Oct 23, 2019

Cổ thi Việt Nam

Thơ Chữ Hán - Nam Trung Tạp Ngâm 南中雜吟
Nguyễn Du (1766 - 1820) * đăng lúc 12:15:49 AM, Jul 07, 2008 * Số lần xem: 8290
Nam Trung Tạp Ngâm 南中雜吟

Phượng Hoàng lộ thượng tảo hành

Mộng đắc thái liên

Thu chí

Điệu khuyển

Ngẫu thư công quán bích

Ngẫu đề công quán bích (bài 1)
Ngẫu đề công quán bích (bài 2)
Tống nhân
Ngẫu đề
Tân thu ngẫu hứng
Tặng nhân
Thu nhật kí hứng
Ngẫu đắc
Thành hạ khí mã
Đại tác cửu thú tư quy


001

鳳凰路上早行

征夫懷往路
夜色尙蒙蒙
月落猿聲外
人行虎跡中
力衰常畏露
髮短不禁風
野宿逢樵者
相憐不在同

Phiên âm: Phượng Hoàng (1) lộ thượng tảo hành

Chinh phu hoài vãng lộ (2)
Dạ sắc thượng mông mông
Nguyệt lạc viên thanh ngoại
Nhân hành hổ tích trung
Lực suy thường úy lộ (3)
Phát đoản bất cấm phong
Dã túc phùng tiều giả
Tương liên bất tại đồng (4)

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Sáng sớm đi trên đường núi Phượng Hoàng

Khách lữ hành nghĩ đến con đường trước mặt
Sắc trời đêm vẫn còn mờ mờ
Trăn lặn ngoài nơi có tiếng vượn hú
Người đi trong chốn cọp in dấu chân
Sức yếu thường sợ sương móc
Tóc ngắn không ngại gió thổi
Đêm ngủ nơi đồng quê gặp người đốn củi
Thương nhau không vì chỗ giống nhau

Dịch thơ: Trên đường Phượng Hoàng

Nghĩ đường trước mặt mà lo,
Trời mai còn vướng lờ mờ bóng đêm.
Ngoài nơi vượn hú trăng chìm,
Trong nơi cọp dạo im lìm người đi.
Sương đầm những ngại lực suy,
Mái đầu tóc ngắn sợ gì gió tung.
Quán quê gặp gỡ tiều ông,
Thương nhau há tại cảnh đồng mà thương.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)




--------------------------------------------------------------------------------

Chú thích:

(1) Phượng Hoàng: Từ Hà Tĩnh đi vào có núi Phượng Hoàng. Năm Giáp Tý (1804) Nguyễn Du đương làm Tri phủ Thường Tín thì bị bệnh, xin từ chức. Về quê nghỉ được hơn một tháng lại có chỉ gọi vào Kinh. Bài này làm trên đường lai kinh và mở đầu cho tập Nam Trung Tạp Ngâm.

(2) Vãng lộ: Con đường sắp đi qua.

(3) Úy lộ: Chữ 露 "lộ" ở đây là sương móc. Có chỗ chép chữ 路 "lộ" là đường. Chép như thế không đúng, vì ở câu đầu đã nói đến 往路 "vãng lộ" rồi.

(4) Bất tại đồng: Thường thường thì "đồng bệnh tương liên". Nhưng đối với trường hợp này thì không đồng cảnh ngộ, không đồng tâm sự, nhưng vẫn thương nhau.


夢得採蓮

緊束蛺蝶裙
採蓮棹小艇
湖水何浺瀜
水中有人影

採採西湖蓮
花實俱上船
花以贈所畏
實以贈所憐

今晨去採蓮
乃約東鄰女
不知來不知
隔花聞笑語

共知憐蓮花
誰者憐蓮幹
其中有眞絲
牽連不可斷

蓮葉何青青
蓮花嬌盈盈
採之勿傷藕
明年不復生

阮攸

Phiên âm: Mộng đắc thái liên

Khẩn thúc kiệp điệp quần
Thái liên trạo tiểu đĩnh
Hồ thủy hà xung dung
Thủy trung hữu nhân ảnh

Thái thái Tây Hồ liên
Hoa thực câu thướng thuyền
Hoa dĩ tặng sở úy
Thực dĩ tặng sở liên

Kim thần khứ thái liên
Nãi ước đông lân nữ
Bất tri lai bất tri
Cách hoa văn tiếu ngữ

Cộng tri liên liên hoa
Thùy giả liên liên cán
Kì trung hữu chân ti
Khiên liên bất khả đoạn

Liên diệp hà thanh thanh
Liên hoa kiều doanh doanh
Thái chi vật thương ngẫu
Minh niên bất phục sinh

