Oct 21, 2019

Cổ thi Việt Nam

Thơ Chữ Hán - Thanh Hiên Thi Tập 清軒詩集
Nguyễn Du (1766 - 1820) * đăng lúc 07:22:52 PM, Jul 07, 2008 * Số lần xem: 8312
*

Xin Xem muc tác giả Băng Ðình :
Băng Ðình đã dịch tác phẩm (thơ Chữ Hán này ra thơ tiếng việt).
*

Thanh Hiên Thi Tập 清軒詩集

Quỳnh Hải nguyên tiêu
Xuân nhật ngẫu hứng

Tự thán (bài 1)
Sơn cư mạn hứng
U cư (bài 1)
U cư (bài 2)
Mạn hứng (bài 2)
Xuân dạ
Lưu biệt Nguyễn Đại Lang
Thu chí
Thu dạ
Bát muộn
Trệ khách
Đại nhân hí bút
Kí mộng
Kí hữu
Đối tửu
Điếu La Thành ca giả
Ngọa bệnh
Tạp ngâm (bài 1)
Kí hữu
Thanh minh ngẫu hứng
Quỷ Môn đạo trung
Xuân tiêu lữ thứ
Điệp tử thư trung
*
Quỳnh Hải (1) nguyên tiêu

瓊海元宵
元夜空庭月滿天
依依不改舊嬋娟
一天春興誰家落
萬里瓊州此夜圓
鴻嶺無家兄弟散
白頭多恨歲時遷
窮途憐汝遙相見
海角天涯三十年

Phiên âm: Quỳnh Hải (1) nguyên tiêu

Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên
Y y bất cải cựu thiền quyên (2)
Nhất thiên xuân hứng thùy gia lạc
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán (3)
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến
Hải giác thiên nhai tam thập niên (4).

Nguyễn Du

Dịch nghĩa:
Đêm rằm tháng giêng ở Quỳnh Hải

Đêm rằm tháng giêng, sân vắng, trăng
đầy trời Vẻ đẹp của thiền quyên y cũ
không chút thay đổi
Một trời xuân hứng không biết rơi vào nhà ai
Muôn dặm Quỳnh Châu đêm nay (trăng) tròn
Chốn Hồng Lĩnh không có nhà, anh em tan tác
Đầu bạc nhiều giận ngày tháng đổi dời
Đường cùng thương mày từ xa thấy nhau
Nơi góc biển chân trời (tuổi) đà ba
chục năm.

Dịch thơ: Đêm rằm tháng giêng nơi Quỳnh Hải

Rằm tháng giêng trăng vàng lai láng,
Nghìn xưa không đổi dạng thuyền quyên.
Quỳnh Châu muôn dặm đoàn viên,
Một trời xuân hứng xuân riêng nhà nào?
Cảnh Hồng Lĩnh biết bao ly tán!
Bạc mái đầu ngày tháng đổi thay.
Đường cùng mừng thấy nhau đây,
Phương trời lận đận tuổi đầy ba mươi.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm xuất bản, Paris 1995)

Chú thích:
(1) Quỳnh Hải, Quỳnh Châu: Huyện Quỳnh Côi,
tỉnh Thái Bình, quê vợ của Nguyễn Du.
Sau khi Nguyễn Khản thất lộc, Nguyễn Du về
lánh nạn ở Quỳnh Côi.
(2) Thiền quyên: Dáng đẹp đẽ dễ thương.
Nói chung về người lẫn vật, nhưng tục
quen dùng để nói riêng về phụ nữ.
Ở đây chỉ mặt trăng.
(3) Hồng Lĩnh: Núi ở Nghệ Tĩnh.
Nguyễn Du chính quán Hà Tĩnh.
Người anh khác mẹ của Nguyễn Du
là Nguyễn Quýnh âm mưu kết nghĩa
chống lại nhà Tây Sơn, bị bắt không
chịu phục, nên bị giết. Dinh cơ của họ
Nguyễn cùng nhà cửa của đồng bào theo
Nguyễn Quýnh đều bị phá hủy. Anh em
Nguyễn Du chạy lánh nạn mỗi người mỗi nơi.
(4) Tam thập niên: Câu này có người cắt
nghĩa là: "Ở nơi góc bể chân trời ba
chục năm". Giải nghĩa như thế e sai,
vì Nguyễn Du lúc chạy đến Quỳnh Côi
lánh nạn, tuổi mới trên đôi mươi
(sanh năm 1765, đậu tam trường năm 1784,
chạy giặc năm 1786). Và lênh đênh nơi quê
vợ chỉ trên dưới mười năm. Như vậy phải
giải nghĩa là "tuổi ba mươi" mới đúng.

