Apr 02, 2020

Đường thi Việt Nam

Thanh Hiên Thi Tập Nguyễn Du (78 bài)
Nguyễn Du (1766 - 1820) * đăng lúc 07:18:24 PM, Mar 06, 2013 * Số lần xem: 2054
Hình ảnh
#1

Thanh Hiên Thi Tập gồm 78 bài thơ, là tập thơ chữ Hán đầu tiên của Nguyễn Du. Tập thơ này Nguyễn Du làm trong thời kỳ còn hàn vi và có thể phân chia ra làm ba giai đoạn.
 
1. Mười năm gió bụi (1786-1795) là thời gian ông lẩn trốn ở Quỳnh Côi.

2. Dưới chân núi Hồng (1796-1802), về ẩn ở quê nhà.

3. Làm quan ở Bắc Hà (1802-1804).

Phần Thanh Hiên Thi Tập này diễn dịch nghĩa 78 bài thơ của Nguyễn Du. Khác với Bắc Hành Tạp Lục với những bài thơ viết về cảm nghĩ của Nguyễn Du với những cảnh trí, địa phận ông đi ngang qua, về nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, phần Thanh Hiên nói về cá nhân Nguyễn Du và những tình cảm của ông trong hoàn cảnh đương thời.
 
Như đã nói đến trong phần tiểu sử của Nguyễn Du, những bài thơ trong tập thơ Hán Nguyễn Du được sắp thứ tự khác nhau trong các ấn bản biên khảo khác nhau, riêng tập thơ dịch của Sóng Việt-Đàm Giang dựa theo cách sắp xếp trong ấn bản năm 1978 của cụ Lê Thước và đồng nhóm.
 
Thanh Hiên Thi Tập gồm 78 bài được chia làm ba phần và ba thời kỳ: đó là Mười Năm Gió Bụi (1786-1795), Dưới Chân Núi Hồng ( 1796-1802), và thời kỳ thứ ba là thời gian ra làm quan ở Bắc Hà (1802- 1804)

1/249. QUỲNH HẢI NGUYÊN TIÊU

Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên
Y y bất cải cựu thiền quyên
Nhất thiên xuân hứng thùy gia lạc
Vạn lý Quỳnh-châu thử dạ viên
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán (1)
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến (2)
Hải giác thiên thai tam thập niên (3)

1/249. QUỲNH HẢI ĐÊM RẰM THÁNG GIÊNG

Trăng rằm tháng giêng trải khắp trời
Vẫn nguyên trăng đẹp chẳng đổi rời
Một xuân hứng này ai được hưởng
Vạn dặm Quỳnh-châu trăng sáng ngời
Hồng Lĩnh không nhà, anh em xa
Thời gian trôi, ngậm ngùi tóc bạc
Cùng đường khách xa trăng vẫn gặp
Khắp bể chân trời tuổi ba mươi


 


 

3/249. TỰ THÁN I (Nhị Thủ)

Sinh vị thành danh thân dĩ suy
Tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy
Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn? (1)
Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri
Thiên địa dữ nhân truân cốt tướng
Xuân thu hoàn nhữ lão tu mi
Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp (2)
Tất cánh phiêu lưu hà xứ qui?

3/249. THAN THÂN I

Danh phận chưa xong thân bời rời
Lơ thơ tóc bạc gió vờn chơi
Chân hạc do trời làm sao cắt?
Nào hay thân nhẹ tựa lông hồng!
Cốt gian truân trời đất an bài
Tháng ngày hóa lão cả râu mày
Gió phương tây làm bồng lìa gốc
Lưu lạc xa biết chốn nào đây?

 


 

4/249. TỰ THÁN II

Tam thập hành canh lục xích thân
Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân
Bản nô văn tự năng tăng mệnh
Hà sự kiền khôn thác đố nhân?
Thư kiếm vô thành sinh kế xúc
Xuân thu đại tự bạch đầu tân
Hà năng lạc phát quy lâm khứ,
Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân!

4/249. THAN THÂN II

Thân thì sáu thước tuổi ba mươi
Bởi thông minh nên hại tính trời.
Chữ nghĩa nào có ghen với mệnh,
Mà sao trời lại ghen nhầm người?
Bại văn cùng võ thêm nghèo khó
Xuân thu lần lữa tóc bạc đầy
Ước gì xuống tóc vào rừng ở
Nằm nghe tùng reo giữa từng mây


 

5/249. VỊ HOÀNG DOANH

Vị Hoàng giang thượng, Vị Hoàng doanh (1)
Lâu lỗ sâm si tiếp thái thanh (2)
Cổ độ tà dương khan ẩm mã
Hoang giao tĩnh dạ loạn phi huỳnh
Cổ kim vị kiến thiên niên quốc
Hình thế không lưu bách chiến danh
Mạc hướng Thanh Hoa thôn khẩu vọng (3)
Điệp Sơn bất cải cựu thời thanh (4)

 

5/249. DOANH TRẠI VỊ HOÀNG

Doanh Vị Hoàng cạnh sông Vị Hoàng
Chòi gác vươn cao giáp trời xanh
Bến cũ chiều tà ngựa uống nước
Đêm vắng đóm bay loạn đồng hoang
Xưa nay triều nào vững ngàn năm
Chiến trường trăm trận cũng không lưu
Thôi xóm Thanh Hoa không nhìn nữa
Điệp Sơn mãi mãi vẫn xanh tươi

 


 

6/249. BẤT MỊ

Bất mị thính hàn canh
Hàn canh bất khẳng tận
Quan sơn dẫn mộng trường
Châm chử thôi hàn cận
Phế táo tụ hà ma
Thâm đường xuất khâu dận
Ám tụng Vấn thiên chương (1)
Thiên cao hà xứ vấn?

 

6./249. KHÔNG NGỦ

Không ngủ tiếng trống trong đêm lạnh
Trống đêm lạnh rộn mãi không ngưng
Đường dài làm mộng càng thêm dài
Tiếng chày dã giục mau hơi lạnh
Bếp hoang vắng ếch nhái họp bạn
Trong góc nhà giun dế bò ra
Nhẩm đọc thầm bài ca Thiên vấn
Trời cao sao mà hỏi được kìa ?

 


 

7/249. SƠN CƯ MẠN HỨNG

Nam khứ Trường An thiên lý dư
Quần phong thâm xứ dã nhân cư
Sài môn trú tĩnh sơn vân bế
Dược phố xuân hàn lũng trúc sơ (1)
Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ (2)
Kinh niên biệt lệ nhạn thanh sơ
Cố hương đệ muội âm hao tuyệt (3)
Bất kiến bình an nhất chỉ thư

 

7/249. Ở NÚI CẢM HỨNG

Phía nam Trường An ngoài ngàn dặm
Có người thôn dã ngụ rừng xa
Cửa sài tịch mịch mây che kín
Vườn thuốc xuân lạnh trúc lơ thơ
Nhớ quê thơ thẩn dưới bóng trăng
Cách năm nhỏ lệ tiếng nhạn than
Quê cũ hai em tin vẫn bặt
Không thư chẳng biết có bình an

 


 

8/249. U Cư I

Đào hoa đào diệp lạc phân phân
Môn yểm tà phi nhất viện bần
Trú cửu đốn vong thân thị khách
Niên thâm cảnh giác lão tùy thân
Dị hương dưỡnng chuyết sơ phòng tục
Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân
Lưu lạc bạch đầu thành để sự
Tây phong suy đảo tiểu ô cân

 

8/249. Ở NƠI U TỊCH I

Hoa lá đào rải rác rụng rơi,
Cửa nghiêng xiêu vẹo căn nhà nghèo.
Ở nhờ lâu quá hết là khách,
Thân mình già thấm theo tháng năm.
Xa quê, vờ dại phòng thói tục,
Giả e giả sợ giữ thân yên.
Sự nghiệp phiêu dạt chẳng có gì,
Gió tây thổi dạt chiếc khăn con.