Nguyễn Du


Dịch nghĩa: Mộng thấy hái sen

Buộc chặt quần cánh bướm
Chèo thuyền con hái sen
Nước hồ sao lai láng
Trong nước có bóng người

Hái, hái sen Hồ Tây
Hoa và gương sen đều để trên thuyền
Hoa để tặng người mình trọng
Gương để tặng người mình thương

Sớm nay đi hái sen
Nên hẹn với cô láng giềng
Chẳng biết đến lúc nào không biết
Cách hoa nghe tiếng cười

Mọi người đều biết yêu hoa sen
Nhưng ai là kẻ yêu thân sen
Trong thân cây sen thật có tơ sen
Vương vấn không đứt được

Lá sen sao mà xanh xanh
Hoa sen đẹp đầy đặn
Hái sen chớ làm tổn thương ngó sen
Sang năm sen không mọc lại được

Dịch thơ: Mộng thấy hái sen

Buộc chặt quần cánh bướm
Chèo thuyền con hái sen
Nước hồ sao lai láng
Mặt nước bóng người in

Hái, hái, sen Hồ Tây
Hoa gương trên thuyền đầy
Hoa tặng người mình trọng
Gương tặng người mình say

Sáng nay đi hái sen
Hẹn cùng cô láng giềng
Đến lúc nào không biết
Nói cười sau khóm sen

Mọi người biết yêu sen
Ai người quý thân sen
Thân sen có tơ mịn
Vương vấn đứt sao nên

Lá sen, ôi, xanh xanh
Hoa mơn mởn xinh xinh
Hái sen đừng hại ngó
Sang năm hoa chẳng sinh

Đặng Thế Kiệt dịch

003 秋至

香江一片月
今古許多愁
往事悲青塚
新秋到白頭
有形徒役役
無病故拘拘
回首藍江浦
閒心謝白鷗

Phiên âm: Thu chí

Hương Giang (1) nhất phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa sầu
Vãng sự bi thanh trủng
Tân thu đáo bạch đầu
Hữu hình đồ dịch dịch (2)
Vô bệnh cố câu câu (3)
Hồi thủ Lam Giang phố (4)
Nhàn tâm tạ bạch âu (5)

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Thu đến

Sông Hương một mảnh nguyệt
Xưa nay gợi không biết bao nhiêu mối sầu
Chuyện cũ chạnh thương mồ cỏ xanh
Thu mới tới trên đầu tóc bạc
Có hình nên phải chịu vất vả
Không bệnh mà lưng vẫn khom khom
Ngoảnh đầu trông về bến sông Lam
Lòng nhàn xin tạ từ chim âu trắng

Dịch thơ: Thu đến

Sông Hương một mảnh nguyệt
Lai láng sầu cổ câm
Chuyện xưa mồ cỏ biếc
Thu mới tóc hoa râm
Có hình thân phải khổ
Không bệnh lưng vẫn khom
Bến Lam Giang ngoảnh lại
Bầy âu vui sớm hôm

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)




--------------------------------------------------------------------------------

Chú thích:



(1) Hương Giang: Con sông chảy giữa kinh thành Huế, một thắng cảnh của tỉnh Thừa Thiên. Năm Ất Sửu (1805), Nguyễn Du được thăng hàm Đông Các Điện Học Sĩ, tước Du Đức Hầu và làm việc tại KInh đô Huế. Nhưng lòng vẫn đeo nặng mối sầu thiên cổ.

(2) Đồ dịch dịch: Bắt buộc làm việc vất vả như ở trong quân lữ. Làm lụng vất vả.

(3) Câu câu: Bệnh gù lưng. Làm quan luôn luôn phải giữ vẻ khúm núm như là kẻ mắc bệnh gù lưng. Vẻ khúm núm của giới quan trường.

(4) Bất tại đồng: Thường thường thì "đồng bệnh tương liên". Nhưng đối với trường hợp này thì không đồng cảnh ngộ, không đồng tâm sự, nhưng vẫn thương nhau.

(5) Bạch âu: Bụng muốn nhàn nhưng đành phụ cùng đàn bạch âu.