***

Xuân nhật ngẫu hứng

春日偶興

患氣經時戶不開
逡巡寒暑故相催
他鄉人與去年別
瓊海春從何處來
南浦傷心看綠草
東皇生意漏寒梅
鄰翁奔走村前廟
斗酒雙柑醉不回

Phiên âm: Xuân nhật ngẫu hứng

Hoạn khí kinh thời hộ bất khai
Thuân tuần hàn thử cố tương thôi
Tha hương nhân dữ khứ niên biệt
Quỳnh Hải xuân tòng hà xứ lai
Nam phố thương tâm khán lục thảo
Đông hoàng sinh ý lậu hàn mai
Lân ông bôn tẩu thôn tiền miếu
Đấu tửu song cam túy bất hồi

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Ngày xuân ngẫu hứng

Lâu nay khí trời xấu không mở cửa
Lần lữa mùa lạnh mùa nóng đẩy nhau qua
Nơi đất khách người với năm cũ từ biệt nhau
Ở Quỳnh Hải xuân từ đâu lại?
Tại bến Nam đau lòng nhìn cỏ xanh
Cái ý của chúa xuân lộ ra trên hoa mai lạnh
Ông hàng xóm rảo bước ra miếu đầu thôn
Uống đấu rượu với hai trái cam say không về

Dịch thơ: Ngẫu hứng ngày xuân

Trời xấu lâu ngày không mở cửa,
Nóng lạnh mùa lần lữa theo nhau.
Quê người năm cũ tiễn mau,
Ở nơi Quỳnh Hải xuân đâu lại về.
Bến cỏ xanh não nề lòng khách,
Ý chúa xuân mai lạnh phô bày.
Miếu đầu lão xóm ra ngay,
Rượu vò hai quả cam say chưa về.

Đặng Thế Kiệt dịch

***
Tự thán (kỳ nhất)

自嘆 (其一)

生未成名身已衰
蕭蕭白髮暮風吹
性成鶴脛何容斷
命等鴻毛不自知
天地與人屯骨相
春秋還汝老鬚眉
斷蓬一片西風急
畢竟飄零何處歸

Phiên âm: Tự thán (kỳ nhất)

Sinh vị thành danh thân dĩ suy
Tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy
Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn (1)
Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri
Thiên địa dữ nhân truân cốt tướng
Xuân thu hoàn nhữ lão tu mi
Đoạn bồng nhất phiến tây phong (2) cấp
Tất cánh phiêu linh hà xứ quy

Dịch nghĩa: Tự thán

Sinh ra chưa làm nên danh phận gì,
thân đã suy yếu
Tóc bạc phơ phơ, gió chiều thổi
Chân hạc tánh vốn dài, cắt ngắn làm sao được
Mệnh trời nhẹ như lông hồng mà không tự biết
Trời đất phú cho người cái cốt tướng gian truân
Xuân thu đưa về cho mày bộ râu già cỗi
Một ngọn cỏ bồng lìa gốc trước trận
gió tây thổi gấp
Cuối cùng, không biết trôi nổi về xứ nào?

