唐文宗, Ðỗ Phủ ở Hồ Nam lưu lạc đến Hồ Bắc. Một hôm đến huyện Lỗi Dương lên núi yết Nhạc miếu, bị nước lụt dâng ngót 10 hôm không trở về được. Quan huyện Lỗi Dương nghe tin bèn thân hành đưa thuyền đến đón. Về đến huyện, Ðỗ uống rượu say rồi mất. Gia đình nghèo không đưa hài cốt về quê được phải táng ở Lỗi Dương. Bốn mươi năm sau (813) cháu là Ðỗ Tự Nghiệp mới dời di hài về chôn gần mả tổ tại núi Thú Dương, tỉnh Hà Nam. Nguyễn Du sang sứ Trung Quốc năm 1813, tức là một nghìn năm sau khi mả của Ðỗ Phủ đã dời về núi Thú Dương. Cho nên không còn ai biết nền cũ nằm ở chỗ nào.

(2) Ðỗ Thiếu Lăng: chỉ Ðỗ Phủ 杜甫 (712-770), một thi bá đời Thịnh Ðường. Vì có nhà ở đất Thiếu Lăng 少陵, phía nam Trường An 長安, tỉnh Thiểm Tây 陝西 nên có biệt hiệu là Thiếu Lăng.

(3) Nho quan đa ngộ thân: đây là một câu thơ trong bài 'Phụng tặng Vi Tả thừa trượng thập nhị vận' của Ðỗ Phủ.

(4) Nam nữ thân ngâm: trong bài 'Càn Nguyên trung ngụ Ðồng Cốc huyện tác ca thất thủ' (Năm Càn Nguyên ở huyện Ðồng Cốc, làm bảy bài ca) có đoạn tả cảnh mùa đông, Ðỗ Phủ đầu bạc tóc rối đi đào khoai rừng. Nhưng tuyết xuống nhiều quá, phải về không: 'Nam nữ thân ngâm tứ bích tịch' (Con trai gái kêu đói, bốn vách lặng ngắt). Nguyễn Du, trong tập "Nam Trung tạp ngâm" 南中雜吟, bài "Ngẫu đề" 偶題 có một câu tương tự: Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc 十口啼饑橫北. Quách Tấn dịch là: 'Mười miệng đòi cơm ngoài cõi bắc' (Tố Như thi, Quách Tấn trích dịch, An Tiêm tái bản, Paris, France, 1995, trang 140).

(5) Ký cô phần: xem chú thích (1).

***

064
Đăng Nhạc Dương (1) lâu

登岳陽樓

危樓峙高岸
登臨何壯哉
浮雲三楚盡
秋水九江來
往事傳三醉
故鄉空一涯
西風倚孤檻
鴻雁有餘哀

Phiên âm: Đăng Nhạc Dương (1) lâu

Nguy lâu trĩ cao ngạn
Đăng lâm hà tráng tai
Phù vân Tam Sở (2) tận
Thu thủy cửu giang (3) lai
Vãng sự truyện tam túy (4)
Cố hương không nhất nhai
Tây phong ỷ cô hạm
Hồng nhạn hữu dư ai

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Lên lầu Nhạc Dương

Lầu cao ngất sừng sững trên bờ cao
Lên cao nhìn xuống, cảnh thật hùng tráng
Mây nổi khắp vùng Tam Sở
Nước thu từ chín sông đổ về
Truyện xưa truyền lại (Lã Đồng Tân) đã say ba lần ở đây
Quê hương một góc trời không
Gió tây thổi, một mình dựa lan can
Chim hồng chim nhạn kêu thêm buồn

Dịch thơ: Lên lầu Nhạc Dương

Lầu cao sừng sững bờ cao
Lên cao hùng tráng biết bao cảnh trời
Mây tràn Tam Sở khắp nơi
Chín sông thu đổ nước vời mênh mông
Ba lần say Lã Đồng Tân
Cố hương khuất áng mây Tần xa xa
Hắt hiu gió thổi mình ta
Chim hồng, chim nhạn bóng tà kêu thương

Đặng Thế Kiệt dịch

Chú thích:
(1) Nhạc Dương lâu: Lầu ở huyện Nhạc Dương, tỉnh Hồ Nam 湖南, nhìn ra hồ Động Đình 洞庭.
(2) Tam Sở: Tức Đông Sở 東楚, Tây Sở 西楚 và Nam Sở 南楚.
(3) Cửu giang: Chín con sông đổ về hồ Động Đình 洞庭.
(4) Tam túy : Ba lần say. Lã Đỗng Tân 呂洞賓 đời Đường thi hỏng, được Chung Ly Quyền dạy thuật trường sinh. Người đời liệt Lã Đỗng Tân vào hàng Bát Tiên 八仙. Ông có hai câu thơ: "Tam túy Nhạc Dương nhân bất thức, Lãng ngâm phi quá Động Đình hồ" 三醉岳陽人不識, 朗吟飛過洞庭湖 (Ba lần say ở Nhạc Dương mà không ai biết, Ngâm tràn, bay suốt Động Đình hồ).