004 悼犬

駿馬不老死
烈女無善終
凡生負奇氣
天地非所容
念爾屬所畜
與人毛骨同
貪進不知止
隕身寒山中
隕身勿嘆惋
數試無全功

Phiên âm: Điệu khuyển

Tuấn mã bất lão tử
Liệt nữ vô thiện chung
Phàm sinh phụ kì khí
Thiên địa phi sở dung
Niệm nhĩ thuộc sở súc
Dữ nhân mao cốt đồng
Tham tiến bất tri chỉ
Vẫn thân hàn sơn trung
Vẫn thân vật thán uyển
Sổ thí vô toàn công

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Điếu con chó chết

Ngựa hay không chết già
Người trinh liệt không chết yên lành
Phàm người sinh ra có khí phách khác thường
Trời đất không có chỗ dung túng
Nghĩ thương mày thuộc giống gia súc
Lông xương cũng đồng với loài người
Ham tiến không biết dừng
Bỏ mình trong núi lạnh
Bỏ mình chớ than tức
Bao lần thử sức không thành công

Dịch thơ: Điệu khuyển

Tuấn mã không chết già
Liệt nữ không chết yên
Phàm khí phách khác thường
Trời đất hay ghen tương
Thương mày giống gia súc
Cùng người đồng thịt xương
Ham tiến không biết thối
Bỏ mình rừng gió sương
Bỏ mình chớ than tức
Chẳng vẹn công đấu trường

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)


005 偶書公館壁

朝餐一盂飯
暮浴一盆水
閉門謝知交
開窗建荊杞
窗外荊杞蔓且長
美人悠悠隔高牆
杜宇一聲春去矣
魂兮歸來悲故鄉

Phiên âm: Ngẫu thư công quán bích

Triêu xan nhất vu phạn
Mộ dục nhất bồn thủy
Bế môn tạ tri giao
Khai song kiến kinh kỉ
Song ngoại kinh kỉ mạn thả trường
Mĩ nhân du du cách cao tường
Đỗ vũ nhất thanh xuân khứ hĩ
Hồn hề quy lai bi cố hương

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Tình cờ đề vách công quán

Sớm ăn một bát cơm
Chiều tắm một bồn nước
Đóng cửa tạ người quen
Mở cửa thấy cây kinh cây kỉ
Ngoài cửa sổ, cây kinh cây kỉ mọc tràn lan
Người đẹp vòi vọi cách tường cao
Cuốc kêu một tiếng xuân đi mất
Hồn ơi về đi thương cố hương

Dịch thơ: Tình cờ đề vách công quán

Sớm ăn một bát cơm
Chiều tắm một bồn nước
Đóng cửa tạ người quen
Hé song thấy gai góc
Gai góc ngoài song mọc ngổn ngang
Mĩ nhân vòi vọi cách cao tường
Cuốc kêu một tiếng xuân đi mất
Hồn hỡi! Về đi ... Thương cố hương

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)


006 偶題公館壁

[I]
閶闔門前春色闌
隔江遙對御屛山
春從江上來何處
人倚天涯滯一官
滿地繁聲聞夜雨
一床孤悶敵春寒
桃花莫仗東君意
傍有風姨性最酸

Phiên âm: Ngẫu đề công quán bích

[I]
Xương hạp (1) môn tiền xuân sắc lan
Cách giang diêu đối Ngự Bình (2) san
Xuân tòng giang thượng lai hà xứ
Nhân ỷ thiên nhai trệ nhất quan
Mãn địa phồn thanh văn dạ vũ
Nhất sàng cô muộn địch xuân hàn
Đào hoa mạc trượng đông quân ý
Bàng hữu phong di tính tối toan

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Tình cờ đề vách công quán

[bài 1]
Trước cửa rồng sắc xuân sắp tàn
Cách sông xa nhìn núi Ngự Bình
Xuân theo dòng sông đi về đâu?
Người nương chân trời lụn trệ vì một chúc quan
Đêm nghe tiếng mưa ồn ào đầy đất
Trên một giường, nỗi buồn cô đơn chống với khí lạnh của xuân
Hoa đào chớ cậy được Chúa Xuân yêu
Bên cạnh có Dì Gió tánh rất chua chua ngoa

Dịch thơ: Tình cờ đề vách công quán

Hầu nhạt màu xuân trước cửa rồng
Xanh xanh núi Ngự phía kia sông
Xuân theo ngọn nước về đâu tá?
Quan lụn chân trời nghĩ chán không!
Rả rích đêm dồn mưa nhẩy đất
Im lìm muộn chống lạnh qua song
Hoa đào chớ cậy Đông Quân mến,
Dì gió ghen tương chất chứa lòng

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)


Chú thích:


(1) Xương hạp môn: Cửa Vua.

(2) Ngự Bình: Một danh sơn ở Huế, đứng làm tiền án cho thành vua. Thành vua ở phía Bắc ngạn sông Hương, NGự Bình ở Nam ngạn.


