Mar 24, 2019

Cổ thi Việt Nam

Thơ Chữ Hán - Bắc Hành Tạp Lục 北 行 雜 錄 (1)
Nguyễn Du (1766 - 1820) * đăng lúc 03:43:04 PM, Jul 07, 2008 * Số lần xem: 2845
Thơ Chữ Hán - Bắc Hành Tạp Lục 北 行 雜 錄 (1)
Tập Bắc Hành Tạp lục gồm :
*

Long thành cầm giả ca
Lạng thành đạo trung
Lưu biệt cựu khế Hoàng
Nam Quan đạo trung
Minh Giang chu phát
Hoàng Sào binh mã
Ninh Minh giang chu hành
Vọng quan âm miếu
Tam Giang khẩu đường dạ bạc
Chu hành tức sự
Thái Bình mại ca giả
Sơn Đường dạ bạc
Ðề Ðại Than Mã Phục Ba miếu
Vãn há Ðại Than, tân lạo bạo trướng, chư hiểm câu thất
Hạ than hỷ phú

Thương Ngô tức sự
Thương Ngô mộ vũ
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài I)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài II)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài III)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài IV)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài V)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài VI)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài VII)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài VIII)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài IX)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài X)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài XI)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài XII)
Thương Ngô Trúc Chi ca (bài XIII-XIV-XV)
Ngũ nguyệt quan cạnh độ
Dương Phi cố lý
Triệu Vũ đế cố cảnh
Bất tiến hành
Tam liệt miếu
Quế Lâm Cù Các Bộ
Quế Lâm công quán
Quá Thiên Bình
Vọng Tương Sơn tự
Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch
Tương Giang dạ bạc
Phản Chiêu hồn
Biện giả
Trường Sa Giả Thái Phó

Sơ thu cảm hứng
Sở vọng
Lỗi Dương Ðỗ Thiếu Lăng mộ (bài 1)
Lỗi Dương Ðỗ Thiếu Lăng mộ (bài 2)
Đăng Nhạc Dương lâu
Nhiếp Khẩu đạo trung
Lí gia trại tảo phát
Vũ Thắng quan
Tín Dương tức sự
Ngẫu hứng
Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm Hầu
Độ Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng
Hà Nam đạo trung khốc thử
Cựu Hứa đô
Âu Dương Văn Trung Công mộ
Bùi Tấn Công mộ
Hoàng Hà
Hoàng Hà trở lạo
Tỷ can mộ
Trở binh hành
Kê Thị trung từ
Đồng Tước đài
Thất thập nhị nghi trủng
Lạn Tương Như cố lí
Hàm Đan tức sự
Hàn Tín giảng binh xứ
Liêm Pha bi
Tô Tần đình (bài 1)
Tô Tần đình (bài 2)

Dự Nhượng kiều chủy thủ hành
Dự Nhượng kiều
Kinh Kha cố lí
Đế Nghiêu miếu
Lưu Linh mộ
Kỳ lân mộ
Yển Thành Nhạc Vũ Mục ban sư xứ
Ðông lộ
Quản Trọng Tam Quy đài
Vinh Khải Kì thập tuệ xứ
Kê Khang cầm đài
Đông A sơn lộ hành
Sở Bá Vương mộ (bài 1)
Sở Bá Vương mộ (bài 2)
Liễu Hạ Huệ mộ
Từ Châu đạo trung
Nhị Sơ cố lý
Từ Châu đê thượng vọng
Từ Châu dạ
Á Phụ mộ
Chu Lang mộ
Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài
Tổ Sơn đạo trung
Nhạc Vũ Mục mộ
Tần Cối tượng (bài 1)
Tần Cối tượng (bài 2)
Vương Thị tượng (bài 1)
Vương Thị tượng (bài 2)
An Huy đạo trung
Đào Hoa dịch đạo trung
Tiềm Sơn đạo trung
Tây Hà dịch
Sở kiến hành
Đồ trung ngẫu hứng
Hoàng Mai sơn thượng thôn
Hoàng Mai đạo trung
Chu phát

***
*
Long Thành cầm giả ca


001 龍城琴者歌

小引

龍城琴者。不知姓氏。聞其幼年從學撥阮琴於黎宮花嬪部中。
西山兵起。舊樂死散。其人流落市廛。挾技以遨。屬散部。
所彈皆御前供奉曲。非外人所聞。遂稱一時絕技。余少時。
探兄抵京。旅宿鑑湖店。其傍西山諸臣大集女樂。
名姬不下數十。其人獨以阮琴聲擅場。頗能歌。作俳諧語。
一坐盡顚倒。數賞以大白。輒盡。纏頭無算。金帛委積滿地。
余時匿身暗中。不甚明白。後見之兄處。短身闊臉。額凸面凹。
不甚麗。肌白而體豐。善修飾。淡眉濃粉。衣以紅翠綃裳。
綽綽然有餘韻。性善飲。喜浪謔。眼矐矐。眶中無一人。
在兄家每飲輒盡醉。嘔吐狼藉。臥地上。同輩非之。不恤也。
後數載。余從家南歸。不到龍城若十年矣。今春將奉命北使。
道經龍城。諸公辱餞于宣撫衙。畢召在城女樂。少姬數十。
並不識名面。迭起歌舞。繼聞琴聲清越。迥異時曲。心異之。
視其人。顏瘦神枯。面黑。色如鬼。衣服並粗布。敗灰色。
多白補。默坐席末。不言亦不笑。其狀殆不堪者。
不復知爲誰何。惟於琴聲中似曾相識。側然于心。席散。
質之樂人。即其人也。嗟乎。是人何至此耶。俯仰徘徊。
不勝今昔之感。人生百年。榮辱哀樂其可量耶。別後。一路上。
深有感焉。因歌以托興。

龍城佳人
姓氏不記清
獨善阮琴
舉城之人以琴名
學得先朝宮中供奉曲
自是天上人間第一聲
余憶少年曾一見
鑑湖湖邊夜開宴
此時三七正芳年
紅妝奄曖桃花面
酡顏憨態最宜人
歷亂五聲隨手變
緩如疏風渡松林
清如雙鶴鳴在陰
烈如薦福碑頭碎霹靂
哀如莊舃病中爲越吟
聽者靡靡不知倦
便是中和大內音
西山諸臣滿座盡傾倒
徹夜追歡不知飽
左拋右擲爭纏頭
泥土金錢殊草草
豪華意氣凌王侯
五陵少年不足道
幷將三十六宮春
活做長安無價寶
此席回頭二十年
西山敗後余南遷
咫尺龍城不復見
何況城中歌舞筵
宣撫使君爲余重買笑
席中歌妓皆年少
席末一人髮半花
顏瘦神枯形略小
狼藉殘眉不飾妝
誰知就是當時城中第一妙
舊曲聲聲暗淚垂
耳中靜聽心中悲
猛然億起二十年前事
鑑湖席中曾見之
城郭推移人事改
幾處桑田變蒼海
西山基業盡消亡
歌舞空遺一人在
瞬息百年能幾時
傷心往事淚沾衣
南河歸來頭盡白
怪底佳人顏色衰
雙眼瞪瞪 空想像
可憐對面不相知