 

9/249. U Cư II

Thập tải phong trần khứ quốc xa,
Tiêu tiêu bạch phátký nhân gia.
Trường đồnhật mộ tân du thiểu,
Nhất thất xuânhàn cựu bệnh đa.
Hoại bích nguyệt minh bàn tích dịch,
Hoang trì thủy hạc xuất hà ma
Hành nhân mạc tụng Đăng Lâu phú
Cường bán xuân quang tại hải nha (nhai)

 

9/249. Ở NƠI U TỊCH II

Mười năm gió bụi xa lìa quê
Khách trọ nhà người đến bạc tóc
Đường dài ngày xuống thưa bạn mới
Một nhà xuân lạnh bệnh cũ nhiều
Tường nát, trăng sáng mối leo quanh
Ao hoang, nước cạn ếch nhái nhẩy
Người phương xa đừng đọc phú Đăng lâu nữa
Quá nửa tuổi xuân còn lưu lạc nơi góc biển

 


 

10/249. MẠN HỨNG I

Bách niên thân thế ủy phong trần
Lữ thực giang tân hựu hải tân,
Cao hứng tửu vô hoàng các mộng
Hư danh vị phóng bạc đầu nhân
Tam xuân tích bệnh bần vô dược
Táp tải phù sinh hoạn hữu thân
Dao ức tha hương thiên lý ngoại
Trạch xa đoạn mã quý đông lân

10/249. MẠN HỨNG I

Trăm năm thân thế phó mặc gió bụi trần
Lang thang ăn nhờ miền sông lại miền biển
Cái hứng mộng lầu vàng không còn nữa
Danh hão vẫn chưa tha kẻ bạc đầu
Ba tháng xuân nghèo không thuốc ốm liên miên
Ba mươi năm sống lênh đênh cứ lo cái thân
Nhớ quê hương đã xa ngoài ngàn dậm
Thẹn mình với hàng xóm ngồi xe ngựa thung dung


 

11/249. MẠN HỨNG II

Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng
Giang nam giang bắc nhất nang không
Bách niên cùng tử văn chương lý
Lục xích phù sinh thiên địa trung
Vạn lý hoàng quan tương mộ cảnh (1)
Nhất đầu bạch phát tản tây phong
Vô cùng kim cổ thương tâm xứ
Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng

11/249. Mạn Hứng II

Bước chân không bén rễ di chuyển như cỏ bồng
Sông Nam sông Bắc một hầu bao rỗng
Trăm năm chết xác vì văn chương
Thân sáu thước sống lênh đênh trong trời đất
Vạn dặm mũ vàng cảnh đã xế chiều
Một mài đầu bạc tung bay theo gió tây
Chuyện mới cũ gây thương cảm vô cùng
Núi xanh vẫn mãi nhuộm ánh chiều hồng

 


 

12/249. XUÂN DẠ

Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm?
Tiểu song khai xứ liễu âm âm
Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu
Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm
Ky lữ đa niên đăng hạ lệ
Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm.
Nam đài thôn ngoại Long Giang thủy (1)
Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim)

 

12/249. ĐÊM XUÂN

Đêm tối thì cảnh sáng tìm đâu ra?
Ngoài song cửa chỉ thấy liễu âm u
Sông nước đi mãi nên mang bệnh
Áng xuân về mưa gió suốt trong đêm
Đất khách nhiều năm giọt lệ rơi trong đènđêm
Quê nhà xa nghìn dặm nhìn trăng mà động lòng
Bên giòng sông Long, ngoài thôn Nam Đài
Một dòng sông lạnh tiễn đưa mới cũ

 


 

13/249. LƯU BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG

Tây phong tiêu táp phất cao lâm
Khuyn tận ly bôi thoại dạ thâm
Loạn thế nam nhi tu đối kiếm (1)
Tha hương bằng hữu trong phân khâm
Cao sơn lưu thủy vô nhân thức (2)
Hải giác thiên thai hà xứ tầm?
Lưu thủ Giang-nam nhất phiến nguyệt
Dạ lai thường chiếu lưỡng nhân tâm

 

13/249. LƯU BIỆT CÙNG ANH NGUYỄN

Gió tây hiu hắt tạt rừng cao
Cạn chén rượu khua vẫn chuyện rào
Thân trai thời loạn thẹn nhìn kiếm
Đất khách chia tay luống nghẹn ngào
Non cao nước chảy nào ai rõ
Góc biển chân trời biết tìm đâu?
Còn lại mảnh trăng sông nam đó
Đêm khuya soi sáng lòng hai ta

 


 

14/249. TỐNG NGUYỄN SĨ HỮU NAM QUY (1)

Nam Sơn hữu điểu hàm tinh hoa
Phi khứ phi lai khinh võng la (2)
Hồng Lĩnh hữu nhân lai tố chủ
Bạch đầu vô lại bất hoàn gia
Sinh bình văn thái tàn lung phượng,
Phù thế công danh tẩu xác hà
Qui khứ cố hương hảo phong nguyệt,
Ngọ song vô mộng đáo thiên nha (nhai)

14/249. TIỄN NGUYỄN SĨ HỮU VỀ NAM

Núi Nam có chim đầy thông minh
Bay tới bay lui, lưới coi khinh
Hồng Lĩnh nay có người làm chủ,
Đầu bạc thẹn ta vẫn lênh đênh
Chữ đành xơ xác như chim sa
Công danh vuột như rắn chui hang.
Quê cũ bạn về cùng trăng gió
Ngủ trưa chẳng mộng bến trời xa

 


 

15/249. THU CHÍ

Tứ thời hảo cảnh vô đa nhật
Phao trịch như thoa hoán bất hồi
Thiên lý xích thân vi khách cửu
Nhất đình hoàng điệp tống thu lai
Liêm thùy tiểu các tây phong động
Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai
Trù trướng thôi quang lưu bạch phát
Nhất sinh u tứ vị tằng khai

 

15/249. THU ĐẾN

Bốn mùa cảnh đẹp có bao ngày
Qua vút thoi đưa không trở lại
Ngàn dậm năm dài thân đất khách,
Một sân thu đến lá vàng đầy
Gió tây, gác nhỏ, rèm lung lay
Tù và vẳng sớm, buồn tuyết bay
Xót xa thời gian làm tóc bạc
Một đời u uất mãi không khuây


 

16/249. THU DẠ - I

Phồn tinh lịch lịch lộ như ngân
Đông bích hàn trùng bi cánh tân
Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp
Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân
Lão lai bạch phát khả liên nhữ
Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân.
Tối thị thiên nhai quyện du khách,
Cùng niên ngọa bệnh Tuế giang tân (1)

16/249. ĐÊM THU I

Sao đầy lấp lánh, sương bạc trắng
Vách đông, dế gặp lạnh kêu buồn
Ngàn dặm tiếng thu giục lá rơi,
Không vẩn mây, bầu trời lạnh ngắt.
Già nua tóc bạc thật đáng thương,
Núi xanh ở mãi không chán người.
Khách xa đã mỏi mệt bên trời,
Suốt năm bệnh hoạn,Tuế giang nằm

 


 

17/249. THU DẠ - II

Bạch lộ vi sương thu khí thâm (1)
Giang thành thảo mộc cộng tiêu sâm.
Tiễn đăng độc chiếu sơ trường dạ
Ác phát kinh hoài mạt nhật tâm (2)
Thiên lý giang sơn tần trướng vọng,
Tứ thời yên cảnh độc trầm ngâm
Tảo hàn dĩ giác vô y khổ,
Hà xứ không khuê thôi mộ châm (3)

 

17/249. ĐÊM THU II

Móc trắng thành sương thu đìu hiu
Cây cỏ thành quanh nhuốm tiêu điều
Mình ta khêu đèn đêm dài dặc
Một thân vắt tóc chí nguyện nhiều
Ngàn dặm núi sông buồn hiu hắt
Bốn mùa phong cảnh luống ngậm ngùi
Mới lạnh đã khổ áo không có
Tiếng ai đập vải rộn bóng chiều

 


 

18/249. KHẤT THỰC

Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên
Triển chuyển nê đồ tam thập niên
Văn tự hà tằng vi ngã dụng
Cơ hàn bất giác thụ nhân liên

 

 

18/249. XIN ĂN

Hiên ngang với trường kiếm nhìn trời
Ba mươi năm lăn lội bùn chơi
Văn chương một thân chẳng giúp được
Nghèo đói ngờ đâu chịu ơn người


 

19/249. TẠP NGÂM

Đạp biến thiên nha hựu hải nha (1)
Càn khôn tùy tại tức vi gia
Bình sinh bất khởi thương dăng niệm (2)
Kim cổ thùy đồng bạch nghị oa?
Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm
Tiêu điều lữ muộn đối thời ca
Bế môn bất ký xuân thâm thiển
Đản kiến đường lê lạc tận hoa

19/249. TẠP NGÂM

Góc biển chân mây đều đi qua
Trời đất ở đâu cũng là nhà
Ruồi nhặng bình sinh chẳng hề nghĩ
Xưa nay ai chịu chung tổ oa
Bằng lặng làm hư thanh kiếm ngắn
Buồn thiu lữ thứ lắng khúc ca
Đóng cửa nào hay xuân sớm muộn
Chỉ thấy cây lê rụng hết hoa

 


 

20/249. BÁT MUỘN

Thập tải trần ai ám ngọc trừ (1)
Bách niên thành phủ bán hoang khư
Yêu ma trùng điểu cao phi tận (2)
Trỉ uế càn khôn huyết chiến dư
Tang tử binh tiền thiên lý lệ (3)
Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư
Ngư long lãnh lạc nhàn thu dạ
Bách chủng u hoài vị nhất sư

20/249. XUA NỖI BUỒN

Mười năm thềm ngọc cát bụi mờ
Trăm năm thành nhuộm nửa tiêu sơ
Chim sâu nhỏ bé bay tan tác
Máu chiến qua rồi đất nước dơ
Giặc quê nhà nghìn dặm sa lệ
Mấy hàng thư thân thích dưới đèn
Đêm thu vắng cá rồng lặng lẽ
Trăm mối buồn làm sao dẹp được

 


 

21/249. TRỆ KHÁCH

Trệ khách yêm lưu Nam Hải trung (1)
Tịch liêu lương dạ dữ thùy đồng
Qui hồng bi động thiên hà thủy
Thú cổ hàn xâm hạ dạ phong
Nhân đáo cung đồ vô hảo mộng
Thiên hồi khổ hải xúc phù tung (2)
Phong trần đội lý lưu bì cốt
Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng

21/249. NGƯỜI KHÁCH BÊ TRỆ

Khách suy kiệt mãi vùng biển nam
Đêm khua vắng lặng chỉ một thân
Chim hồng bi oán nước sông động
Trống thú nơi biên lạnh gió hè
Cùng đường cách chi có gấm mộng
Trời hồi biển khổ giục gót chân
Xương da một kẻ nhuốm gió trần
Gối khách bơ phờ hai mái tóc

 


 

22/249. ĐẠI NHÂN HÝ BÚT (1)

Thác lạc nhân gia Nhị thủy tân
Cư nhiên biệt chiếm nhất thành xuân
Đông tây kiểu các kiêm thiên khởi
Hồ Hán y quan đặc địa phân
Mục túc thu kiêu kim lặc mã (2)
Bồ đào xuân túy ngọc lâu nhân
Niên niên tự đắc phồn hoa thắng
Bất quản nam minh kỷ độ trần

22/249. THAY NGƯỜI VIẾT ĐÙA CHƠI

Bãi sông Nhị, nhà nhà hàng lớp
Chiếm cảnh xuân nổi bật cả thành
Cầu gác đông tây nhà cao ngất
Xiêm y Hồ Hán thật rõ ràng
Ngựa mang giàm vàng ăn mục túc
Lầu ngọc thưởng xuân uống bồ đào
Năm tháng nhởn nhơ vui hưởng thú
Chẳng màng đao binh nơi bể nam

 


 

23/249. HOÀNG MAI KIỀU VÃN DIỂU

Hoàng Mai kiều thượng tịch dương hồng
Hoàng Mai kiều hạ thủy lưu đông
Nguyên khí phù trầm thương hải ngoại
Tình lam thôn thổ loạn lưu trung
Đoản soa như chẩm cô chu nguyệt
Trường dịch đồng xuy cổ kính phong
Đại địa văn chương tuỳ xứ kiến
Quân tâm hà sự thái thông thông

23/249. NGẮM CẢNH CHIỀU TRÊN CẦU HOÀNG MAI

Hoàng Mai nhuộm đỏ ánh tà dương
Dước cầu nước chảy hướng về đông
Khí trời chìm nổi vùng biển ngoại
Khí lam tỏa rộng giữa giòng sông
Dưới trăng ngư phủ một thuyền lẻ
Lốicũ gió bay tiếng sáo đồng
Cảnh đẹp đất rộng đâu cũng có
Việc chi mà phải vội vội vàng


 

24/249. DAO VỌNG CÀN HẢI TỬ

Mang mang hải thuỷ tiếp thiên xu (1)
Ẩn ước cô từ xuất tiểu chung
Cổ mộ hàn liên phù chử mộ
Tình yên thanh dẫn hải môn thu
Hào thiên tướng tướng đan tâm tận (2)
Phủ địa Quỳnh nhai khối nhục vô (3)
Tiếu nhĩ Minh phi trường xuất tái (4)
Tì bà bôi tửu khuyến Thiền Vu

24/249. TỪ XA NHÌN ĐỀN CỜN

Mênh mông nước biển cận bên trời
Xa trông đền lẻ chốn ngoài khơi
Cây già lạnh lẽo đầy chim đậu
Cửa bể mùa thu khói chơi vơi
Tướng tài dốc võ hết một lòng
Quỳnh nhai vùi xương thịt giòng vương
Nực cười Chiêu phi ra ngoài ải
Đàn ca chuốc rượu nịnh chúa Mường

 


 

25/249. TÁI DU TAM ĐIỆP SƠN

Vân tế sơn Tam Điệp
Thiên nhai khách tái du
Nhãn trung thu đại địa
Hải ngoại kiến ngư chu
Chướng tĩnh phong loan sấu
Thiên hàn thảo mộc thu
Hành nhân hồi thủ xứ
Vô ná cố hương sầu

25/249. THĂM LẠI ĐÈO BA DỘI

Đèo Ba Dội cao ngất
Khách xa lại tới thăm
Cái nhìn gom trời đất
Thuyền cá biển xa xăm
Sương tan núi trơ trọi
Trời lạnh cây cỏ dàu
Người khách ngoái nhìn lại
Nhớ nhà càng thêm sầu


 

26/249. ĐỘ PHÚ NÔNG GIANG CẢM TÁC

Nông thủy đông lưu khứ
Thao thao cánh bất hồi
Thanh sơn thương vãng sự
Bạch phát phục trùng lai
Xuân nhật thương thuyền hợp
Tây phong cổ lũy khai
Du nhân vô hạn cảm
Phương thảo biến thiên nhai

26/249. QUA SÔNG PHÚ NÔNG CẢM TÁC

Sông Phú Đông nước chảy về đông
Cuồn cuộn nước trôi không ngược giòng
Non xanh thương cảm chuyện xưa cũ
Nay ta trở về tóc điểm sương
Ngày xuân tấp nập khách thuyền buôn
Trống trải thành hoang ngập gió tây
Khách xa chan chứa niềm thương cảm
Cỏ cây xanh miết cuối chân mây


 

27/249. HỌA HẢI ÔNG ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

“GIÁP DÂN PHỤNG MỆNH NHẬP PHÚ XUÂN KINH
ĐĂNG TRÌNH LƯU BIỆT
ĐẮC THÀNH CHƯ HỮU” CHI TÁC

Hoành sơn sơn ngoại lĩnh nam trình
Cầm kiếm tương tùy thướng ngọc kinh
Thỏ tủy vị hoàn tân đại dược
Bài bì nhưng lụy cựu phù danh
Thương minh thủy dẫn bôi trung lục
Cố quốc thiềm tùy mã hậu minh
Thử khứ gia huynh như kiến văn
Cùng đồ bạch phát chính tinh tinh

27/249. HỌA VẦN BÀI

THƠ “NĂM GIÁP DẦN (1794)
VÂNG MỆNH VÀO KINH PHÚ XUÂN,
LÚC LÊN ĐƯỜNG LƯU BIỆT CÁC BẠN Ở BẮC THÀNH”
CỦA HẢI ÔNG ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

Núi Hoành từ giã ông hướng nam
Vừa đàn vừa kiếm tiến vào thành
Thuốc chế tủy thỏ chưa thành đạt
Vì da beo tốt nên lụy danh
Nước biếc ngoài khơi sáng rượu bình
Quê cũ trăng soi vó ngựa đêm
Nếu gặp anh tôi có nhắn hỏi
Thưa tôi tóc bạc kiếp lênh đênh


 

28/249. GIANG ĐÌNH HỮU CẢM

Ức tích ngô ông tạ lão thì
Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi
Tiên chu kích thủy thần long đấu
Bảo cái phù không thụy hạc phi
Nhất tự y thường vô mịch xứ
Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi
Bách niên đa thiểu thương tâm sự
Cận nhật Trường An đại dĩ phi

28/249. GIANG ÐÌNH CẢM XÚC CẦU HOÀNG MAI

Nhớ xưa khi già cha về đây
Ngựa xe giong ruỗi ven sông này
Thuyền tiên rẽ nước như rồng đấu
Tàn quý trong mây như hạc bay
Từ khi áo đẹp không còn nữa
Hai bờ sầu thảm phủ cỏ cây
Trăm năm bao chuyện đời khổ não
Trường An nay cũng lắm đổi thay

 


 

29/249. ỨC GIA HUYNH

Lục tháp thành nam hệ nhất quan (1)
Hải vân dạ độ thạch toàn ngoan (2)
Cùng xu lam chướng tam niên thú
Cố quốc yên hoa nhị nguyệt hàn
Nhất biệt bất tri hà xứ trú
Trùng phùng tương tác tái sinh khan
Hải thiên mang diểu thiên dư lý
Thần phách tương cầu mộng diệc nan

29/249. NHỚ ANH

Tháp sáu thành nam nơi anh sống
Đêm vượt đèo Hải đá cả đống
Ba năm đồn xa vùng lam chướng
Tháng hai quê cũ lạnh khói hương
Một phen từ biệt nay ở đâu
Gặp nhau lại được chắc kiếp sau
Trời biển mênh mông đường ngàn dặm
Khó cả thấy nhau trong mộng sâu

 


 

30/249. KÝ MỘNG

Thệ thủy nhật dạ lưu
Du tử hành vị quy
Kinh niên bất tương kiến
Hà dĩ úy tương ti (tư)
Mộng trung phân minh kiến
Tầm ngã giang chi mi
Nhan sắc thị trù tích
Ý sức đa sâm si
Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn
Kế ngôn cửu biệt ly
Đái khấp bất chung ngữ
Phảng phất như cách duy (1)
Bình sinh bất thức lộ
Mộng hồn hoàn thị phi ?
Điệp sơn đa hổ trĩ
Lam thủy đa giao ly
Đạo lộ hiểm thả ác
Nhược chất tương hà y (2)
Mộng lai cô đăng thanh
Mộng khứ hàn phong xuy
Mỹ nhân bất tương kiến
Nhu tình loạn như ti (3)
Không ốc lậu tà nguyệt
Chiếu ngã đan thường y