007 偶題公館壁

[II]
東望江頭望故交
浮雲無定水滔滔
風吹古塚浮榮盡
日落平沙戰骨高
山月江風如有得
岩棲谷飲不辭勞
平生已絕雲霄夢
怕見傍人問羽毛

Phiên âm: Ngẫu đề công quán bích

[II]
Đông vọng giang đầu vọng cố giao
Phù vân vô định thủy thao thao
Phong xuy cổ trủng phù vinh (1) tận
Nhật lạc bình sa chiến cốt (2) cao
Sơn nguyệt giang phong như hữu đãi
Nham thê cốc ẩm bất từ lao
Bình sanh dĩ tuyệt vân tiêu mộng (3)
Phạ kiến bàng nhân vấn vũ mao

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Tình cờ đề vách công quán

[bài 2]
Đầu sông trông xuống đông là đất cũ
Đám mây lang thang, nước cuồn cuộn
Gió thổi nơi mồ xưa, bao nhiêu vinh hoa hư ảo tan hết
Bóng chiều trên bãi cát, xương chiến sĩ vun cao
Trăng núi gió sông như có lòng chờ đợi
Ở hang uống hố cũng không nề gian lao
Bình sinh đã dứt hẳn mộng lên mây xanh
Sợ thấy có người ở bên hỏi đến lông cánh

Dịch thơ: Tình cờ đề vách công quán

Trông vời quê cũ nước mông mênh
Cuồn cuộn mây theo sóng bập bềnh
Cát phẳng ngày tà vun chiến cốt
Mồ xưa gió lạnh lấp phù vinh
Gió sông trăng núi như chờ khách
Uống nước nằm hang cũng thỏa tình
Lông cánh những e người hỏi đến
Tung mây đã dứt mộng bình sinh

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)

Chú thích:


(1) Phù vinh: Vinh hoa phù phiếm. Tức là công danh phú quý trên đời như áng mây bay.

(2) Chiến cốt: Tàn tích của chiến tranh vẫn chưa lấp hết.

(3) Vân tiêu mộng : Mộng làm quan lớn.

008 送人

香芹官道柳青青
江北江南無限情
上苑鶯嬌多妒色
故鄕蓴老尙堪羹
朝庭有道成君孝
竹石多慚負爾盟
惆悵深宵孤對影
滿床滯雨不堪聽

Phiên âm: Tống nhân

Hương Cần (1) quan đạo liễu thanh thanh
Giang bắc giang nam vô hạn tình
Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc (2)
Cố hương thuần lão (3) thượng kham canh
Triều đình hữu đạo thành quân hiếu (4)
Trúc thạch (5) đa tàm phụ nhĩ minh
Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh
Mãn sàng trệ vũ (6) bất kham thinh

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Tiễn người đi

Trên đường cái quan Hương Cần liễu xanh xanh
Kẻ phía bắc sông, người phía nam sông, tình vô hạn
Những con oanh đẹp trong vườn vua ghen nhau vì sắc đẹp
Rau thuần già nơi quê cũ vẫn còn nấu canh được
Triều đình có đạo khiến anh tròn chữ hiếu
Rất thẹn cùng trúc đá vì lỗi lời thề
Bồi hồi ảo não, đêm sâu một mình đối bóng
Tiếng mưa dầm đầy giường nghe không chịu nổi

Dịch thơ: Tiễn bạn

Hương Cần đường liễu dập dờn xanh,
Bến bắc bờ nam bịn rịn tình.
Oanh trẻ vườn vua ganh ghét đẹp,
Thuần già quê cũ ngọt ngon canh.
Trân cam mừng bác thân lo vẹn,
Trúc thạch cười tôi nguyện chẳng thành.
Thổn thức giường khuya nương bóng lẻ,
Chẳng kham mưa gió sụt sùi canh.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)




--------------------------------------------------------------------------------

Chú thích:



(1) Hương Cần: Tên một làng cách Huế chừng bốn cây số về phía bắc. Con đường thiên lí chạy ngang qua đó. Làng nổi tiếng về quýt.

(2) Đa đố sắc: Hay ganh ghét nhau vì sắc đẹp. Ám chỉ các quan triều nhà Nguyễn thời bấy giờ, vì ganh tị nhau mà hãm hại nhau. Như vụ Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, vụ Lê Chất, Đặng Trần Thường, v.v.

(3) Thuần lão: Trương Hàn 張翰 đời Tấn làm quan ở Lạc Dương 洛陽, một hôm nhìn gió thu thổi, nhớ rau thuần gỏi cá lô ở quê nhà, liền bỏ quan về.

(4) Quân hiếu: Theo câu này thì người bạn của Nguyễn Du được triều đình cho cáo quan về phụng dưỡng cha mẹ già.

(5) Trúc thạch: Thú ẩn dật. Đã cùng khóm trúc tảng đá hẹn hò chung sống với nhau thế mà đành phụ để ra làm quan.