Phiên âm: Long Thành cầm giả ca

Tiểu dẫn

Long Thành Cầm giả, bất tri tính thị.
Văn kì ấu niên tòng học bát Nguyễn cầm (1)
ư Lê cung Hoa tần bộ trung. Tây Sơn binh khởi,
cựu nhạc tử tán, kì nhân lưu lạc thị triền,
hiệp kĩ dĩ ngao, thuộc tản bộ. Sở đàn giai
ngự tiền cung phụng khúc, phi ngoại nhân sở văn,
toại xưng nhất thời tuyệt kĩ. Dư thiểu thời,
thám huynh để kinh, lữ túc Giám hồ (3) điếm.
Kì bàng Tây Sơn chư thần đại tập nữ nhạc,
danh cơ bất hạ sổ thập. Kì nhân độc dĩ Nguyễn
cầm thanh thiện trường. Phả năng ca, tác bài
hài ngữ, nhất tọa tận điên đảo. Sác thưởng
dĩ đại bạch, Triếp tận, triền đầu vô toán,
kim bạch ủy tích mãn địa. Dư thời nặc
thân ám trung, bất thậm minh bạch. Hậu kiến
chi huynh xứ, đoản thân khoát kiểm, ngạch đột
diện ao, bất thậm lệ, cơ bạch nhi thể phong,
thiện tu sức, đạm mi nùng phấn, ý dĩ hồng
thúy tiêu thường, xước xước nhiên hữu dư vận.
Tính thiện ẩm, hỉ lãng hước, nhãn hoắc hoắc,
khuông trung vô nhất nhân. Tại huynh gia mỗi
ẩm triếp tận túy, ẩu thổ lang tạ, ngọa địa
thượng, đồng bối phi chi bất tuất dã. Hậu
sổ tải, Dư tòng gia nam quy, bất đáo Long
Thành nhược thập niên hĩ. Kim xuân tương
phụng mệnh Bắc sứ, đạo kinh Long Thành.
Chư công nhục tiễn vu Tuyên phủ (9) nha,
tất triệu tại thành nữ nhạc, thiếu cơ sổ thập,
tịnh bất thức danh diện, điệt khởi ca vũ, kế văn
cầm thanh thanh việt, quýnh dị thời khúc, tâm
dị chi. Thị kì nhân, nhan sấu thần khô, diện hắc,
sắc như quỷ, y phục tịnh thô bố, bại hôi sắc,
đa bạch bổ, mặc tọa tịch mạt, bất ngôn diệc bất
tiếu, kì trạng đãi bất kham giả, bất phục tri
vi thùy hà. Duy vu cầm thanh trung tự tằng
tương thức, trắc nhiên vu tâm. Tịch tán,
chất chi nhạc nhân, tức kì nhân dã. Ta hồ!
Thị nhân hà chí thử da! Phủ ngưỡng bồi hồi,
bất thắng kim tích chi cảm. Nhân sinh bách niên,
vinh nhục ai lạc, kì khả lượng da. Biệt hậu,
nhất lộ thượng, thâm hữu cảm yên,
nhân ca dĩ thác hứng.

Long Thành giai nhân

Tính thị bất kí thanh
Độc thiện Nguyễn cầm (1)
Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh
Học đắc tiên triều cung trung Cung phụng khúc
Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh
Dư ức thiểu niên tằng nhất kiến
Giám hồ hồ biên dạ khai yến
Kì thì tam thất chính phương niên
Hồng trang yểm ái đào hoa diện
Đà nhan hám thái tối nghi nhân
Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến
Hoãn như sơ phong độ tùng lâm
Thanh như song hạc minh tại âm
Liệt như Tiến Phúc bi (4) đầu toái tích lịch
Ai như Trang Tịch (5) bệnh trung vi việt ngâm
Thính giả mĩ mĩ bất tri quyện
Tiện thị Trung Hòa (6) đại nội âm
Tây Sơn chư thần mãn tọa tận khuynh đảo
Triệt dạ truy hoan bất tri bão
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
Hào hoa ý khí lăng vương hầu
Ngũ lăng (7) niên thiếu bất túc đạo
Tịnh tương tam thập lục (8) cung xuân
Hoạt tố Trường An vô giá bảo
Thử tịch hồi đầu nhị thập niên
Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên
Chỉ xích Long Thành bất phục kiến
Hà huống thành trung ca vũ diên
Tuyên Phủ (9) sứ quân vi dư trùng mãi tiếu
Tịch trung ca kĩ giai niên thiếu
Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa
Nhan sấu thần khô hình lược tiểu
Lang tạ tàn mi bất sức trang
Thùy tri tựu thị đương niên thành trung đệ nhất diệu
Cựu khúc thanh thanh ám lệ thùy
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
Giám hồ tịch trung tằng kiến chi
Thành quách suy di nhân sự cải
Ki xứ tang điền biến thương hải
Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong
Ca vũ không di nhất nhân tại
Thuấn tức bách niên năng kỉ thì
Thương tâm vãng sự lệ triêm y
Nam Hà quy lai đầu tận bạch
Quái để giai nhân nhan sắc suy
Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng
Khả liên đối diện bất tương tri

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Bài ca về người gảy đàn đất Long Thành

Tiểu dẫn
Người gảy đàn đất Long Thành ấy, tên họ là gì
không rõ. Nghe nói lúc nhỏ nàng học đàn Nguyễn
nơi đội nữ nhạc trong cung vua Lê. Binh Tây
Sơn dấy lên, các đội nhạc cũ lớp chết lớp
bỏ đi. Nàng lưu lạc ở các chợ, ôm đàn gảy dạo.
Những bản đàn do nàng gảy là những khúc
trong cung phụng gảy cho vua nghe, người
ngoài không ai biết. Cho nên tài danh của nàng
lừng lẫy một thời.
Buổi thiếu niên, đến kinh đô thăm anh, tôi trọ
gần Giám hồ. Cạnh đó các quan Tây Sơn tập hộo
nữ nhạc, danh cơ không dưới vài chục. Nàng ăn
đứt mọi người với cây đàn Nguyễn, lại hát hay
và khéo nói khôi hài. Cử tọa đều say mê điên
đảo đua nhau ban thưởng. Những chén rượu
thưởng to lớn, nàng nhận uống cạn. Tiền
thưởng nhiều vô số. Vàng lụa chồng chất
đầy cả đất. Lúc bấy giờ tôi núp trong bóng tối,
trông thấy nàng không rõ lắm. Sau gặp lại
ở nhà anh tôi. Nàng người thấp má bầu,
trán giô, mặt gẫy. Không đẹp lắm, nhưng da
trắng trẻo, khéo trang điểm, mày thanh, má phấn,
áo màu hồng, quần sắc túy, hớn hở có bề phong tao.
Tánh lại hay rượu, ưa hí hước. Đôi mắt long
lanh không để một ai vào tròng. Khi ở nhà anh
tôi, mỗi lần uống rượu, năng uống say vùi, nôn mửa bừa bãi, nằm lăn trên đất,
bạn bè chê trách, không lấy làm điều.
Sau đó vài năm, tôi dời nhà vào Nam, ngót
mấy năm liền không trở lại Long Thành.
Mùa xuân năm nay, phụng mệnh đi sứ Trung Quốc,
tôi đi ngang qua Long Thành. Các bạn mở tiệc
tiễn tôi tại dinh Tuyên Phủ, có gọi vài
chục nữ nhạc, tôi đều không quen mặt biết tên.
Tiệc khởi múa hát. Kế đến tiếng đàn trổi lên,
nghe trong trẻo khác thường không chút giống
thời khúc. Lòng tôi kinh dị. Nhìn người gảy đàn,
thì thấy thân gầy, thân khô, mặt đen, sắc trông
như quỷ, áo quần toàn vải thô, bạc màu lại
vá nhiều mảnh trắng, ngồi lầm lì ở cuối chiếu,
không nói cũng không cười, hình trạng thật
khó coi. Tôi không biết là ai, nhưng nghe
tiếng đàn thì dường như có quen, nên động
lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi thăm thì ra
là người trước kia đã gặp.
Than ôi! Người ấy sao đến nỗi thế này!
Cúi ngửa bồi hồi, nghĩ đến cảnh cổ kim,
lòng tôi cảm kích vô hạn. Đời người trăm năm,
những cảnh vinh nhục buồn vui thật sao không
lường được! Sau khi từ biệt,
trên đường đi, cảm thương khôn nén,
nên soạn bài ca để gửi hứng:

Người đẹp đất Long Thành

Không nghe tên họ
Riêng thạo đàn Nguyễn
Người trong thành bèn lấy chữ Cầm mà đặt tên.
Nàng học được khúc Cung Phụng trong cung
tiền triều (2)
Đó là những khúc đàn hay nhất trời đất.
Tôi nhớ lúc thiếu thời đã gặp một lần
Bên bờ hồ Giám trong một cuộc dạ yến,
Lúc đó nàng khoảng hai mươi mốt tuổi,
Áo hồng ánh lên mặt hoa đào,
Má hừng rượu, vẻ ngây thơ, rất dễ thương,
Năm cung réo rắt, theo ngón tay mà thay đổi điệu.
Tiếng khoan như gió thoảng qua rừng thông,
Tiếng trong như đôi hạc kêu trên cao thẳm,
Tiếng lạnh như sét đánh tan bia Tiến Phúc,
Tiếng buồn như Trang Tịch ngâm tiếng Việt
lúc bệnh,
Người nghe say sưa không biết mỏi,
Đó là những khúc đàn trong đại nội Trung Hòa.
Các quan Tây Sơn trong tiệc đều say mê điên đảo,
Mải vui suốt đêm không biết chán.
Bên tả bên hữu tranh nhau vãi thưởng,
Tiền bạc coi rẻ như đất bùn.
Ý khí đào hoa át cả các bậc vương hầu,
Đám thiếu niên đất Ngũ Lăng không đáng kể.
Tưởng chừng ba mươi sáu cung xuân,
Chung đúc một vật báu vô giá đất Trường An.

Nhớ lại từ bữa tiệc ấy đến nay đã hai mươi năm,
Sau khi Tây Sơn bại vong, tôi vào Nam,
Long Thành trong gang tấc không được thấy lại,
Huống hồ tiệc múa hát ở trong thành.
Quan Tuyên Phủ vì tôi bày cuộc mua cười,
Trong đám ca kĩ đều trẻ tuổi.
Duy ở cuối chiếu có một nàng tóc đã hoa râm.
Mặt gầy thần khô hình bé nhỏ,
Đôi mày phờ phạc không điểm tô,
Ai biết đó là người trước kia nổi danh tài
hoa đệ nhất trong một thời,
Khúc xưa đàn lên, tôi tuôn nước mắt ngầm
theo từng tiếng.
Tai lắng nghe mà lòng chua xót!
Bỗng nhớ lại chuyện hai mươi năm xưa
Đã từng thấy trong chiếu tiệc bên hồ Giám.
Thành quách suy dời, việc người đổi,
Bao nương dâu đã biến thành biển xanh.
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan sạch,
Trong làng múa hát còn sót lại một người!

Trăm năm thấm thoát trong một hơi thở một nháy mắt
Cảm thương việc cũ lệ thấm áo
Từ Nam trở về, đầu tôi bạc trắng!
Không trách người đẹp nhan sắc suy tàn.
Hai mắt trừng trừng luống tưởng lại chuyện cũ
Khá thương giáp mặt nhau mà không nhận được nhau!
(Quách Tấn dịch xuôi)

Dịch thơ: Người đẹp đất Long Thành

Tên họ chi ta không biết rõ
Thạo Nguyễn cầm nên có tên Cầm
Khúc kia Cung Phụng nhất trần
Ngày thơ được học nhạc thần chầu vua
Đã một lần thuở xưa gặp gỡ
Bên bờ hồ cuộc dạ yến sang
Tuổi hai mươi mốt cô nàng
Mặt hoa áo thắm còn tham rượu nồng
Theo ngón tay năm cung réo rắt
Tiếng khoan như gió mát rừng thông
Hạc kêu cao thẳm: tiếng trong
Mạnh như sét đánh vỡ tung bia mồ
Buồn: Trang Tịch ngâm thơ tiếng Việt
Người nghe say chẳng biết mỏi a
Khúc đâu đại nội Trung Hòa
Tây Sơn quan chức nghe mà đảo điên
Mải vui suốt cả đêm không chán
Hai bên người tranh cạnh thưởng tài,
Tiền như bùn đất vãi rơi.
Đào hoa ý khí vượt nơi vương hầu
Đám Ngũ Lăng còn đâu đáng kể
Băm sáu cung xuân để mà coi
Đúc chung vật báu trên đời
Của kia vô giá đất trời Trường An
Nay đã hai mươi năm tiệc ấy
Sau Tây Sơn chiến bại, vào Nam
Long Thành chẳng thấy tấc gang
Huống chi tiệc múa mơ màng thành xưa
Quan Tuyên Phủ vui mua cuộc hát
Đám ca cơ tươi mát xuân xanh
Mà sao một mái hoa râm
Mặt gầy khô héo nhỏ thân hình hài
Không điểm tô nét mày phờ phạc
Ai biết từng đệ nhất tài danh
Khúc xưa réo rắt dây đàn
Nghe tuôn nước mắt từng làn âm thanh
Tai lắng nghe mà đành chua xót
Hai mươi năm chuyện trước là đây
Bên hồ chiếu tiệc mê say
Đã từng gặp gỡ những ngày thơ ngây
Thành quách suy việc thay người đổi
Bao nương dâu thành bãi biển xanh
Tây Sơn cơ nghiệp tan tành
Trong làng múa hát còn đành một ai
Một cuộc thế không đầy chớp mắt
Cảm việc xưa lệ ướt áo này
Từ Nam về tóc trắng mây
Trách chi người đẹp tàn phai má đào
Trừng trừng hai mắt nhìn nhau
Cố nhân chẳng biết khác nào người dưng

Đặng Thế Kiệt dịch thơ

*

Chú thích:

(1) Đàn Nguyễn: Đàn Nguyệt. Gọi như vậy là vì
đàn nguyệt do Nguyễn Hàm, một trong thất hiền
vườn Trúc đời Tấn sáng chế.

(2) Tiền Triều: Triều nhà Lê. Vì lúc đó
thuộc triều Tây Sơn.

(3) Giám hồ: Hồ Hoàn Kiếm.

(4) Bia Tiến Phúc: Bia dựng ở Nhiêu Châu,
tỉnh Giang Tây, chữ rất đẹp. Đời nhà Tống
có một người học trò nghèo dâng lên
Phạm Trọng Yêm một bài thơ. Để giúp đỡ,
Phạm cho phép người học trò rập một nghìn
bản chữ bia để bán lấy tiền. Người học trò
vừa đến nơi thì bia bị trời đánh vỡ tan.

(5) Trang Tịch: Người nước Việt,
làm quan nước Sở. Ngày thường nói tiếng Sở,
nhưng lúc bệnh năng thường ngâm
thơ bằng tiếng nước Việt.

(6) Đại nội Trung Hòa: Cung nhà Lê.

(7) Ngũ Lăng: Địa danh, có năm lăng tẩm
của các vua nhà Hán. Nơi đây, bọn hào hoa
phú quý thường tụ hội.

(8) Tam thập lục cung: Trong đền vua ngày
xưa bên Tàu có 36 cung chứa đầy mĩ nữ.

(9) Quan Tuyên Phủ: Quan Trấn thủ.