30/249. GHI LẠI GIẤC MỘNG

Ngày đêm nước chảy rề rề
Người đi xa mãi ngày về biết đâu
Bao năm chưa gặp lại nhau
Lấy gì an ủi nỗi sầu nhớ thương
Mộng nay thấy được người mong
Gặp ta ngay ở ven sông bến bờ
Mặt trông vẫn vẻ như xưa
Nhưng xiêm luộm thuộm bao giờ thấy đâu
Trước thì kể chuyện ốm đau
Sau thì than thở nỗi sầu cách xa
Nghẹn ngào lời nói chẳng ra
Tuồng như màn trướng chia lìa hai phương
Bình thường ta chẳng rành đường
Trong cơn mộng mị không lường thực hư
Núi Tam Điệp hổ báo dư
Nước sông Lam có kình ngư vẫy vùng
Đường đi hiểm trở vô cùng
Một thân yếu đuối biết nương nơi nào?
Mộng đến bên ngọn đèn hao
Mộng đi gió lạnh lao xao thổi cùng
Giai nhân chẳng được tương phùng
Tấm lòng rối loạn lùng bùng ngẩn ngơ
Ánh trăng nhà trống thẩn thơ
Chiếu trên manh áo đơn sơ thân buồn

 


 

31/249. MY TRUNG MẠN HỨNG

Chung Tử viên cầm tháo nam âm (1)(2)
Trang Tích bệnh chung do Việt ngâm (3)
Tứ hải phong trần gia quốc lệ
Thập tuần lao ngục tử sinh tâm
Bình Chương di hận hà thời liễu (4)
Cô Trúc cao phong bất khả tầm (5)
Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ
Hồng Xơn xơn hạ Quế Giang thâm

31/249. CẢM HỨNG TRONG TÙ

Khúc Nam Chung Tử gảy đàn vang
Ốm đau ngâm lời Việt họ Trang
Bốn bể phong trần rơi nước mắt
Mười tuần lao ngục sống chết cam
Bình Chương không tan một mối hận
Cô Trúc gương cao khó mà tầm
Tấm lòng bứt rứt làm sao tỏ
Chân núi Hồng, sông Quế tình thâm

 


 

32/249. THÔN DẠ

Thanh thảo thôn tiền ngọa lão ông
Giang nam dạ sắc thướng liêm lung
Mãn thiên minh nguyệt nhất trì thủy
Bán bích hàn đăng vạn thụ phong
Lão khứ vị tri sinh kế chuyết
Chướng tiêu thời giác túc tâm không
Niên niên kết đắc ngư tiều lữ (1)
Tiếu ngạo hồ yên dã thảo trung

32/249. THÔN VỀ ĐÊM

Lão ông nằm trước xóm cỏ Thanh
Sông nam sắc tối phủ lên mành
Trăng sáng đầy trời soi ao nước
Đèn cheo leo lét gió lạnh tanh
Già đến chưa hay mưu sinh vụng
Chướng tan mới biết nhẹ tênh lòng
Năm ròng kết bạn người đốn củi
Cười vang giữa hồ khói cỏ đồng

 


 

33/249. KÝ HỮU

Mạc mạc trần ai mãn thái thông
Bế môn cao chẩm ngọa kỳ trung
Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại
Bách lý Hồng sơn chính khí đồng
Nhãn đề phù vân khan thế sự
Yêu gian trường kiếm quải thu phong
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc
Sương tuyết tiêu thời hợp hóa long.

33/249. GỬI BẠN

Cát bụi mịt mù chốn trần gian
Đóng cửa nằm khàn gối tựa cao
Một trời trăng sáng lưu tình bạn
Trăm dặm Hồng sơn chính khí hào
Việc đời trước mặt nhẹ như mây
Kiếm dài bên cạnh gió lung lay
Trúcngoài sân trước ta lặng ngắm
Ngày tuyết tan đi hóa rồng bay


 

34/249. KÝ HUYỀN HƯ TỬ (1)

Thiên Thai sơn tiền độc bế môn (2)
Tây phong trần cấu mãn trung nguyên
Điền gia bất trị Nam Sơn đậu (3)
Bần hộ thường không Bắc Hải tôn (4)
Dã hạc phù vân thời nhất kiến
Thanh phong minh nghuyệt dạ vô ngôn
Viễn lai chí thủ tương tầm lộ
Gia tại Hồng Sơn đệ nhất thôn (5)

34/249. GỬI ANH HUYỀN HƯ

Nhà núi Thiên Thai cửa then cài
Cát bụi Trung nguyên lộng gió bay
Nam Sơn ta chẳng ưng trồng đậu
Nghèo xơ, rượu Bắc Hải có đâu
Hạc cùng mây sao mà khó gặp
Gió với trăng chẳng ngỏ một lời
Đường xa tìm đến nhớ lời dặn
Đầu xóm núi Hồng nhà của tôi

 


 

35/249. KÝ GIANG BẮC HUYỀN HƯ TỬ

Trường An khí bất tức:
Hương tứ tại thiên nha (nhai):
Thiên nha bất khả kiến
Đã kiến trần dữ sa
Tây phong thoát mộc diệp
Bạch lộ tổn hoàng hoa
Trân trọng hảo tự ái
Thu ca sương lộ đa

35/249. GỬI ANH HUYỀN HƯ Ở PHÍA BẮC SÔNG

Trường An bặt tin rồi:
Nhớ nhà tận chân trời
Chân trời nào thấy được:
Chỉ thấy bụi tơi bời:
Gió tây thổi lá rơi
Sương rũ tàn cúc vàng
Anh nhớ hãy giữ thân
Vào thu sương càng nặng


 

36/249. ĐỘ LONG VĨ GIANG

Cố quốc hồi đầu lệ
Tây phong nhất lộ trần
Tài qua Long Vĩ thủy
Tiện thị dị hương nhân
Bạch phát sa trung hiện
Ly hồng hải thượng văn
Thân bằng tân khẩu vọng
Vị ngã nhất triêm cân

36/249. QUA SÔNG LONG VĨ

Nhìn lại quê hương giọt lệ tràn
Gió tây thổi bụi đường gian nan
Long Vĩ giòng sông ngang qua đó
Đất người ngơ ngác khách lạ thân
Một bãi cát kia rõ đầu bạc
Trên cao chim biển kêu lìa đàn
Bạn bè trên bến nhìn nhau mãi
Chiếc khăn đẫm lệ cũng vì ta


 

37/249. BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG
TAM THỦ

I

Ngã thả phù giang khứ
Tống quân qui cố khâu
Càn khôn dư thảo ốc
Phong vũ túc cô chu
Thu dạ ngư long trập
Thâm sơn mi lộc du
Hưu kỳ bất thậm viễn
Tương kiến tại Trung Châu (1)

37/249. TIỄN ĐƯA ANH NGUYỄN

I

Giòng sông tôi đi qua
Đưa anh về quê nhà
Trời đất một mái tranh
Mưa gió một thuyền xa
Đêm thu rồng cá ẩn
Núi sâu nai rừng ra
Ngày vui gần đến nơi
Gặp nhau tại Bắc Hà

 


 

38/249. BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG
TAM THỦ

II

Tống quân quy cố khâu
Ngã diệc phù giang hán
Thiên lý bất tương văn
Nhất tâm vị thường gián
Dạ hắc sài hổ kiêu
Nguyệt minh hồng nhạn tán
Lưỡng điạ các tương vương
Phù vân ưng bất đoạn

38/249. TIỄN ÐƯA ANH NGUYỄN

II

Tiễn anh về chốn xưa
Rồi tôi cũng qua sông
Ngàn dặm sẽ bặt tin
Một lòng chẳng gián đoạn
Đêm báo hùm hung hãn
Trăng hồng nhạn bay cùng
Hai ngả đều trông mong
Mây trời trôi không ngừng


 

39/249. BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG
TAM THỦ

III

Quân quy ngã diệc khứ
Các tại loạn ly trung
Sinh tử giao tình tại
Tồn vong khổ tiết đồng
Sài môn khai dạ nguyệt
Tàn lạp tẩu thu phong
Thiên lý bất tương kiến
Phù vân mê thái không

39/249. TIỄN ĐƯA ANH NGUYỄN

III

Anh về thì tôi cũng rời
Hai ta cùng cảnh trong thời loạn ly
Thân tình sống chết bất di
Mất còn khí tiết vẫn y tâm nguyền
Cửa tre mở dưới trăng đêm
Dãi dầu nón rách trong thềm gió thu
Xa nhau nghìn dặm ngậm ngùi
Mây trôi mờ mịt ngẩn ngơ trên trời


 

40/249. NÓI Ý MÌNH

Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh
Tỉnh thủy vô ba đào
Bất bị nhân khiên xả
Thử tâm chung bất dao
Túng bị nhân khiên xả
Nhất dao hoàn phục chỉ
Trạm trạm nhất phiến tâm
Minh nguyệt cổ tỉnh thủy

40/249. NÓI Ý MÌNH

Trăng sáng soi giếng cũ
Nước giếng phẳng lặng tanh
Nếu người không động đến
Thì lòng chẳng lao xao
Ví dù có khoắng lên
Lao xao rồi lại lặng
Vằng vặc một tấm lòng
Như trăng soi giếng cũ


 

41/249. HÀNH LẠC TỪ
Nhị Thủ

I

Tuấn khuyển hoàng bạch mao
Kim linh hệ tú cảnh
Khinh sam thiếu niên lang
Khiên hướng nam sơn lĩnh
Nam sơn đa hương mi
Huyết nhục cam thả phì
Kim đao thiết ngọc soạn
Mỹ tửu lũy bách chi
Nhân sinh vô bách tải
Hành lạc đương cập kỳ
Vô vi thủ bần tiện
Cùng niên bất khai mi
Di Tề vô đại danh (1)
Chích Cược vô đại lợi (2)
Trung thọ chỉ bát thập (3)
Hà sự thiên nhiên kế
Hữu khuyển thả tu sát
Hữu tửu thả tu khuynh
Nhãn tiễn đắc táng dĩ nan nhận
Hà sự mang mang thân hậu danh?