(6) Trệ vũ: Câu này vừa tả tình biệt li vừa tả nỗi lòng chua xót cho thân phận. Lại vừa tả cảnh đêm tiễn bạn đi, vừa tả cảnh tác giả đương sống ở kinh đô.

014 偶題

白地庭墀夜色空
深堂悄悄下簾櫳
丁東砧杵千家月
蕭索芭蕉一院風
十口啼饑橫嶺北
一身臥病帝城東
知交怪我愁多夢
天下何人不夢中

Phiên âm: Ngẫu đề

Bạch địa (1) đình trì dạ sắc không
Thâm đường tiễu tiễu hạ liêm long
Đinh đông (2) châm xử thiên gia nguyệt
Tiêu tác ba tiêu nhất viện phong
Thập khẩu (3) đề cơ Hoành Lĩnh bắc
Nhất thân ngọa bệnh Đế Thành (4) đông
Tri giao quái ngã sầu đa mộng
Thiên hạ hà nhân bất mộng trung

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Tình cờ đề vịnh

Thềm sân trống trơn chỉ có màu đêm bàng bạc
Nhà sâu thăm thẳm, rèm buông xuống
Dưới bóng trăng của nghìn nhà, tiếng chày dập vải nghe rộn rã
Một viện gió thổi, tàu chuối khua xào xạc tiêu điều
Phía bắc Hoành Sơn, mười miệng kêu đói
Gó đông thành vua, một thân nằm bệnh
Các bạn quen biết lấy làm lạ tại sao ta sầu mộng
Thiên hạ ai là người không ở trong mộng?

Dịch thơ: Tình cờ đề vịnh

Trống trải sân thềm đêm nhạt suông
Nhà sâu im ỉm bức rèm buông
Tiếng chày lan rộng trăng nghìn nóc
Tàu chuối đìu hiu gió một phòng
Mười miệng đòi cơm ngoài cõi Bắc
Một thân nằm bệnh cõi thành Đông
Người quen trách tớ hay sầu mộng
Thiên hạ còn ai tỉnh táo không?

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)


Chú thích:

(1) Bạch địa: Không có gì cả, trống trơn. Cũng như nói bạch đinh, bạch phủ, bạch diện, v.v. Chớ không phải đất trắng.

(2) Đinh đông: Tiếng lục lạc rung, tiếng chày nện, nghe nhịp nhàng, rộn rã.

(3) Thập khẩu: Mười miệng, tức 10 người. Nguyễn Du có 3 người vợ. Bà chánh thất sanh được 1 trai, bà kế thất sanh được một trai. Người thiếp sanh được 10 trai và 6 gái.

(4) Đế Thành: Thành Huế. NGuyễn Du vào làm quan ở Huế từ năm 1805 đến năm 1809 thì bổ ra Quảng Bình làm chức Cai Bạ.


016 新秋偶興

江城一臥閱三周
北望家鄉天盡頭
麗水錦山皆是客
白雲紅樹不勝秋
此身已作樊籠物
何處重尋汗漫遊
莫向天涯嘆淪落
何南今是帝王州

Phiên âm: 016 Tân thu ngẫu hứng

Giang thành (1) nhất ngọa duyệt tam chu
Bắc vọng gia hương thiên tận đầu
Lệ Thủy (2) Cẩm Sơn (2) giai thị khách
Bạch vân hồng thụ bất thăng thu
Thử thân dĩ tác phàn lung vật
Hà xứ trùng tầm hãn mạn du
Mạc hướng thiên nhai thán luân lạc
Hà Nam kim thị đế vương châu (4)

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Đầu thu tình cờ hứng bút

Nằm ở thành bên sông chốc đã ba năm tròn
Trông về bắc quê nhà ở tận cuối trời
Ở Lệ Thủy, Cẩm Sơn vẫn chỉ là khách
Mây trắng cây hồng bao xiết vẻ thu
Thân này đã làm vật trong lồng trong chậu
Còn tìm đâu lại cuộc chơi phóng đãng
Chớ nhìn chân trời mà than thân lưu lạc
Phía nam sông nay đã là đất của vua rồi.

Dịch thơ: Tân thu ngẫu hứng

Giang thành một đến ba xuân lụn
Ngoảnh lại gia hương nẻo mịt mù
Sông Lệ non Ngân đâu chẳng khách
Cây hồng mây trắng thảy đều thu
Chậu lồng vướng kiếp thôi đành đoạn
Sông nước vui chơi há dễ dầu
Luân lạc phương trời thôi chớ nghĩ
Bờ Nam đã thuộc đất Thần Châu.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)




--------------------------------------------------------------------------------

Chú thích:



(1) Giang thành: Thành bên sông. Đây là thành Động Hải bên sông Nhật Lệ, tức là thành Quảng Bình hiện giờ. Tại Quảng Bình, Nguyễn Du làm Cai Bạ gần bốn năm, từ 1809 đến 1813. Vậy bài này làm khoảng 1811-1812.