***
Lạng thành (1) đạo trung


諒城道中

群峰湧浪石鳴濤
蛟有幽宮鵑有巢
泉水合流江水闊
子山不及母山高
團城雲石夕相候
鴻嶺親朋日漸遙
怪得柔情輕割斷
筐中攜有筆如刀

Phiên âm: Lạng thành (1) đạo trung

Quần phong dũng lãng thạch minh đào
Giao hữu u cung, quyên hữu sào
Tuyền thủy hợp lưu giang thủy khoát
Tử sơn bất cập mẫu sơn cao
Ðoàn thành vân thạch tịch tương hậu
Hồng lĩnh thân bằng nhật tiệm dao
Quái đắc nhu tình khinh cát đoạn
Khuông trung huề hữu bút như đao

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Trên đường đi Lạng thành

Núi non trập trùng, gió thổi vào đá,
nghe như sóng vỗ.
Ở đây, thuồng luồng có hang kín,
đỗ quyên cũng có tổ.
Nước suối ở đây hợp lại thành sông rộng.
Núi con không cao bằng núi mẹ.
Mây đá Đoàn thành chiều hôm nay như
có ý đợi ta.
Thân bằng cố hữu ở núi Hồng Lĩnh càng
ngày càng xa cách.
Quái lạ, nỗi nhớ nhung lại dễ cắt đứt.
Khi tráp có ngọn bút thay đao (để khuây khỏa).

Dịch thơ: Trên đường đi Lạng thành

Núi trập trùng, sóng kêu trên đá
Tổ nương chim, hang đã có rồng
Suối gom dòng nhỏ thành sông
Núi con đọ núi Mẹ không cao bằng
Chiều Lạng Sơn, mây giăng đá ngóng
Hồng Lĩnh thân sao chóng cách xa
Lạ chưa, dứt nhẹ tình nhà
Ðoạn sầu ngọn bút theo ta bạn đường ...

Đặng Thế Kiệt dịch

*

Chú thích:

(1) Lạng thành: Lạng sơn.

***

Lưu biệt cựu khế Hoàng

留別舊契黃

卅年故友重逢日
萬里前途一蹴初
道路日來情未竟
雲山別後意何如
悵然分手重關外
老矣全身百戰餘
他日南歸相會訪
六頭江上有樵漁

Phiên âm: Lưu biệt cựu khế Hoàng

Tạp niên cố hữu trùng phùng nhật
Vạn lý tiền đồ nhất xúc sơ
Đạo lộ nhật lai tình vị cánh
Vân sơn biệt hậu ý hà như
Trướng nhiên phân thủ trùng quan ngoại
Lão hỹ toàn thân bách chiến dư
Tha nhật nam quy tương hội phỏng
Lục Đầu giang thượng hữu tiều ngư.

Nguyễn Du


Dịch nghĩa: Từ biệt bạn cũ họ Hoàng

Ngày gặp lại người bạn cũ ba mươi năm về trước
Cũng là ngày tôi lên đường đi vạn dặm
Chưa kể hết những nỗi dọc đường những ngày gần đây
Ở giữa núi mây, sau khi từ giã, ý bạn ra sao?
Buồn biết bao cảnh chia tay ngoài quan ải
Già mừng còn được toàn thân dù đã từng trăm trận đánh
Mai này trở về Nam, gặp lại muốn hỏi thăm nhau.
Chắc bấy giờ trên sông Lục Đầu, bạn sẽ là một bác tiều phu, hay người đánh cá.

Dịch thơ: Từ biệt bạn cũ họ Hoàng

Ba mươi năm cũ gặp đây,
Lên đường vạn dặm cũng ngày tôi đi.
Tình thâm ơi, biết nói gì,
Núi mây ly biệt ý thì ra sao?
Muôn trùng quan ải tay chào,
Mừng người bách chiến không sao tuổi già.
Về Nam mai mốt lân la,
Lục Ðầu bến nước hỏi tra ngư tiều.

Đặng Thế Kiệt dịch
***

Nam Quan đạo trung

南關道中

玉書捧下五雲端
萬里單車渡漢關
一路偕來愯白髮
二旬所見但青山
君恩似海毫無報
春雨如膏骨自寒
王道蕩平休問訊
明江北上是長安

Phiên âm: Nam Quan đạo trung

Ngọc thư (1) phủng há ngũ vân đoan (2)
Vạn lý đan xa độ Hán quan (3)
Nhất lộ giai lai duy bạch phát
Nhị tuần sở kiến đãn thanh san
Quân ân tự hải hào vô báo
Xuân vũ như cao cốt tự hàn
Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn
Minh Giang (4) bắc thướng thị Trường An (5)

Nguyễn Du


Dịch nghĩa: Trên đường Nam Quan

Chiếu của nhà vua từ tầng mây năm sắc ban xuống
Trên đường muôn dặm, chiếc xe lẻ loi vượt cửa ải nhà Hán.
Suốt dọc đường cùng ta chỉ có mái tóc bạc
Cả hai mươi ngày chỉ thấy núi xanh
Ơn vua như biển chưa mảy may báo đáp
Mưa xuân như mỡ lạnh buốt xương
Ðường của nhà vua rộng rãi bằng phẳng, thôi hỏi thăm chi nữa
Theo dòng Minh Giang lên hướng bắc, ấy là Trường An

Dịch thơ: Trên đường Nam Quan

Tầng mây năm sắc chiếu vua ban
Muôn dặm xe đơn vượt Hán quan
Một mạch đường dài trơ tóc bạc
Hai mươi ngày mỏi rặt non xanh
Mưa xuân như mỡ, xương thêm buốt
Ơn nước bằng trời, nợ nặng mang
Rộng phẳng đường vua thôi thắc mắc
Minh Giang lên bắc ấy Trường An

Đặng Thế Kiệt dịch
*
Chú thích:

(Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Nhà xuất bản Văn Học, Việt Nam, 1999)

(1) Ngọc thư: Sắc chiếu nhà vua.

(2) Ngũ vân đoan: Mây năm sắc. Ý nói lệnh đi sứ.

(3) Hán quan: Cửa ải trên đường sang Trung quốc.

(4) Minh Giang: Tên con sông phát nguyên từ núi Phân Mao, tỉnh Quảng Ðông. Sông chia làm hai ngả bắc nam. Ngả nam chia ranh giới Việt Nam và Trung Hoa.

(5) Trường An: Tức Yên Kinh (Bắc Kinh). Trường An chỉ là tiếng nói kinh đô nói chung.

***
Minh Giang (1) chu phát (


明江舟發
簫鼓鼕鼕初出門
萬山中斷一槎奔
浮雲乍散石容瘦
新潦初生江水渾
別後關山思弟妹
望中岩岫見兒孫
日斜莫向華山過
怕有聲聲腸斷猿

Phiên âm: Minh Giang (1) chu phát

Tiêu cổ đông đông sơ xuất môn
Vạn sơn trung đoạn nhất tra bôn
Phù vân sạ tán thạch dung sấu
Tân lạo sơ sinh giang thủy hồn
Biệt hậu quan sơn tư đệ muội
Vọng trung nham tụ kiến nhi tôn
Nhật tà mạc hướng Hoa Sơn quá
Phạ hữu thanh thanh trường đoạn vôn (viên).

Nguyễn Du


Dịch thơ: Thuyền ra đi trên sông Minh Giang

Chiêng trống thùng thùng ra cửa sông,
Một thuyền lướt sóng giữa muôn trùng.
Mây tan bất chợt hao gày núi,
Nước lụt mới về vẩn đục dòng.
Dặm biệt, anh em đà tưởng nhớ,
Ðá chồng, con cháu cứ ngờ trông.
Hoa Sơn chớ vượt khi chiều xế,
Sợ vẳng bên tai vượn não nùng

Đặng Thế Kiệt dịch

*

Chú thích:

(1) Minh Giang: Tên con sông phát nguyên từ núi Phân Mao, tỉnh Quảng Ðông. Sông chia làm hai ngả bắc nam. Ngả nam chia ranh giới Việt Nam và Trung Hoa. Ðoàn sứ Nguyễn Du đi theo sông này qua núi Hoa Sơn, thuộc tỉnh Quảng Tây, lên phía bắc.