41/249. BÀI TỪ VUI CHƠI

I

Chó đẹp vàng đốm trắng
Cổ xinh mang chuông vàng
Có chàng trẻ áo ngắn
Dắt về hướng núi nam
Núi nam nhiều hương nai
Máu thịt đầy thơm ngon
Dao vàng soạn món quý
Rượu ngon có cả trăm
Người khó sống trăm năm
Vui chơi được lúc nào
Cần chi mà tằn tiện
Quanh năm chẳng nở mày
Danh Di Tề chẳng lớn
Chích Cược chẳng giàu to
Tuổi thọ chỉ tám mươi
Lo chi chuyện ngàn năm
Có chó cứ việc sát
Có rượu cứ uống tràn
Trước mặt được mất khó mà biết
Mịt mùng danh hậu lo làm chi!

 


 

42/249. HÀNH LẠC TỪ II
Nhị Thủ

II

Sơn thượng hữu đào hoa
Xước ước như hồng ỷ
Thanh thần lộng xuân nghiên
Nhật mộ trước nê trỉ

Hảo hoa vô bách nhật
Nhân thọ vô bách tuế
Thế sự đa suy di
Phù sinh hành lạc sự

Tịch thượng hữu kỹ kiều như hoa
Hồ trung hữu tửu như kim ba
Thúy quản ngọc tiêu hoãn cánh cấp
Đác cao ca xứ thả cao ca

Vương Nhung nha trù thủ tự tróc (1)
Nhật nhật cối kê thường bất túc
Tam công đài khuynh hảo lý tử
Kim tiền tán tác tha nhân phúc

Hựu bất kiến
Phùng Đạo vãn niên xưng cực quý (2)
Lịch chiếu bất ly khanh tướng vị
Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không
Thiên tải đồ lưu “Trường lạc tự” (3)

Nhãn tiền phú quý như phù vân
Lãng đắc kim nhân tiếu cổ nhân
Cổ nhân phần dinh dĩ luy luy
Kim nhân bôn tẩu hà phân phân

Cổ kim hiền ngu nhất khâu thổ
Sinh tử quan đầu mạc nagn độ
Khuyến quânẩm tửu thả vi hoan
Tây song nhật lạc thiên tương mộ

42/249. BÀI TỪ VUI CHƠI II

II

Núi cao hoa đào thắm
Đẹp tươi như lụa hồng
Sáng sớm giỡn cùng xuân
Chiếu tối thành bùn cặn

Hoakhó đẹptrăm ngày
Người mấy ai tuổi trăm
Việc đời nhiều đổi thay
Yêu sống cứ vui vầy

Bên tiệc có gái đẹp như hoa
Trong vò có rượu quý vàng ánh
Sáo xanh tiêu ngọc hồi khoan nhặt
Được ca vang, hãy cứ ca vang

Có thấy không
Vương Nhung tay gảy toán ngà
Ngày nào cũng tính mà lòng không ưng
Đài tam công nghiêng, mận quý tàn
Bạc tiền tán cho người ta hưởng

Lại thấy kìa
Phùng Đạo lão giầu sang là thế
Trải bao triều khanh tướng vững vàng
Chuông rung bạc quý còn đâu nữa
Ngàn năm Trường Lạc lưu một chương

Phú quí trước mắt tựa mây trôi
Người nay cười mũi kẻ xa xưa
Người xưa mồ mả đầy cả đống
Người nay vẫn mải miết ngược xuôi

Hiền hay ngu cũng trơ nấm đất
Sống rồi chết ai tránh được đây
Lời rằng cứ uống rồi chơi
Kìa bên song cửa trời đà xế tây

 


 

43/249. LAM GIANG

Thanh thần vọng Lam Giang
Lam Giang trướng thu thủy
Ngư miết du khâu lăng
Ngưu mã mê nhai sĩ
Dĩ ngạn băng bạo lôi
Hồng đào kiến kỳ quỷ
Nguy hiểm thắng nhân tâm
Khuynh phúc diệc thiên ý
Ngã vọng Lam Giang đầu
Thốn tâm thường chủy chủy
Thường khủng nhất thất túc
Cốt một vô để chỉ
Như hà thế gian nhân
Thừa hiểm bất tri úy
Khứ giả hà thao thao
Lai giả thượng vị dĩ
Đế đức bản hiếu sinh
Ná đắc trường như thị
Nghĩ khu Thiên Nhận sơn (1)
Điền bình ngũ bách lý

43/249. SÔNG LAM

Sớm ra nhìn sông Lam
Mùa thu nước lên đầy
Cá bơi trên gò bãi
Trâu ngựa lạc bến bờ
Bờ lở ầm như sấm
Sóng dâng như thủy quái
Nguy hiểm vượt lòng người
Sụt lở do ý trời
Ta nhìn đầu sông Lam
Lòng dạ sao áy náy
Nhỡ không may sảy chân
Chìm xuống tận đáy sâu
Người thế gian hay nhỉ
Chẳng nề hà hiểm nguy
Kẻ đi qua ào ào
Người trở về cũng nhiều
Trời vốn đức thương người
Cớ sao để như vầy
Cầu đẩy núi Thiên Nhận
Lấp trăm dặm dòng sông

 


 

44/249. NINH CÔNG THÀNH (1)

Độc thướng cao sơn nhãn giới tân
Anh hùng vãng sự quải giang tân
Nhất thành thượng hạ tận kiều mộc
Thập lý uy phong kiến cổ nhân
Thử địa bắc nam quy nhất trục
Đương thì tỉnh táo trú tam quân
Thập niên vị tiết nam nhi hận
Đàn kiếm trường ca đối bạch vân

44/249. THÀNH ÔNG NINH

Một mình lên núi cảnh ta trông
Chuyện cũ anh hùng nơi bến sông
Cây cao trên dưới đầy thành cổ
Người xưa mười dặm còn oai phong
Ngày nay nam bắc chung một gộp
Thời xưa giếng bếp chốn ba quan
Hận làm trai mười năm còn mắc
Đối mây trắng gõ kiếm ca vang

 


 

45/249. KHAI SONG

Môn tiền yên cảnh cận như hà?
Nhàn nhật khai song sinh ý đa
Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa (1)
Nhất đình tích vũ nghĩ di oa
Thanh chiên cựu vật khổ trân tích (2)
Bạch phát hùng tâm không đốt ta (3)
Tái bệnh thượng tu điều nhiếp lực
Bất tri thu tứ đáo thùy gia?

45/249. MỞ CỬA SỔ

Cảnh vật ra sao ở trước nhà?
Ngày nhàn mở cửa xem cảnh xa
Sáu tháng chim bay nương theo gió
Một sân nước đọng kiến rời xa
Khư khư lo giữ nệm xanh mãi
Tóc bạc khí hùng nhuốm phôi phai
Còn bệnh phải lo tu bổ sức
Chẳng biết ý thu tạt nhà ai?

 


 

46/249. ĐỐI TỬU

Phu tọa nhàn song túy nhỡn khai
Lạc hoa vô số há thương đài
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi?
Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ
Niên quang ám trục bạch đầu lai
Bách ky đản dắt chung triêu túy
Thế sự phù vân chân khả ai

46/249. NGỒI UỐNG RƯỢU

Nhàn ngồi bên cửa mắt nửa say
Trên thảm rêu xanh hoa rụng đầy
Lúc sống rượu chén không uống cạn
Chết đi ai tưới ruợu mộ đây?
Sắc xuân đổi chim vàng xa lánh
Tháng ngày ám tóc bạc càng dồn
Ước cả năm cứ say sưa miết
Việc đời mây nổi thật đáng buồn


 

47/249. SƠN THÔN

Vạn sơn thâm xứ tuyệt phong trần
Thác lạc sài môn bế mộ vân
Trưởng giả y quan do thị Hán (1)
Sơn trung giáp tý quýnh phi Tần (2)
Mục nhi giác chủy hoang giao mộ
Cấp nữ đồng liên ngọc tỉnh xuân
Ná đắc khiêu ly phù thế ngoại
Trường tùng thụ hạ tối nghi nhân

47/249. XÓM NÚI

Sâu giữa muôn núi khuất gió trần
Cổng tre rải rác lẩn trong mây
Người sang còn mặc y kiểu Hán
Tháng năm trong núi khác đời Tần
Chiều về mục đồng gõ sừng trâu
Giếng ngọc gái quê kéo nước gàu
Ước gì thoát được cõi trần tục
Ngồi dưới cây tùng thú biết bao.