(2) Lệ Thủy, Cẩm Sơn: Sông Nhật Lệ và núi Cẩm Lý. Sông Nhật Lệ chảy ngang qua tỉnh lỵ, núi Cẩm Lý ở nơi ranh giới. Núi Cẩm Lý còn có tên là Ngân Sơn. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí chép rằng: "Xưa có người leo núi bị lạc đường, thoạt thấy một hòn núi sản xuất toàn bạch ngân, rất lấy làm lạ. Lúc trở về nói lại cùng người làng, rồi dẫn nhau theo đường cũ tìm lên núi thì mù mịt không thấy lối đi". Sách Ô Châu Cận Lục nói rằng: "Cẩm Lý chung linh, túc dĩ sản bạch ngân chi dị". Nghĩa là "Núi Cẩm Lý un đúc khí linh, nên sinh ra bạc trắng rất lạ". Đó là nói về núi này.

(3) Đế vương châu: Quảng Bình lúc bấy giờ là một trong bốn dinh lệ thuộc Kinh sư. Đế vương châu tức Kinh sư. Trong bài này tác giả tỏ ý chán việc làm quan muốn trở về vườn nhưng không thể về được vì tấm thân đã trở thành "chim lồng cá chậu" rồi. Rồi lại mượn cảnh Quảng Bình đã thuộc về Kinh sư, để ngụ ý rằng: "Thôi đừng than thở nữa, dù có về vườn cũng ở trong đất nhà vua. Tránh đâu cho khỏi nắng".

018 贈人

盈盈一水對孤村
中有高人不出門
蕉鹿夢場心不競
秦隋往事口能言
春雲滿徑群麋鹿
秋稻豋場督子孫
我欲掛冠從此逝
與翁壽歲樂琴樽

Phiên âm: Tặng nhân

Doanh doanh nhất thủy đối cô thôn
Trung hữu cao nhân bất xuất môn
Tiêu lộc (1) mộng trường tâm bất cạnh
Tần Tùy (2) vãng sự khẩu năng ngôn
Xuân vân mãn kính quần mi lộc
Thu đạo đăng trường đốc tử tôn
Ngã dục quải quan tòng thử thệ
Dữ ông thọ tuế lạc cầm tôn

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Tặng người

Một dòng sông đầy ngăn một xóm hẻo lánh
Trong đó có một cao sĩ không ra khỏi cửa
Giấc mộng "lá chuối dấu hươu" lòng không tranh đua
Chuyện cũ đời tần đời Tùy miệng vẫn kể lại được
Mây mùa xuân phủ đầy lối đi, làm bạn cùng hươu nai
Lúa mùa thu đầy đồng, lo đôn đốc con cháu
Ta muôan treo mũ ra về theo ý nguyện
Để cùng ông gảy đàn uống rượu vui hưởng tuổi già

Dịch thơ: Tặng nhân

Quanh co dòng biếc chắn thôn côi
Đóng cửa ngồi cao một bóng người
Hươu lá mộng đời lòng nguội hẳn
Tần Tùy chuyện cũ miệng bàn chơi
Giục lòng con cháu mùa sai lúa
Chung thú hươu nai buổi đẹp trời
Cũng muốn từ quan theo nguyện cũ
Cùng ông tuổi thọ rượu đàn vui

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)




--------------------------------------------------------------------------------

Chú thích:



(1) Tiêu lộc: Lá chuối và con nai. Sách Liệt Tử chép: Có người tiều phu thấy một con nai bị thợ săn đuổi chạy hoảng, bèn đón đường đánh chết. Vì mắc đi đốn củi chưa đem về được, phải đem dấu một nơi kín đáo và lấy lá chuối phủ kín. Lúc trở về quên lửng không biết dấu nơi nào, bèn cho là chuyện chiêm bao, vừa đi vừa kẩm bẩm kể câu chuyện. Một người đi đàng nghe kể lể, theo lối đó mà đi tìm thì thấy một con nai dấu dưới lá chuối. Về nhà bảo vợ: "Lúc nãy anh kiếm củi mộng bắt được con nai mà khôngbiết ở chỗ nào. Bây giờ ta tìm được nai thì kẻ kia là mộng thật". Vợ đáp: "Hay là chính anh mộng thấy người kiếm củi bắt được nai, chớ làm gì có người kiếm củi thật. Thế là anh mộng thật chăng?". Chồng nói: "Đây ta cứ biết được nai là được nai cần gì phải biết rõ rằng ta mộng hay hắn mộng". Người kiếm củi về nhà đêm mộng thấy chỗ mình dấu nai và người đến lấy mai mình dấu. Theo mộng tìm được người và nai. Bèn kiện đòi nai lại. Quan không biết xử sao cho phải bèn truyền chia đôi con nai, mỗi người lấy một nửa.