***
Hoàng Sào (1) binh mã

黄巢兵馬

大小花山數里分
黄巢遺蹟在江津
豈知金統秦中帝
乃出孫山榜外人
悞國每因拘限量
窮时自可變風雲
遠來擬問千年事
舡戶搖頭若不聞

阮攸

Phiên âm: Hoàng Sào (1) binh mã

Đại tiểu Hoa Sơn (1) sổ lí phân
Hoàng Sào di tích tại giang tân
Khởi tri Kim Thống (2) Tần Trung đế
Nãi xuất Tôn Sơn (2) bảng ngoại nhân
Ngộ quốc mỗi nhân câu hạn lượng
Cùng thời tự khả biến phong vân
Viễn lai nghĩ vấn thiên niên sự
Hang hộ diêu đầu nhược bất văn

Nguyễn Du

Dịch nghĩa: Binh mã của Hoàng Sào

Đại Hoa Sơn và Tiểu Hoa Sơn cách nhau mấy dặm
Di tích Hoàng Sào còn để ở bến sông
Đâu ngờ vua Kim Thống đất Tần Trung
Lại là người lọt bảng Tôn Sơn (thi rớt)
Lỡ việc nước vì câu nệ hẹp hòi
Lúc cùng người ta có thể biến đổi gió mây
Khách xa đến hỏi chuyện nghìn năm trước
Nhà thuyền lắc đầu làm như không nghe

Dịch thơ: Binh mã Hoàng Sào

Hai dãy Hoa Sơn mấy dặm trông
Hoàng Sào còn để vết bên sông
Lên ngôi Kim Thống, làm vua chúa
Thua hạng Tôn Sơn, lọt bảng rồng
Thói hẹp làm hư nền xã tắc
Thế cùng đảo lộn bước thành công
Khách xa hỏi chuyện nghìn năm trước
Ngơ ngác nhà thuyền ậm ự ... không

Đặng Thế Kiệt dịch

*
Chú thích:

(1) Hoàng Sào: Ở dãy núi Hoa Sơn, trên bờ sông Minh Giang, tỉnh Quảng Tây, vẫn còn những vết đỏ hình người và ngựa, tục truyền đó là binh mã của Hoàng Sào. Hoàng Sào, người đời Đường, thi tiến sĩ, có tài, nhưng bị quan trường câu nệ hẹp hòi đánh rớt, vì tướng mạo quá xấu. Hoàng Sào bất mãn, nổi dậy đánh thắng vua Đường Huy Tông, làm Hoàng đế ở Tần Trung (nay là tỉnh Thiểm Tây) 10 năm (875-884), niên hiệu Kim Thống.

(2) Kim Thống: Ông vua Kim Thống đó cũng chính là anh chàng lọt "ngoài bảng Tôn Sơn". Do tích Tôn Sơn, đời Tống, đi thi đậu hạng chót, trả lời thư bạn hỏi tin như sau : Giải danh tận xứ thị Tôn Sơn, Dư nhân cánh tại Tôn Sơn ngoại (Cuối bảng tên là Tôn Sơn, Có người còn ở ngoài Tôn Sơn nữa).
*

014 Ninh Minh giang (1) chu hành

寧明江舟行

粵西山中多澗泉
千年合注成一川
自高而下如潑天
灘上何所聞
應龍激怒雷田田
灘下何所見
弩機劇發矢離絃
一瀉萬里無停堙
高山夾岸如牆垣
中有怪石森森然
有如龍蛇虎豹牛馬羅其前
大者如屋小如拳
高者如立低如眠
直者如走曲如旋
千形萬狀難盡言
蛟螭出沒成重淵
湧濤噴沫日夜爭豗喧
夏潦初漲沸如煎
一行三日心懸懸
心懸懸多所畏
危乎殆哉汩沒無底
共道中華路坦平
中華道中夫如是
窩盤屈曲似人心
危亡傾覆皆天意
高才每被文章妒
人肉最爲魑魅喜
風波那得儘能平
忠信到頭無足恃
不信出門皆畏途
試望滔滔此江水

Phiên âm: 014 Ninh Minh giang (1) chu hành

Việt Tây sơn trung đa giản tuyền
Thiên niên hợp chú thành nhất xuyên
Tự cao nhi hạ như bát thiên
Than thượng hà sở văn?
Ưng long kích nộ lôi điền điền
Than hạ hà sở kiến?
Nỗ cơ kịch phát thỉ ly huyền
Nhất tả vạn lý vô đình yên
Cao sơn giáp ngạn như tường viên
Trung hữu quái thạch sâm sâm nhiên
Hữu như long, xà, hổ, báo, ngưu, mã la kỳ tiền
Ðại giả như ốc, tiểu như quyền
Cao giả như lập, đê như miên
Trực giả như tẩu, khúc như tuyền
Thiên hình vạn trạng nan tận ngôn
Giao ly xuất một thành trùng uyên
Dũng đào phún mạt nhật dạ tranh hôi huyền
Hạ lạo sơ trướng phí như tiên
Nhất hành tam nhật tâm huyền huyền
Tâm huyền huyền đa sở úy
Nguy hồ đãi tai cốt một vô để
Cộng đạo Trung Hoa lộ thản bình
Trung Hoa đạo trung phù như thị
Oa bàn khuất khúc tự nhân tâm
Nguy vong khuynh phúc giai thiên ý
Cao tài mỗi vị văn chương đố
Nhân nhục tối vi si mị hỉ
Phong ba na đắc tẫn năng bình
Trung tín (2) đáo đầu vô túc thị
Bất tín "xuất môn giai úy đồ"
Thí vọng thao thao thử giang thủy

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Đi thuyền trên sông Ninh Minh

Trong núi miền Việt Tây có nhiều khe suối
Nghìn năm hợp lại thành một sông
Như nước rót xuống từ trời cao
Trên thác nghe thấy gì?
Rồng hiện giận dữ, sấm động ầm ầm
Máy nỏ bật mạnh, tên vút khỏi dây
Một dòng vạn dặm không ngừng
Núi cao bên bờ như bức tường
Trong có đá hình thù kỳ dị chen chúc
Như rồng, rắn, hổ, báo, trâu, ngựa la liệt trước phía trước
Lớn như nhà, nhỏ bằng nắm tay
Cao như đứng, thấp như ngủ
Thẳng như chạy, cong như xoay vòng
Muôn hình vạn trạng khó nói hết
Thuồng luồng, ly long ra vào thành vực thẳm
Sóng vỗ bọt phun ngày đêm ầm ĩ
Lụt mùa hè vừa dâng nước sôi sục
Ði một mạch ba ngày, lòng chơi vơi
Lòng chơi vơi vì sợ hãi
Thiệt là nguy hiểm chìm sâu không đáy
Mọi người đều nói đường đi Trung Hoa bằng phẳng
Ðường Trung Hoa như thế này ư !
Sâu hiểm quanh co như lòng người
Nguy vong nghiêng đổ đều do ý trời
Tài cao thường bị văn chương ganh ghét
Thịt người là thứ ma quỷ thích nhất
Sóng gió làm sao yên cho hết
Giữ trung tín rốt cục không đủ cậy nhờ
Ai không tin rằng "ra ngoài cửa mọi đường đều đáng sợ"
Thì hãy thử nhìn nước sông cuồn cuộn đó