 


 

48/249. ĐIẾU LA THÀNH CA GIẢ (1)

Nhất chi nùng diễm há bồng doanh
Xuân sắc yên nhiên động lục thành
Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh
Trủng trung ưng tự hối phù sinh
Yên chi bất tẩy sinh tiền chướng
Phong nguyệt không lưu tử hậu danh
Tưởng thị nhân gian vô thức thú
Cửu tuyền khứ bạn Liễu Kỳ Khanh (2)

48/249. VIẾNG CA NỮ ĐẤT LA THÀNH

Một cành hoa đẹp rời cõi tiên
Dung nhan diễm lệ sáu thành nghiêng
Đời ai thương cho kẻ bạc mệnh
Hối kiếp phù sinh dưới mồ riêng
Lúc sống nghiệp phấn không rửa hết
Chết đi còn lại tiếng phong lưu
Nghĩ rằng thế gian chẳng ai biết
Suối vàng làm bạn cùng Liễu Khanh

 


 

49/249. TẠP THI I
Nhị thủ

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên
Xuân lan thu cúc thành hư sự
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ
Bạch vân ngọa bệnh Quế Giang biên
Thôn cư bất yếm tần cô tửu
Thượng hữu nang trung tam thập tiền

49/249. THƠ TẠP I

Kẻ tài đầu bạc hướng trời than
Lòng hùng sinh kế cùng gian nan
Xuân lan thu cúc không được việc
Hè nồng đông lạnh cướp tuổi xuân
Chó vàng vui mãi dưới Hồng Lĩnh
Mây trắng bệnh hoài cạnh Quế Giang
Ở thôn thỏa thích được mua rượu
Tiền ba mươi đồng túi rỉnh rang


 

50/249. Tạp Thi II

Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư
Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch
Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư
Tiểu đề tuẫn tục can qua tế
Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư (1)
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự
Tứ thời tâm kính tự như như

50/249. THƠ TẠP II

Sắc núi Hồng soi làn nước phẳng
Một nhà nho ngụ chốn lặng tanh
Mây trắng ngàn dậm quanh giường phủ
Trăng kia một mảnh giọi sách đàn
Loạn ly theo thói đời cười khóc
Lão bệnh nín thinh dưỡng thân tàn
Lá rơi hoa nở việc trước mắt
Bốn mùa tâm trạng vẫn nhẹ nhàng

 


 

51/249. MẠN HỨNG

Long Vĩ châu biên đa bạch âu (1)
Lam Giang đường thượng hữu hàn nho (2)
Nhất sinh từ phú tri vô ích
Mãn giá cầm thư đồ tự ngu
Bách tuế vi nhân bi thuấn tức
Mộâ niên hành lạc tích tu du (3)
Ninh tri dị nhật tây lăng hạ
Năng ẩm trùng dương nhất tích vô (4)

51/249. MẠN HỨNG

Âu trắng đầy cả bãi sông Long
Có một hàn nho ngụ sông Lam
Một đời thi phú chẳng có lợi
Sách đàn đầy kệ càng dại thêm
Trăm năm sống đó thoảng một chốc
Tuổi nhiều vui thú ngắn một lát
Không biết gò tây khi nằm xuống
Giọt rượu Trùng Dương uống được chăng?

 


 

52/249. NGỌA BỆNH I
Nhị Thủ

Đa bệnh đa sầu khí bất thư
Thập tuần khốn ngọa Quế Giang cư (1)
Lệ thần nhập thất thôn nhân phách (2)
Cơ thử duyên sàng khiết ngã thư
Vị hữu văn chương sinh nghiệt chướng (3)
Bất dung trần cấu tạp thanh hư (4)
Tam lan song hạ ngâm thanh tuyệt (5)
Điểm điển tinh thần du thái sợ (6)

52/249. Nằm Bệnh I

Bệnh nhiều sầu thảm cứ triền miên
Quế Giang ngả bệnh mười tuần liền
Thần ôn vào nhà muốn bắt viá
Chuột dạn leo giường gậm sách yên
Đã có văn chương gây nghiệt đâu
Chẳng để bụi trần lẫn sách trong
Giò lan bên cửatiếng ngâm vắng
Chới vơi tinh thần cõi hư không

 


 

53/249. Ngoạ bệnh II

Xuân hàn hạ thử cố tương xâm
Nhất ngoạ Hồng Sơn tuế nguyệt thâm
Minh kính hiểu hàn khai lão sấu
Sài phi dạ tĩnh bế thân ngâm
Thập niên túc tật vô nhân vấn (1)
Cửu chuyển hoàn đan hà xứ tầm (2)
An đắc huyền quan minh nguyệt hiện (3)
Dương quang hạ chiếu phá quần âm

53/249. Nằm Bệnh II

Xuân rét hạ nóng thêm quấy rầy
Nhiều năm Hồng Lĩnh nằm dất dây
Sáng lạnh kính soi già gầy cọm
Đêm vắng than vãn cửa tre cài
Mười năm bệnh cũ nào ai hỏi
Thuốc tiên chín luyện tìm đâu ra
Ước mong cửa chính vầng trăng tỏ
Giọi ánh sángdương đuổi u tà

 


 

54/249. DẠ HÀNH

Lão nạp an miên Hồng Lĩnh vân
Phù âu tĩnh túc noãn sa tân
Nam minh tàn nguyệt phù thiên lý
Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân
Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu
Bạch đầu vô lại chuyết tàng thân
Bất sầu cửu lộ chiêm y duệ
Thả hỷ tu mi bất nhiễm trần

54/249. ĐI ĐÊM

Sư già ngủ trong Hồng Lĩnh mây
Chim âu yên ấm bãi cát dầy
Trăng tàn biển nam xa ngàn dặm
Lối cũ gió lạnh tụ thân đầy
Tối đêm mịt mờ sao chưa sáng
Đầu bạc không nhà vụng ẩn thân
Chẳng ngại đi lâu sương ướt áo
Còn mừng râu mày khỏi bụi trần


 

55/249. TẠP NGÂM I

Thu thanh nhất dạ độ Lam hà (1)
Vô ảnh vô hình nhập ngã gia
Vạn lý tây phong lai bạch phát
Nhất song thu sắc tại hoàng hoa
Bách niên ai lạc hà thời liễu
Tứ bích đồ thư bất yếm đa
Đình thực cô tùng cao bách xích
Bất tri Thanh đế nại nhân hà (2)

55/249. TẠP NGÂM I

Tiếng thu vượt sông Lam đêm qua
Không hình không ảnh chợt lọt nhà
Muôn dặm gió tây bạc thêm tóc
Bên cửa sắc thu vàng thêm hoa
Trăm năm vui khổ bao giờ cạn
Bốn vách sách thơ chang ngại đầy
Trước sân cây tùng cao trăm thước
Chúa xuân khó xử người trồng cây?

 


 

56/249. TẠP NGÂM II

Long Vĩ gia đầu ốc nhất gian
U cư sầu cực hốt tri hoan
Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt
Xử sĩ môn tiền thanh giả san
Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt
Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan
Tào đầu trung nhật vô yên hỏa
Song ngoại hoàng hoa tú khả san

56/249. TẠP NGÂM II

Đầu sông Long Vĩ có một nhà
Ẩn nhân buồn quá phát vui ra
Tâm đạt lòng quang như trăng tỏ
Trước nhà toàn núi xanh ngát xa
Chồng sách nương gối đỡ thân bệnh
Bên đèn nhấp rượu giúp sắc da
Sau bếp suốt ngày chẳng nhóm lửa
Ngoài cửa no ngắm đóa hoàng hoa


 

57/249. TẠP NGÂM III

Mạc mạc thu quang bát nguyệt thâm
Mang mang thiên khí bán tình âm
Thụ phong cao trúc minh thiên lại
Linh vũ hoàng hoa bố địa câm (kim)
Viễn tụ hàn xâm du tử mộng
Trừng đàm thanh cộng chủ nhân tâm
Xuất môn từ bộ khan thu sắc
Bán tại giang đầu phong thụ lâm

57/249. TẠP NGÂM III

Man mác cảnh thu tháng tám trầm
Mênh mông trời nửa nắng nửa râm
Hưởng gió trúc cao vang tiếng sáo
Hứng mưa hoa cúc vàng đầy sân
Hơi núi lạnh len thân kẻ mộng
Nước đầm trong bồi lòng chủ nhân
Nhàn nhã ra cửa sắc thu ngắm
Đầu sông thấy nửa rừng phong gần.