Dịch thơ: Tự thán

Sống chửa nên danh đã yếu mòn
Phơ phơ tóc bạc gió chiều hôm
Vốn như chân hạc dài sao cắt
Mệnh tựa lông hồng nhẹ biết không
Trời đất phú cho thân lận đận
Xuân thu đem lại mặt già hom
Gió tây thổi bật thân lìa gốc
Phiêu giạt về đâu ngọn cỏ bồng

Chú thích:

(1) Hạc hĩnh: Ống chân hạc. Trang Tử nói:
"Chân le dù ngắn, nối thêm thì nó lo,
chân hạc dù dài, chặt bớt thì nó xót"
(Phù hĩnh tuy đoản, tục chi tắc ưu,
hạc hĩnh tuy trường, đoạn chi tắc bi 鳧
脛雖短, 續之則憂, 鶴脛雖長, 斷之則悲,
Trang Tử 莊子, Biền mẫu 駢拇). Ý nói
không thể làm trái tánh tự nhiên.
(2) Tây phong: Gió tây. Trong văn thơ,
Nguyễn Du thường nhắc đến gió tây,
để ám chỉ nhà Tây Sơn.

***

Sơn cư mạn hứng

山居漫興

南去長安千里餘
群峯深處野人居
柴門晝靜山雲閉
藥圃春寒隴竹疏
一片鄉心蟾影下
經年別淚雁聲初
故鄉弟妹音耗絕
不見平安一紙書

Phiên âm: Sơn cư mạn hứng

Nam khứ Trường An thiên lý dư
Quần phong thâm xứ dã nhân cư
Sài môn trú tĩnh sơn vân bế
Dược phố xuân hàn lũng trúc sơ
Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ
Kinh niên biệt lệ nhạn thanh sơ
Cố hương đệ muội âm hao tuyệt
Bất kiến bình an nhất chỉ thư.

Nguyễn Du

Dịch nghĩa: Ở núi cảm hứng lan man

Cách Trường An hơn nghìn dặm về phía nam
Trong dãy núi sâu, người thôn dã nương náu
Ngày yên tĩnh, mây núi che kín cửa sài
(cửa bằng củi)
Mùa xuân lạnh, hàng trúc quanh vườn thuốc
nơi thung lũng trông thưa thớt
Một mảnh lòng nhớ quê thẫn thờ dưới
ánh trăng
Dòng lệ biệt ly đã lâu ngày khơi trào
theo tiếng nhạn đầu mùa
Em trai em gái nơi quê nhà,
tin tức bị dứt hẳn
Không có một tờ thư cho biết
có bình an hay không.

Dịch thơ: Sơn cư mạn hứng

Ngoảnh lại trời Nam khuất Đế thành,
Trập trùng núi thẳm túp lều tranh.
Cửa sài vắng vẻ mây giăng trắng,
Vườn thuốc đìu hiu trúc rũ xanh.
Trăng dõi niềm quê ngơ ngẩn bóng,
Nhàn khơi lệ biệt sụt sùi canh.
Em xa nhà cách bao năm tháng!
Không một hàng thư gởi gắm tình.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm xuất bản, Paris 1995)

***
U cư

幽居

桃花桃葉落紛紛
門掩斜扉一院貧
住久頓忘身是客
年深更覺老隨身
異鄉養拙初防俗
亂世全生久畏人
流落白頭成底事
西風吹倒小烏巾

Phiên âm: U cư

Đào hoa đào diệp (1) lạc phân phân
Môn yểm tà phi nhất viện bần
Trú cửu đốn vong thân thị khách
Niên thâm cánh giác lão tùy thân
Dị hương dưỡng chuyết (2) sơ phòng tục
Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân
Lưu lạc bạch đầu thành để sự
Tây phong xuy đảo tiểu ô cân (3)

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Ở nơi u tịch

Hoa đào lá đào rụng tơi bời
Cánh cửa xiêu vẹo che một gian nhà nghèo
Ở trọ lâu ngày quên lửng mình là khách
Năm chầy càng biết là cái già theo
bên mình
Ở đất khách, nên nuôi cái vụng về để
phòng thói đời
Sống đời loạn, muốn bảo toàn sinh mệnh
từ lâu phải sợ người
Lưu lạc đến bạc đầu mà có nên chuyện gì đâu
Gió tây thổi rơi cái khăn đen nhỏ

Dịch thơ: U cư

Đào rụng đầy sân lá tiếp hoa,
Một gian lều nát khép lơ là.
Trọ lâu quên bẵng thân là khách,
Tới mãi thành quen tuổi cõng già.
Thời loạn nể người mong sống trọn,
Thói đời giả vụng chút phòng xa.
Nổi chìm tóc bạc chưa nên việc,
Thổi bật khăn đầu trận gió qua.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi,An Tiên tái bản, France,1995)