Dịch thơ: Đi thuyền trên sông Ninh Minh

Núi Việt Tây có nhiều khe suối
Bao nhiêu năm tụ hội thành sông
Trời cao đổ xuống đùng đùng
Từ trên thác tựa như rồng nổi cơn
Nghe như thể ầm ầm sấm nổ
Vuột khỏi dây tên nỏ bật tung
Một dòng vạn dặm không ngừng
Bên bờ núi dựng như tường chênh vênh
Ở trong nước đá hình quái lạ
Như rắn, rồng, hổ, báo, trâu, ngựa liệt la
Nhỏ tay nắm, lớn như nhà
Cao như đứng, thấp như là ngủ say
Cong như xoay, thẳng như đuổi chạy
Muôn vẻ kỳ nói mấy cho vừa
Thuồng luồng vực thẳm ghê chưa
Ngày đêm ầm ĩ sóng đùa bọt phun
Lụt mùa hè nước dâng sôi sục
Ði ba ngày một mạch, chơi vơi
Chơi vơi vì sợ ai ơi
Nước sâu không đáy đi đời nhà ma
Mọi người nói Trung Hoa bằng phẳng
Ðường Trung Hoa thật chẳng ai ngờ
Như lòng người lắm quanh co
Nguy vong nghiêng đổ đều do ý trời
Văn chương đời tài cao hay ghét
Thịt người ma quỷ thích vô cùng
Làm sao yên lặng bão bùng
Giữ trung tín mấy cũng không đủ nhờ
Không tin "ra cửa, nguy cơ"
Nhìn sông cuồn cuộn đó ngờ nữa thôi!

Đặng Thế Kiệt dịch

*
Chú thích:

(1) Ninh Minh Giang: Tức Minh Giang, khi chảy qua huyện Ninh Minh thì gọi là Ninh Minh giang.

(2) Trung tín: Lấy tích Đường Giới, người thời Tống, tính tình cương trực, phải biếm đi nơi hẻo lánh. Khi thuyền qua sông Hoài, sóng to gió lớn. Ông ngồi ngay ngắn đọc câu thơ: "Bình sinh thượng trung tín, Kim nhật nhiệm phong ba!" (Ngày thường giữ lòng trung tín, Bây giờ (thì) mặc sóng gió!).

***

Vọng Quan Âm miếu (trâng miếu Quan Âm

望觀音廟

伊誰絕境構亭臺
伐盡松枝墜鶴胎
石穴何年初鑿破
金身前夜卻飛來
停雲處處僧眠定
落日山山猿叫哀
一炷檀香消慧業
回頭已隔萬重崖

Phiên âm: Vọng Quan Âm miếu

Y thùy tuyệt cảnh cấu đình đài
Phạt tận tùng chi trụy hạc thai
Thạch huyệt hà niên sơ tạc phá
Kim thân (1) tiền dạ khước phi lai (2)
Ðình vân xứ xứ tăng miên định
Lạc nhật sơn sơn viên khiếu ai
Nhất chú đàn hương (3) tiêu tuệ nghiệp (4)
Hồi đầu dĩ cách vạn trùng nhai


Dịch nghĩa: Trông miếu Quan Âm

Ai người dựng nên đình đài ở chốn tận cùng này?
Chặt hết cành tùng, rớt trứng hạc
Hang đá, năm nào bắt đầu đục phá?
Tượng Phật (mình vàng) mới bay đến đêm qua
Khắp chốn mây ngừng trôi, sư yên giấc
Núi núi bóng chiều rơi, vượn kêu thương
Ðốt nén hương đàn để tiêu tan nghiệp chướng do trí tuệ gây ra
Quay đầu lại đã cách núi muôn trùng

Dịch thơ: Trông miếu Quan Âm

Ðình đài ai dựng tận nơi đây
Trứng hạc rơi tùng chặt hết cây
Hang đá năm nào vừa đục phá
Tượng vàng đêm trước mới qua bay
Mây ngưng chốn chốn sư an giấc
Chiều rụng non non vượn oán ai
Ðốt nén hương đàn tiêu tuệ nghiệp
Muôn trùng đã cách thoáng đầu quay

Chú thích :
(1) Kim thân: Mình vàng, chỉ tượng Phật.

(2) Phi lai: Do chữ "phi lai thạch". Lấy tích chùa Tương Sơn có hòn đá bay đến thành Phật.

(3) Ðàn hương: Hương làm bằng gỗ chiên đàn.

(4) Tuệ nghiệp: Nghiệp chướng do trí tuệ gây ra.

***

Tam Giang khẩu đường dạ bạc - Ðêm đậu thuyền ở cửa sông Tam Giang

三江口塘夜泊

西粵重山一水分
兩山相對石嶙峋
猿啼樹杪若無路
犬吠林中知有人
四望雲山人獨老
同舟胡越各相親
十年已失還鄉路
那得家鄉入夢頻

Phiên âm: Tam Giang khẩu đường dạ bạc

Tây Việt trùng sơn nhất thủy phân
Lưỡng sơn tương đối thạch lân tuân
Viên đề thụ diểu nhược vô lộ
Khuyển phệ lâm trung tri hữu nhân
Tứ vọng vân sơn nhân độc lão
Ðồng chu Hồ Việt các tương thân
Thập niên dĩ thất hoàn hương lộ
Nả đắc gia hương nhập mộng tần


Dịch nghĩa: Ðêm đậu thuyền ở cửa sông Tam Giang
Nơi núi non trập trùng ở Tây Việt, một dòng nước chia hai
Hai ngọn núi đối nhau, đá chồng chất
Vượn hú trên ngọn cây, tưởng như không có đường đi
Chó sủa trong rừng, biết là có người
Nhìn bốn bề đều là mây và núi, chỉ có người thấy già
Cùng thuyền, người Hồ kẻ Việt thân thiết với nhau
Mười năm đã mất đường về làng cũ
Sao được quê nhà đi vào trong mộng

Dịch thơ: Ðêm đậu thuyền ở cửa sông Tam Giang

Một dòng nước xẻ núi muôn trùng
Hai dãy nhìn nhau đá chất chồng
Vượn hú ngọn cây dường lạc lối
Chó kêu rừng thẳm chắc gần thôn
Núi mây bốn ngả tình cô quạnh
Hồ Việt chung thuyền mối thiết thân
Làng cũ mười năm quên mất hướng
Quê nhà nẻo mộng nhớ về thăm

Đặng Thế Kiệt dịch

***

Chu hành tức sự (Ði thuyền hứng viết)

舟行即事

西粵山川多險巇
行行從此向天涯
崩崖怪石怒相向
水鳥沙禽狎不飛
天地扁舟浮似葉
文章殘息弱如絲
爲憐上國風光好
關鎖鄉情未放歸

Phiên âm: Chu hành tức sự

Tây Việt (1) sơn xuyên đa hiểm hi
Hành hành tòng thử hướng thiên nhi (nhai)
Băng nhai quái thạch nộ tương hướng
Thủy điểu sa cầm hiệp bất phi
Thiên địa thiên chu phù tự diệp (2)
Văn chương tàn tức nhược như ti
Vị liên thượng quốc phong quang hảo
Quan tỏa hương tình vị phóng qui.

Nguyễn Du


Dịch nghĩa: Ði thuyền hứng viết

Núi sông Tây Việt nhiều hiểm trở
Từ đây cứ đi về hướng chân trời
Bờ núi lở, đá hình quái dị giận dữ nhìn nhau
Chim nước chim bãi cát dạn dĩ không bay
Chiếc thuyền con như chiếc là nổi giữa đất trời
Hơi tàn văn chương yếu ớt như sợi tơ
Vì yêu phong cảnh đẹp của thượng quốc
Nên khóa tình quê lại, chưa thả cho về

Dịch thơ: Ði thuyền hứng viết

Tây Việt non sông hiểm trở đầy,
Chân trời nhắm hướng kể từ đây.
Ðá kỳ núi quái nhìn hung tợn,
Chim nước cò bờ ngó chẳng bay.
Trời đất mênh mông thuyền lá nổi,
Văn thơ thoi thóp sợi tơ lay,
Bởi yêu phong cảnh xứ người đẹp,
Khóa chặt tình quê chửa vút bay.