 

58/249. TẶNG THỰC ĐÌNH

Thiên hạc đàm ngư hà xứ tầm
La thành nhất biệt thập niên thâm (1)
Đồng niên đối diện cách thiên nhưỡng (2)
Vãng sự hồi đầu thành cổ câm (kim)
Bạch phát tiên ma bần sĩ khí
Đề bào trân trọng cố nhân tâm (3)
Mạc sầu tịch địa vô giai khách
Lam thủ Hồng sơn túc vịnh ngâm (4)

58/249. TẶNG ANH THỰC ĐÌNH

Chim trời cá nước tìm đâu ra
Chục năm ròng rã biệt thành La
Cùng năm đối mặt trời chia cách
Chuyện xưa nghĩ lại như cũ xa
Bạc đầu sờn chí khí kẽ sĩ
Áo thô trân quý tâm người xưa
Chớ lo hẻo lánh không bạn đến
Núi Lĩnh sông Lam ca càng ưa

 


 

59/249. PHÚC THỰC ĐÌNH

Đông hàn hạ thử cố xâm tầm
Lão đại đầu lô tuế nguyệt thâm
Kinh quốc oanh hoa thiên lý ngoại
Giang hồ soa lập thập niên câm
Tụ đầu nan đắc thường thanh mục (1)
Lý phát đương tri vị bạch tâm
Lam thủ Hồng sơn vô hạn thắng
Bằng quân thu thập trợ thanh ngâm

59/249. TRẢ LỜI ANH THỰC ĐÌNH

Đông rét hạ nóng trôi lần qua
Đầu bạc tháng ngày chồng chất pha
Hoa, chim kinh quốc xa ngàn dặm
Phiêu lưu áo nón đã mười năm
Chốn hội hè khó gặp kẻ mắt xanh
Chải tóc chợt thấy lòng còn vướng
Núi Hồng nước Lam cảnh đẹp thanh
Tha hồ anh cảm thơ đề xướng

 


 

60/249. LIỆP

Y quan đạt giả chí thanh vân (1)
Ngô diệc lạc ngô mi lộc quần
Giả thích nhàn tình an tại hoạch (2)
Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân
Xạ miên thiển thảo hương do thấp
Khuyển độ trùng sơn phê bất văn
Phù thế vi hoan các hữu đạo
Khu xa ủng cái thị hà nhân (3)

60.249. ĐI SĂN

Mặc người vinh hiển rộng đường mây
Riêng ta vui thú cùng bầy nai
Cho tâm thư thái, đâu cần bắt
Ví dù hại thú chẳng hại ai
Chồn ngủ bãi cỏ mùi còn đấy
Chó sủa băng núi tiếng thoảng tai
Đời người tìm vui có nhiều lối
Kẻ xe lọng rước biết là ai

 


 

61/249. KÝ HỮU

Hồng Sơn sơn nguyệt nhất luân minh
Thiên Lý Trường An thử dạ tình (1)
Thái phác bất toàn chân diện mục (2)
Nhất châu hà sự tiểu công danh (3)

Hữu sinh bất đái công hầu cốt
Vô tử chung tầm thỉ lộc minh
Tiễn sát bắc song cao ngọa giả (4)
Bình cư vô sự đáo hư linh

61/249. GỬI BẠN

Núi Hồng đêm sáng ánh trăng rơi
Trường An ngàn dăm dạ rối bời
Ngọc sâu trong đá khó giữ mặt
Sá gì danh mọn chốn xa xôi

Sanh ra công hầu đâu được rắc
Sống dai có ngày bạn cùng nai
Ước gì nằm khểnh bên cửa bắc
An nhàn chẳng bận rộn tâm ai

 


62/249. LA PHÙ GIANG THỦY CÁC ĐỘC TỌA

Thủy các các hạ, giang thủy thâm
Thủy các các thượng, nhân trầm ngâm
Du du vân ảnh biến thần tịch
Cổn cổn lãng hoa phù cổ câm

Trần thế bách niên khai nhãn mộng
Hồng Sơn thiên lý ỷ lan tâm
Bồi hồi đối ảnh độc vô ngữ
Bạch phát sổ hành thùy ngã khâm

62/249. NGỒI MỘT MÌNH TRÊN THỦY CÁC Ở SÔNG LA PHÙ

Dưới sàn lầu thủy thẳm nước sông
Trên sàn lầu thủy khách trầm ngâm
Sớm chiều lang thang mây chuyển bóng
Sóng vờn cuồn cuộn cuốn cổ kim

Trăm năm cuộc thế mở mắt mộng
Ngàn dặm tựa song nhớ núi Hồng
Bồi hồi ngắm cảnh lời chẳng thốt
Trên áo phất phơ tóc bạc buông


63/249. SƠ NGUYỆT

Hấp đắc dương quang tái thướng thiên
Sơ tam sơ tứ vị đoàn viên
Thường Nga trang kính vi khai hạp
Tráng sĩ loan cung bất thướng huyền

Thiên lý quan sơn vô cải sắc
Nhất đinh sương lộ cộng sầu miên
Bồi hồi chính ức Hồng Sơn dạ
Khước tại La phù giang thủy biên

63/249. TRĂNG NON

Vừa ló dạng hút ánh sáng trời
Mùng ba mùng bốn trăng còn vơi
Nàng Nga gương sáng vừa hé nắp
Cung cong tráng sĩ dây còn lơi

Ngàn dậm quan san không đổi sắc
Đầy sân sương rắc ngủ buồn thêm
Nao lòng nhớ lại đêm Hồng Lĩnh
Sông nước La Phù nay kề bên


64/249 NGẪU HỨNG
Nhị thủ

I

Sơ canh cổ giác ngũ canh kê
Chung dạ bồi hồi tứ chuyển mê
Minh nguyệt mãn thiên hà cố cố
Tây phong suy ngã chính thê thê

Thương tàn vật tính bi phù hĩnh (1)
Khắc lạc thiên chân thất mã đề (2)
Nhược ngô sơn trung mi lộc hữu
Yên hà cựu thoại bất kham đề

64/249 NGẪU HỨNG

I

Tiếng trống canh đầu, gà canh năm
Bồi hồi thao thức nghĩ quẩn quanh
Trăng sáng sao trời vẫn vậy vậy
Gió tây thổi buốt rét căm căm

Thương chân vịt ngắn chẳng nối được
Thương ngựa gọt móng mất chân thiên
Trên núi có duyên hươu làm bạn
Chuyên xưa mây khói chẳng bàn thêm

 


65/249 NGẪU HỨNG
Nhị thủ

II

Nhất lệ thiên thai sái đoạn bồng
La Phù giang thượng khởi thu phong
Hoàng vân bạch thủy lưỡng tương chiếu
Cấp quản bi ti vạn bất đồng

Lục xích câu mi trường dịch dịch
Tứ thời phao trịch thái thông thông
Chinh hồng ảnh lý gia hà tại?
Ẩn ẩn Quỳnh vân tam lưỡng phong

65/249 NGẪU HỨNG

II

Nhỏ lệ thương thân như cỏ bồng
La Phù thu gió trổi trên sông
Mây vàng chiếu xuống làn nước bạc
Tiếng đàn tiếng sáo như lạc cung

Tấm thân sáu thước cứ chao đao
Bốn mùa vùn vụt tựa thoi đưa
Nhà đâu dưới bóng chim hồng đảo
Thấp thoáng mây Quỳnh vài núi cao


66/249. MỘ XUÂN MẠN HỨNG

Nhất niên xuân sắc cửu thập nhật
Phao trịch xuân quang thù khả liên
Phù thế công danh khan điểu quá
Nhàn đình tiết tự đái oanh thiên

Trắc thân bất xuất hữu hình ngoại
Thiên tuế trường ưu vị tử tiền
Phù lợi vinh danh chung nhất tán
Hà như cập tảo học thần tiên

66/249. CUỐI XUÂN CẢM HỨNG

Một năm xuân thắm chín mươi ngày
Nỡ để xuân trôi thật tiếc thay
Công danh tựa cánh chim chợt vút
Sân nhàn thời tiết theo oanh bay

Còn thân làm sao trốn khỏi kiếp
Ngàn năm bận bịu chuyện sống còn
Danh hão chung cuộc rồi cũng biến
Sao bằng theo học đạo thần tiên


67/249. THANH MINH NGẪU HỨNG

Đông phong trú dạ động giang thành
Nhân tự bi thê, thảo tư thanh
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng
Thiên nhai vô tửu đối thanh minh
Thôn ca sơ học tang ma ngữ
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn
Mạc giao mao thảo cận giai sinh

67/249. TIẾT THANH MINH NGẪU HỨNG

Gió đông thổi suốt đêm qua thành
Người cứ sầu thảm, cỏ cứ xanh
Tấm thân ngày xuân không trẻ nữa
Thanh minh không rượu thôi cũng đành
Dân ca thêm hiểu kẻ trồng dâu
Nức nở ngoài đồng vẳng chiến tranh
Day dứt khách xa buồn vô kể
Chớ để cỏ tranh mọc gần quanh


68/249. THANH QUYẾT GIANG VĂN DIỂU (1)

Phù kiều tận xứ xuất bình điền
Lịch lịch thanh sơn tại nhãn tiền
Cổ kính tiều qui minh nguyệt đảm
Triều môn ngư tống tịch dương thuyền

Mang mang viễn thủy tam xuân thụ
Lạc lạc nhân gia lưỡng ngạn yên
Cực mực hương quan tại hà xứ?
Chinh hồng sổ điểm bạch vân biên

68/249. CHIỀU NGẮM CẢNH TRÊN SÔNG THANH QUYẾT

Qua cầu nổi thấy đồng bằng xa
Giăng giăng dẫy núi trước mắt ta
Đường cổ tiều ông về trăng sáng
Nước triều thuyền đẩy dưới nắng tà

Mênh mông nước trải mờ cây cối
Lác đác nhà dân khói bên sông
Nhướng mắt tìm quê hương cố quận
Chỉ thấy mây trắng đốm chim hồng

 


69/249. ĐỒNG LUNG GIANG

Đồng Lung giang thủy khứ du du
Kim cổ nhàn sầu bất trú lưu
Sa chủy tàn lô phi bạch lộ
Lũng đầu hàn nguyệt ngọa hàn ngưu

Loạn sơn thúy tiếp cô thành mộ
Thủy trúc hàn sinh tiểu điếm thu
Tiễn nhĩ dã âu tùy thủy khứ
Phù sinh lao lực kỷù thời hưu?