(2) Tần Tùy: Chuyện đời Tần Tùy. Có lẽ do tích trong bài "Đào hoa nguyên kí" của Đào Tiềm: Những người trong núi không biết chuyện bên ngoài thời họ đang sống, nhưng nhớ chuyện đời xưa nhà Tần nhà Tùy.

秋日寄興

西風纔到不歸人
頓覺寒威已十分
故國山河看落日
他鄕身世托浮雲
忽驚老境今朝是
何處秋聲昨夜聞
自哂白頭欠收入
滿庭黄葉落紛紛

Phiên âm: Thu nhật kí hứng

Tây phong tài đáo bất quy nhân
Đốn giác hàn uy dĩ thập phần
Cố quốc sơn hà khan lạc nhật
Tha hương thân thế thác phù vân
Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị
Hà xứ thu thanh tạc dạ văn
Tự sẩn bạch đầu khiếm thu nhập
Mãn đình hoàng diệp lạc phân phân

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Ngày thu chép hứng

Gió tây mới đến cùng người không về nhà được
Mà đã thấy khí lạnh mười phần ghê gớm
Non sông nước cũ trông bóng chiều tà
Thân thế chốn tha hương gởi cho đám mây nổi
Sáng hôm nay chợt thấy cảnh già mà kinh
Đêm qua nghe tiếng thu ở nơi nào nổi dậy
Cười mình đầu đã bạc mà thiếu tài thu xếp
Đầy sân lá vàng rụng bời bời

Dịch thơ: Ngày thu chép hứng

Gió tây mới thoảng khách xa đường,
Khí lạnh đìu hiu đã thấm xương.
Chiều nhuộm núi sông tình cố quốc,
Mây vần thân thế bóng tha hương.
Vừa nghiêng tai lắng thu lên tiếng,
Bỗng giật mình trông tóc trắng gương.
Ngán nỗi già đời không biết liệu,
Đầy sân nượp nượp lá bay sương.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An tiêm tái bản, 1995, France)


023 偶得

孤城日暮起陰雲
青草漫漫到海濱
曠野遍埋無主骨
殊方獨托有官身
事來徒隸皆驕我
老去文章亦避人
望外鴻山三百里
相從何處問前鄰

Phiên âm: Ngẫu đắc

Cô thành (1) nhật mộ khởi âm vân
Thanh thảo man man đáo hải tần
Khoáng dã biến mai vô chủ cốt
Thù phương độc thác hữu quan thân
Sự lai đồ lệ giai kiêu ngã
Lão khứ văn chương diệc tị nhân
Vọng ngoại Hồng Sơn tam bách lí (2)
Tương tòng hà xứ vấn tiền lân

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Tình cờ làm được những câu đắc ý

Thành lẻ loi, ngày tối, mây đen nổi
Cỏ xanh mênh mang lan tới bờ biển
Đồng trống khắp nơi vùi xương vô chủ
Phương xa riêng gởi tấm thân làm quan
Khi gặp việc, bọn tôi tớ đều lên mặt với ta
Già đến rồi, văn chương cũng lánh người
Nhìn ra ngoài Hồng Sơn xa ba trăm dặm
Biết theo chốn nào mà hỏi xóm ngày xưa

Dịch thơ: Ngẫu đắc

Chiều tuôn mây ngút nhẩy cô thành
Cỏ biếc tràn lan tận biển xanh
Nội quạnh chôn đầy xương bạc mệnh
Quê người gởi tạm kiếp phù vinh
Việc bày nha lại đều lên mặt
Già đến văn chương cũng lánh mình
Ngoảnh lại Hồng Sơn trăm dặm cách
Nơi đâu xóm cũ bước tìm quanh

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)


Chú thích:


(1) Cô thành: Lũy Đào Duy Từ, tức Lũy Thầy. Bài này làm lúc Nguyễn Du làm Cai Bạ ở Quảng Bình. Lúc này, nhà thơ bị quan trên chèn ép hơn lúc còn ở Huế.

(2) Hà Tĩnh, Quảng Bình: Tuy nằm cạnh nhau nhưng núi non hiểm trở, đường qua lại không được dễ dàng. Thêm nữa, việc quan buộc ràng, nên lòng nhớ thương không ngớt, và thân tự coi như ở nơi góc bể chân trời.