Đặng Thế Kiệt dịch

*

Chú thích:

(1) Tây Việt: Vùng Quảng Tây 廣西.

(2) Phù tự diệp: Bùi Giáng dịch:
Thuyền con chiếc lá giữa trời,
'Thơ văn tiếng thở như lời tơ than.
'Trông vời hồng rụng ngổn ngang,
'Tìm đâu chốn cũ muôn vàn dưới kia.
Hai câu đầu rút từ bài ‘Chu hành tức sự ‘, hai câu sau từ bài ‘Dương Phi cố lý'. (Xem Tố Như thi trích dịch, Quách Tấn, An Tiêm tái bản, Paris, France, 1995, trang bìa 2).

***

Thái Bình mại ca giả -(Người hát rong ở thành Thái Bình)

太平賣歌者

太平瞽師粗布衣
小兒牽挽行江湄
云是城外老乞子
賣歌乞錢供晨炊
鄰舟時有好音者
牽手引上船窗下
此時船中暗無燈
棄飯潑水殊狼藉
摸索引身向坐隅
再三舉手稱多謝
手挽弦索口作聲
且彈且歌無暫停
聲音殊異不得辨
但覺嘹喨殊可聽
舟子寫字爲余道
此曲世民與建成
觀者十數並無語
但見江風蕭蕭江月明
口噴白沫手酸縮
卻坐斂弦告終曲
殫盡心力幾一更
所得銅錢僅五六
小兒引待下船來
猶且回顧禱多福
我乍見之悲且辛
凡人愿死不愿貧
只道中華盡溫飽
中華亦有如此人
君不見使船朝來供頓例
一船一船盈肉米
行人飽食便棄餘
殘肴冷飯沉江底

Phiên âm: Thái Bình mại ca giả

Thái Bình cổ sư thô bố y
Tiểu nhi khiên vãn hành giang mi
Vân thị thành ngoại lão khất tử
Mại ca khất tiền cung thần xuy
Lân chu thời hữu hiếu âm giả
Khiên thủ dẫn thướng thuyền song hạ
Thử thời thuyền trung ám vô đăng
Khí phạn bát thủy thù lang tạ
Mô sách dẫn thân hướng tọa ngung
Tái tam cử thủ xưng đa tạ
Thủ vãn huyền sách khẩu tác thanh
Thả đàn thả ca vô tạm đình
Thanh âm thù dị bất đắc biện
Ðãn giác liêu lượng thù khả thinh
Chu tử tả tự vị dư đạo
Thử khúc Thế Dân dữ Kiến Thành (1)
Quan giả thập số tịnh vô ngữ
Ðãn kiến giang phong tiêu tiêu giang nguyệt minh
Khẩu phún bạch mạt, thủ toan súc
Khước tọa, liễm huyền, cáo chung khúc
Ðàn tận tâm lực cơ nhất canh
Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục
Tiểu nhi dẫn đắc há thuyền lai
Do thả hồi cố đảo đa phúc
Ngã sạ kiến chi, bi thả tân
Phàm nhân nguyện tử bất nguyện bần
Chỉ đạo Trung Hoa tẫn ôn bão
Trung Hoa diệc hữu như thử nhân
Quân bất kiến sứ thuyền triêu lai cung đốn lệ
Nhất thuyền, nhất thuyền doanh nhục mễ
Hành nhân bão thực tiện khí dư
Tàn hào lãnh phạn trầm giang để.

Nguyễn Du

Dịch thơ: Người hát rong ở thành Thái Bình

Ở phủ Thái Bình có ông lão,
Hai mắt mù mặc áo vải thô.
Nắm tay trẻ dắt ngoại ô,
Ven sông hát dạo lần mò kiếm ăn.
Thuyền bên có kẻ ham nghe hát,
Dẫn ông già xuống sát cửa thuyền.
Lúc này thuyền tối không đèn,
Cơm thừa canh cặn đổ tràn tứ tung.
Lò dò vô trong cùng, một góc,
Hai ba lần lóc ngóc cám ơn.
Miệng ca, tay nắn dây đàn,
Một hơi đàn hát chẳng lần nghỉ ngơi.
Thanh âm lạ, lẽ lời không hiểu,
Lắng nghe ra thì điệu cũng hay.
Nhà thuyền viết chữ : "Khúc này"
"Thế Dân tranh đoạt quyền oai Kiến Thành".
Chục người xem mà đành phăng phắc,
Gió ru trăng vằng vặc trên sông.
Miệng sùi, tay mỏi lão ông,
Cất đàn, ngồi lại, thưa rằng đã xong.
Gần một canh, hết lòng hết sức,
Năm sáu đồng kiếm được thế thôi.
Ðứa em dẫn khỏi thuyền rồi,
Còn quay đầu lại gửi lời chúc may.
Chợt nhìn thấy cảnh này đau xót,
Phàm người ta chết tốt hơn nghèo.
Trung Hoa no ấm, nghe nhiều,
Trung Hoa cũng có người nghèo thế ư?
Kìa không thấy sứ từ xa lại,
Gạo thịt đầy thuyền cái thuyền con.
Người ăn no ứ vẫn còn,
Ðáy sông cơm ngọt món ngon đổ chìm.

Đặng Thế Kiệt dịch

*

Chú thích:

(1) Kiến Thành và Thế Dân: Con Ðường Cao Tổ 唐高祖. Kiến Thành 建成 là Thái tử. Thế Dân 世民 lập mưu giết Kiến Thành, đoạt ngôi Thái Tử, sau thành vua Ðường Thái Tông 唐太宗 (627-649).

***

Sơn Ðường Dạ Bạc(Ðêm đậu thuyền ở Sơn Ðường)

山塘夜泊

午夢醒來晚
斜日掩窗扉
風勁維船早
山高得月遲
倚篷千里望
合眼隔年思
莫近蒼崖宿
啼猿徹夜悲

Phiên âm: Sơn Đường dạ bạc

Ngọ mộng tỉnh lai vãn
Tà nhật yểm song phi
Phong kính duy thuyền tảo
Sơn cao đắc nguyệt trì
Ỷ bồng thiên lý vọng
Hợp nhãn cách niên ti (tư)
Mạc cận thương nhai túc
Ðề viên triệt dạ bi

Nguyễn Du


Dịch thơ: Ðêm đậu thuyền ở Sơn Ðường

Mộng trưa tỉnh giấc muộn
Bóng xế ngậm song tây
Gió mạnh neo thuyền sớm
Non cao ngắm trăng chầy
Dựa mui trông dặm trở
Chớp mắt nhớ năm đầy
Chớ ngủ gần bên núi
Thâu đêm vượn oán ai.