***
Nhiếp Khẩu (1) đạo trung
(Trên đường Nhiếp Khẩu)

灄口道中

秋滿楓林霜葉紅
小猧嗥出短籬東
數畦秔稻雞豚外
一帶茅茨楊柳中
鴻嶺隔年虛宿夢
白頭千里走秋風
茫然不辨還鄉路
觸目浮雲處處同

Phiên âm: Nhiếp Khẩu (1) đạo trung

Thu mãn phong lâm (2) sương diệp hồng
Tiểu oa hào xuất đoản ly đông
Sổ huề canh đạo kê đồn ngoại
Nhất đái mao tì dương liễu trung
Hồng Lĩnh cách niên hư túc mộng
Bạch đầu thiên lý tẩu thu phong
Mang nhiên bất biện hoàn hương lộ
Xúc mục phù vân xứ xứ đồng

Nguyễn Du

Dịch nghĩa: Trên đường Nhiếp Khẩu

Thu ngập rừng phong, sương nhuộm đỏ lá
Tiếng chó con sủa rộn nơi rào thấp phía đông
Vài thửa ruộng lúa tám còn thêm gà lợn
Một dãy nhà tranh trong hàng dương liễu
Xa núi Hồng Lĩnh một năm trời, chỉ mộng mị suông
Ðầu tóc trắng chạy nghìn dặm trước gió thu
Mờ mịt không còn nhận ra dường trở lại quê nhà
Mây nổi ngợp mắt, đâu cũng như đâu

Dịch thơ: Trên đường Nhiếp Khẩu

Thu ngậm rừng phong lá đỏ sương
Chó con sủa rộn mé rào đông
Vài sào lúa tám thêm gà lợn
Một dãy nhà tranh khuất bóng dương
Tóc trắng gió thu ngàn dặm ruổi
Non Hồng mộng mị cách năm trường
Mênh mang mây nổi trào lên mắt
Lấp dấu đường quê lạc cố hương

Đặng Thế Kiệt dịch

Chú thích:

(1) Nhiếp Khẩu: Thị trấn ở cửa sông Nhiếp Giang, phía đông thành Vũ Hán. Nguyễn Du qua đây vào lúc mùa thu chín. Những túp lều tranh, ruộng lúa, gà lợn, tiếng chó sủa vang bên hàng giậu: cảnh làng mạc Trung Hoa mang ít nhiều hơi hướm Việt Nam.

(2) Lâm phong: Rừng phong. Truyện Kiều: "Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san".

***

068
Lí gia trại (1) tảo phát

李家寨早發

晓色何滄茫
初日隱山腹
路上人旣行
枝頭鳥猶宿
萬古一紅塵
其中皆碌碌
犬噬竹村中
定有高人屋

Phiên âm: Lí gia trại (1) tảo phát

Hiểu sắc hà thương mang
Sơ nhật ẩn sơn phúc
Lộ thượng nhân kí hành
Chi đầu điểu do túc
Vạn cổ nhất hồng trần
Kì trung giai lục lục
Khuyển phệ trúc thôn trung
Định hữu cao nhân ốc

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Từ trại nhà họ Lý ra đi sớm

Sắc trời ban mai thật là bát ngát
Mặt trời mới mọc còn nấp trong lòng núi
Trên đường, người đã đi
Đầu cành, chim còn ngủ
Muôn thuở một đám bụi hồng
Trong đó mọi người bận rộn
Tiếng chó sủa trong xóm trúc
Chắc có nhà của bậc cao nhân

Dịch thơ: Từ trại nhà họ Lý ra đi sớm

Mặt trời còn trong núi
Người đã bước lên đàng
Đầu cành chim ngái ngủ
Muôn thuở áng bụi hồng
Trong đó người tất tả
Thôn trúc, chó kêu gần
Chắc có cao nhân ở

Đặng Thế Kiệt dịch

Chú thích:

(1) Lý gia trại: Trại nhà họ Lý, chắc đoàn sứ Nguyễn Du đã ghé qua đêm.

(con tiep)

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.