城下棄馬

誰家老馬棄城陰
毛暗皮乾瘦不禁
石壘秋寒經草短
沙場日暮陣雲深
饑來不作求人態
老去終懷報國心
耐得風霜全爾性
莫教羈縶再相侵

Phiên âm: Thành hạ khí mã

Thùy gia lão mã khí thành âm
Mao ám bì can sấu bất câm
Thạch lũy thu hàn kinh thảo đoản
Sa trường nhật mộ trận vân thâm
Cơ lai bất tác cầu nhân thái
Lão khứ chung hoài báo quốc tâm
Nại đắc phong sương toàn nhĩ tính
Mạc giao ki trập tái tương xâm

Nguyễn Du 阮攸
Dịch nghĩa: Ngựa bỏ dưới chân thành

Con ngựa già nhà ai bỏ dưới bóng thành?
Lông nám da gô gầy không thể tả
Nơi thạch lũy thu lạnh, lối cỏ cằn cỗi
Chốn sa trường trời chiều, lớp mây dày dặc
Bụng đói, không học thói cầu cạnh người
Tuổi già, vẫn giữ lòng mong đền ơn nước
Chịu được phong sương, trọn tánh trời
Chớ để cương dàm phạm vào thân một lần nữa

Dịch thơ: Ngựa bỏ chân thành

Ngựa già ai bỏ góc thành hoang?
Lông nám đuôi cùn da bọc xương.
Lạnh ấy cỏ thu đường thạch lũy,
Mây un ngày tối dặm sa trường.
Ơn người, đói vẫn không cầu cạnh,
Nợ nước, già đâu ngớt vấn vương.
Sương gió tánh trời mừng giữ vẹn,
Thân đừng vướng nữa nghiệp yên cương.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, France, 1995)


代作久戍思歸

關外秋風送笛吹
班超頭白未城歸
十年許國君恩重
千里離家旅夢遲
夜繡榮花身外幻
朝雲名利眼前非
隴阡歲歲瓜田熟
苦盡甘來尙有期

Phiên âm: Đại tác cửu thú tư quy (kì nhất)

Quan ngoại thu phong tống địch xuy
Ban Siêu (1) đầu bạch vị thành quy
Thập niên hứa quốc quân ân trọng
Thiên lí ly gia lữ mộng trì
Dạ tú vinh hoa thân ngoại huyễn
Triêu vân danh lợi nhãn tiền phi
Lũng thiên (2) tuế tuế qua điền thục (3)
Khổ tận cam lai thượng hữu kì

Nguyễn Du 阮攸
Dịch nghĩa: Làm thay người đi thú
lâu năm mong được về

Gió thu ngoài ải đưa tiếng địch đi xa
Ban Siêu đầu bạc vẫn chưa được về
Mười năm dâng mình cho nước, ơn vua nặng
Nghìn dặm lìa nhà, giấc mộng lữ thứ kéo dài
Vinh hoa như áo gấm đi đêm, chỉ là ảo ảnh ngoài thân
Danh lợi như bóng mây buổi sáng, đổi khác ngay trước mắt
Bên đường đất Lũng, năm này sang năm khác ruộng dưa lại chín
Hết khổ đến sướng còn có ngày về

Dịch thơ: Làm thay người đi thú
lâu năm mong được về

Tiếng địch non xa giục gió vàng
Chàng Siêu tóc bạc chẳng hồi hương
Mười năm nợ nước lòng canh cánh
Muôn dặm tình quê mộng trễ tràng
Áo gấm ngoài thân trùm huyễn hoặc
Bóng mây trước mắt thoảng giàu sang
Năm năm luống đợi mùa dưa chín
Khổ trước vui sau ước cũ càng

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, 1995, France)




--------------------------------------------------------------------------------

Chú thích:


(1) Ban Siêu: Người đời Đông Hán 東漢, làm tướng đi đánh các nước Tây Vực 西域 hơn ba mươi năm, lúc già mới được về nhà nghỉ.

(2) Lũng thiên: Đường ở nơi bờ ruộng, nơi bãi tha ma ở đất Lũng, tức ở chốn đồn trú xa xôi.

(3) Qua điền thục: Liên Xưng và Quản Chi Phủ đi thú đất Quý Châu, khi đi thì mùa dưa chín, hẹn cùng người nhà đến mùa dưa chín năm sau sẽ về (Tả Truyện). Tức là đi thú chỉ một năm. Còn người trong này thì năm nào cũng thấy dưa chín ở bên cạnh nơi đồn trú, nhưng chưa được về.

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.