Đặng Thế Kiệt dịch

***

Ðề Ðại Than (1) Mã Phục Ba (2) miếu
(Ðề miếu Mã Phục Ba ở thác Ðại Than)

題大灘馬伏波廟

鑿通嶺道定炎墟
蓋世功名在史書
向老大年矜矍鑠
除衣食外盡嬴餘
大灘風浪留前烈
古廟松杉隔故閭
日暮城西荊棘下
淫潭遺悔更何如


Phiên âm: Ðề Ðại Than (1) Mã Phục Ba (2) miếu

Tạc thông lĩnh đạo định Viêm (3) khư
Cái thế công danh tại sử thư
Hướng lão đại niên căng quắc thước (4)
Trừ y thực ngoại tẫn doanh dư (5)
Ðại Than phong lãng lưu tiền liệt
Cổ miếu tùng sam cách cố lư
Nhật mộ thành tây (6) kinh cức hạ
Dâm Ðàm (7) di hối cánh hà như

Nguyễn Du


Dịch nghĩa: Ðề miếu Mã Phục Ba ở thác Ðại Than

Ðục xuyên qua đường Ngũ lĩnh, bình định cõi Nam
Công danh trùm đời ghi trên sử sách
Già lớn tuổi rồi còn khoe quắc thước
Ngoài cơm áo ra, mọi thứ là thừa
Sóng gió Ðại Than còn để dấu công oanh liệt thời trước
Cây tùng, cây sam ở ngôi miếu cổ xa cách quê nhà
Chiều tà dưới đám gai gọc phía tây thành
Nỗi hận ở Dâm Ðàm, sau cùng ra làm sao?

Dịch thơ: Ðề miếu Mã Phục Ba ở thác Ðại Than

Chiếm Nam đục núi đắp đường,
Công danh sử sách lẫy lừng khắc ghi.
Tuổi cao quắc thước khoe gì,
Ngoài cơm áo có cần chi với đời.
Ðại Than sóng gió một thời,
Miếu xưa tùng bách xa vời cố hương.
Tây thành gai góc tà dương,
Dâm Ðàm nỗi hận quay cuồng tới đâu?

Hạt Cát 79 dịch

*

Chú thích:
(1) Ðại Than: Một ghềnh lớn của sông Minh Giang hay Tả Giang. Truyền thuyết cho rằng Mã Viện đem quân sang nước ta đã phá thác, ghềnh để dễ đi thuyền. Cho nên những chỗ có ghềnh, thác trên các sông miền Nam Trung quốc đều có miếu thờ Mã Viện.

(2) Mã Phục Ba: Tức Mã Viện, danh tướng nhà Hán, thời vua Quang Vũ được phong là Phục Ba tướng quân

(3) Viêm: Nóng. Viêm bang chỉ những xứ nóng phía Nam Trung Hoa.

(4) Quắc thước: Mã Viện ngoài 60 tuổi còn xin vua đi đánh giặc. Vua Hán không cho, Viện mặc áo giáp nhảy lên ngựa. Vua cười khen : "Ông này quắc thước lắm!" (Quắc thước tại thị ông!).

(5) Tẫn doanh dư: Thiếu Dư, em họ của Mã Viện, nói : "Kẻ sĩ chỉ cần lo cơm áo cho đủ, ở quê hương trông nom mồ mả ruộng vườn. Cần gì vất vả đi kiếm công danh mà khổ thân".

(6) Thành Tây: Mộ Mã Viện chôn ở Tây Thành.

(7) Dâm Ðàm: Tên đầm. Mã Viện đem quân đánh Hai Bà Trưng mãi không được, phải lui quân về Lãng Bạc. Trời nóng bức, hơi độc từ hồ bốc lên, diều hâu bay không được. Viện hối hận đã không nghe lời em mình.

***

Vãn há Ðại Than, tân lạo bạo trướng, chư hiểm câu thất
(Chiều xuống Ðại Than, lũ mới trào về, tất cả các quãng nguy hiểm đều ngập nước)

晚下大灘新潦暴漲諸險俱失

銀河昨夜自天傾
江水茫茫江岸平
未信鬼神能相侑
盡敎龍虎失精靈
平居不會講忠信
到處無妨齊死生
更有險巇饒十倍
吾將何以叩神明


Phiên âm: Vãn há Ðại Than, tân lạo bạo trướng, chư hiểm câu thất

Ngân hà tạc dạ tự thiên khuynh
Giang thủy mang mang giang ngạn bình
Vị tín quỉ thần năng tướng hựu
Tẫn giao long hổ thất tinh linh
Bình cư bất hội giảng "trung tín" (1)
Ðáo xứ vô phương "tề tử sinh"
Cánh hữu hiểm hy nhiêu thập bội
Ngô tương hà dĩ khấu thần minh?


Nguyễn Du

Dịch nghĩa: Chiều xuống Ðại Than, lũ mới trào về, tất cả các quãng nguy hiểm đều ngập nước

Ðêm qua sông Ngân từ trời đổ xuống
Nước sông mênh mông, bờ sông ngập bằng
Chưa tin quỉ thần có thể giúp được gì
Ngay cả rồng cọp cũng hết linh thiêng
Ngày thường không thấu hiểu hai chữ "trung tín"
Thì đến đâu cũng không giải quyết được vấn đề "sống và chết"
Có chỗ hiểm nguy gấp mười
Ta sẽ lấy gì để cầu xin với thần minh?

Dịch thơ: Chiều xuống Ðại Than, lũ mới trào về, tất cả các quãng nguy hiểm đều ngập nước

Ngân hà trút xuống đêm qua,
Mênh mông sông nước gần xa không bờ.
Quỉ thần đâu đó bây giờ,
Rồng thiêng, cọp dữ cũng chờ bó tay.
"Tín Trung" không nghĩ thường ngày,
Thì "Sinh Tử" biết vần xoay đường nào.
Chỗ trăm lần hiểm cao sâu,
Lấy gì đây để rập đầu khấn xin!

Hạt Cát 79 dịch

*

Chú thích:

(1) Trung tín: Ðường Giới Tống nói : Bình sinh thượng trung tín, Kim nhật nhiệm phong ba (ngày thường giữ trung tín, hôm nay mặc kệ phong ba).

***

Hạ than (1) hỷ phú
(Mừng xuống khỏi thác)

下灘喜賦

心香拜禱將軍祠
一掉中流肆所之
到處江山如識趣
喜人蛇虎不施威
萬株松樹僧人屋
一帶寒煙燕子磯
寂寂船窗無箇事
漁歌江上看斜暉


Phiên âm: Hạ than (1) hỷ phú

Tâm hương bái đảo tướng quân tỳ (từ)
Nhất trạo trung lưu tứ sở chi
Ðáo xứ giang sơn như thức thú
Hỷ nhân xà hổ bất thi uy
Vạn châu tùng thụ tăng nhân ốc
Nhất đái hàn yên Yến Tử ky (cơ)
Tịch tịch thuyền song vô cá sự
Ngư ca giang thượng khán tà huy

Nguyễn Du


Dịch nghĩa: Tả nỗi mừng khi xuống thác

Tấm lòng thành dâng hương khấn trước đền tướng quân
Một thuyền giữa dòng nước mặc cho trôi đi
Ðến đâu cũng thấy sông núi như đã quen biết
Mừng cho người, hùm rắn đã không ra oai
Muôn cụm tùng kia là nơi nhà sư ở
Một dải khói lạnh, đó là Hòn Én
Lặng lẽ ngồi bên cửa thuyền, không làm gì cả
Nghe thuyền chài hát, ngắm chiều tà

Dịch thơ: Mừng xuống khỏi thác

Thành khẩn dâng hương vái trước đền,
Một thuyền theo nước cứ lênh đênh.
Mừng người rắn cọp không làm dữ,
Thích cảnh non sông như đã quen.
Muôn cụm tùng xanh sư trú ngụ,
Một Hòn Én lạnh khói dâng lên.
Bên song lặng lẽ không gì bận,
Nghe khúc chài ca, ngó nắng nghiêng.

Đặng Thế Kiệt dịch

*
Chú thích:

(1) Than: Ðại Than, một ghềnh lớn của sông Minh Giang hay Tả Giang. Truyền thuyết cho rằng Mã Viện đem quân sang nước ta đã phá thác, ghềnh để dễ đi thuyền. Cho nên những chỗ có ghềnh, thác trên các sông miền Nam Trung quốc đều có miếu thờ Mã Viện.


***
*

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.