69/249. SÔNG ĐỒNG LUNG

Đồng Lung nước chảy cuốn mịt mờ
Mối sầu mới cũ chẳng lưu bờ
Cuối bãi cò trắng bay qua sậy
Đâu ghềnh trăng lạnh trâu nằm mơ

Núi xanh lởm chởm nối thành vắng
Hơi trúc thu lạnh chiếc lều xinh
Thèm như đàn âu lượn trên sóng
Cực đến bao giờ kiếp phù sinh?


70/249. ĐỒNG LƯU LỘTHƯỢNG DAO KIẾN SÀI SƠN

Sài Sơn sơn thượng đa phù vân
Sài Sơn sơn hạ thạch lân lân
Đồng Lư lộ thượng tây kiều thủ
Tú sắc thương nhiên lai chiếu nhân

Lịch lịch lâu đài thiên ngoại kiến
Vi vi trung cổ nguyệt trung văn
Thanh sam tẩu biến hồng trần lộ
Viên hạc hà tòng nhận cựu lân?

70/249. NHÌN SÀI SƠN TRÊN ĐƯỜNG ĐỒNG LƯ

Trên đỉnh Sài Sơn mây xen mây
Còn núi Sài Sơn đá chiếm đầy
Con đường Đồng Lư trời tây ngắm
Sắc xanh tuyệt mỹ chiếu người đây

Từ xa lâu đài thấy rõ mắt
Vẳng nghe tiếng trống ánh trăng bày
Áo xanh chốn bụi hồng dạo khắp
Vượn hạc nhận ra phải gặp may?

 


71/249. LẠNG SƠN ĐẠO TRUNG (1)

Vạn mộc sơn tiền khả bốc cư
Bạch vân tại tụ thủy thông cừ
Sơn tăng đối trúc lưỡng vô dạng
Mục thụ kỵ ngưu nhất bất như

Ảnh lý tu mi khan lão hỷ
Mộng trung tùng cúc ức qui dư
Tọa gia thôn tẩu đa nhàn sự (2)
Chỉ vì bình sinh bất độc thư

71/249. TRÊN ĐƯỜNG ĐI LẠNG SƠN

Giữa rừng cây rậm dựng được nhà
Mây núi tích tụ khe nước ra
Kìa tăng, kìa trúc bình yên quá
Sướng nhất cưỡi trâu mục đồng xa

Soi kính mày râu thấy mình già
Cúc tùng trong mộng muốn về nhà
Làm kẻ ngồi nhàn trong thôn xóm
Không hề đọc sách càng nhẩn nha

 


72/249. VỌNG PHU THẠCH

Thạnh da? nhân da? bỉ hà nhân?
Độc lập sơn đầu thiên bách xuân
Vạn kiếp yểu vô vân vũ mộng (1)
Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân

Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ
Đài triện trường minh nhất đoạn văn
Tứ vọng liên sơn diểu vô tế
Độc giao nhi nữ thiện di luân

72/249. ĐÁ NGÓNG CHỒNG

Phải người? Phải đá? Hỏi ai đây?
Sừng sững trên núi ngàn năm nay
Chẳng mộng mây mưa cả vạn kiếp
Cổ kim thanh khiết thân vẫn đầy

Dòng lệ mưa thu không ngưng chảy
Thảm rêu như khắc đoản văn chương
Bốn bề núi dăng hàng lớp lớp
Dành riêng phận nữ giữ đạo thường

 


73/249. ĐỀ NHỊ THANH ĐỘNG

Bàn cổ sơ phân bất ký niên
Sơn trung sinh quật, quật sinh tuyền
Vạn ban thủy thạch thiện đại xảo
Nhất lạp càn khôn khai tiểu thiên

Mãn cảnh giai không hà hữu tướng (1)
Thử tâm thường định bất ly thiền
Đại sư vô ý diệc vô tận (2)
Phủ thán thành trung đa biến thiên

73/249. ĐỀ ĐỘNG NHỊ THANH

Bàn cổ xưa nay bao năm rồi
Hang sâu trong núi nước vẫn trôi
An bài khéo léo suối cùng đá
Một hạt càn khôn một mảnh trời

Khắp cõi là không sao có tướng
Tấm lòng thiền đạo quyết không vơi
Phật cao không tâm cũng không ý
Nhìn thành thay đổi dạ bồi hồi

 


74/249. QUỈ MÔN ĐẠO TRUNG

Quỷ môn thạch kính xuất vân côn (căn) (1)
Chinh khách nam qui dục đoạn hồn
Thụ thụ đông phong suy tống mã
Sơn sơn lạc nguyệt dạ đề viên

Trung tuần lão thái phùng nhân lãn (2)
Nhất lộ hàn uy trượng tửu ôn
Sơn ổ hà gia đại tham thụy?
Nhật cao do tự yểm sài môn

74/249. TRÊN ĐƯỜNG QUA QUỈ MÔN

Đường qua Quỉ môn tỏa khói mây
Lữ khách xuôi nam dạ gây gây
Gió đông chèn cây thổi ngựa tiễn
Trăng lặn đầu non vượn hú đầy

Nửa già tiếp khách đâm lười biếng
Đi đường gặp lạnh rượu nhấp hoài
Nhà ai xóm núi còn ham ngủ?
Mặt trời đã lên cửa vẫn cài

 


75/149. XUÂN TIÊU LỮ THỨ

Tiêu tiêu bồng mấn lão phong trần
Ám lý thiên kinh vật hậu tân
Trì thảo vị lan thiên lý mộng (1)
Đình mai dĩ hoán nhất niên xuân (2)

Anh hùng tâm sự hoang trì sính
Danh lợi doanh trường lụy tiếu tần
Nhân tự tiêu điều xuân tự hảo
Đoàn Thành thành hạ nhất triêm cân (3)

75/149. ĐÊM XUÂN LỮ THỨ

Đầu tóc bạc phơ với gió trần
Cảnh vật thấy đổi sợ muôn phần
Còn mộng “ao cỏ” xa ngàn dặm
Cây mai sân trước lại một xuân

Trí hùng một tâm đà nguội lạnh
Công danh thêm lụy khóc cười nhăn
Thân thể tang thương, xuân vẫn đẹp
Đứng dưới Đoàn Thành lệ sũng khăn

 


76/249. KHỔNG TƯỚC VŨ

Khổng tước phủ hoài độc
Ngộ phục bất khả y
Ngoại lộ văn chương thể
Trung tàng sát phạt ky

Nhân khoa dung chỉ thiện
Ngã tích vũ mao kỳ
Hải hạc diệc hội vũ
Bất dữ thế nhân tri

76/249. CHIM CÔNG MÚA

Gan lòng chim công độc
Ăn vào chẳng chữa được
Trông ngoài chim đẹp thế
Trong thân độc hại người

Ai khen đẹp cái dáng
Ta tiếc lông tuyệt vời
Hạc biển cũng múa đấy
Nhưng che mắt người đời


77/249. ĐIỆP TỬ THƯ TRUNG

Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương (1)
Tạ khước phong lưu vị thị cuồng
Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịnh
Tàn hồn vô lệ khốc văn chương

Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng
Huỳnh tản nan hôi cẩm tú trường (2)
Văn đạo dã ưng cam nhất tử (3)
Dâm thư do thắng vị hoa mang.

77/249. CON BƯỚM CHẾT TRONG SÁCH

Lưu trong phòng sách đà nhiễm hương
Từ giã phong lưu chẳng cuồng ngông
Chết sớm chút duyên lưu cùng sách
Hồn tàn khôn lệ cảm văn chương

Mọt sách vượt qua cơn gấm mộng
Đóm đèn khôn tắt tấm lòng vương
Nghe đạo sớm vui dù phải chết
Say thơ hơn cả đắm hoa hương

 


78/249. ĐỘC TIỂU THANH KÝ (1)

Tây Hồ hoa uyển tận thành khư
Độc điếu song tiên nhất chỉ thư
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư (2)

Cổ kim hậnsựthiên nan vấn
Phong vận kỳoan ngã tự cư
Bất tri tam bách dư niên hậu (3)
Thiên hạhàn hân khấpTố Như?

78/249. ĐỌC TẬP TIỂU THANH KÝ

Hồ Tây vườn Uyển thành gò hoang
Biết nàng bên cửa cánh thơ tàn
Má đào có thiêng hẳn nhỏ lệ
Thơ văn vắn số đốt còn vương

Khó hỏi nhà trời hận xưa nay
Lậm vòng phong nhã đã cùng mang
Ba trăm năm tới làm sao biết
Người đời có ai khóc Như chăng?

 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.