Chú thích:
(1) Đào hoa đào diệp: Hoa đào rụng
rồi đến lá đào rụng. Hết xuân hoa đào rụng,
sang thu lá đào rụng. Ý nói hết
xuân đến thu, tháng ngày đi vun vút.
(2) Dưỡng chuyết: Nuôi dưỡng sự vụng về.
Lão Tử: "Đại xảo nhược chuyết"大巧若拙
(chương XLV) Rất khéo léo dường như vụng về.
(3) Tiểu ô cân: Khăn đen nhỏ.
Người giàu sang bịt khăn to lớn.
Nghèo không sắm nổi khăn lớn,
tạm bịt chiếc khăn nho nhỏ để che
mái tóc bạc. Thế mà gió Tây cũng
thổi cho rơi! Đã khốn khổ đến thế mà
con Tạo còn trớ trêu.

***

007-2
U Cư 2

幽居

十載風塵去國賒
蕭蕭白髮寄人家
長途日暮新遊少
一室春寒舊病多
壞壁月明蟠蜥蜴
荒池水涸出蝦蟆
行人莫誦豋樓賦
强半春光在海涯

Phiên âm: U cư

Thập tải phong trần khứ quốc xa
Tiêu tiêu bạch phát kí nhân gia
Trường đồ nhật mộ tân du thiểu
Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa
Hoại bích nguyệt minh bàn tích dịch
Hoang trì thủy hạc xuất hà ma
Hành nhân mạc tụng Đăng lâu phú (1)
Cường bán xuân quang (2) tại hải nha (nhai)

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Ở nơi u tịch

Mười năm gió bụi, bỏ quê hương đi xa
Phơ phơ đầu bạc ở nhờ vả nhà người
Đường dài, ngày tối, bạn mới ít
Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều
Vách hư bóng trăng soi sáng, thằn lằn
bò quanh
Ao hoang nước khô cạn, ễnh ương nhảy ra
Kẻ đi đường chớ đọc phú Đăng Lâu
Quá nửa tuổi xuân ở nơi góc biển rồi

Dịch thơ: U cư

Mười năm gió bụi biệt gia hương,
Nương cửa người phơ mái tóc sương!
Bạn ít ngày chiều đường diệu vợi
Bệnh nhiều xuân vắng quán thê lương
Trăng soi vách thủng khoanh lằn mối
Nước cạn đầm hoang rộn ễnh ương
Già nửa xuân quang thân góc bể
Qua đường chớ đọc phú lầu Vương

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiên tái bản, France, 1995)

Chú thích:

(1) Đăng Lâu phú: Bài phú "Lên lầu"
của Vương Xán 王粲 (177-277). Vương Xán
là một trong thất tử lừng danh thời
Kiến An 建安 (cuối thời Đông Hán 東漢).
Người đất Lạc Dương, lánh nạn đến nhờ
Lưu Biểu 劉表 ở đất Kinh Châu 荊州.
Một hôm lên lầu thành Giang Lăng,
nhớ quê làm bài Đăng Lâu phú để
giải tỏa nỗi u hoài.
(2) Xuân quang: Ánh sáng mùa xuân.
Đời thanh xuân của con người.

***

Mạn hứng

漫興

行腳無根任轉蓬
江南江北一囊空
百年窮死文章裏
六尺浮生天地中
萬里黃冠將暮景
一頭白髮散西風
無窮今古傷心處
依舊青山夕照紅

Phiên âm: Mạn hứng

Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng
Giang nam giang bắc nhất nang không
Bách niên cùng tử văn chương lí
Lục xích (1) phù sinh thiên địa trung
Vạn lí hoàng quan (2) tương mộ cảnh
Nhất đầu bạch phát tán tây phong
Vô cùng kim cổ thương tâm xứ
Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng

Dịch nghĩa: Mạn hứng

Chân không bén rễ mặc chuyển dời như cỏ bồng
Một chiếc túi rỗng đi hết phía nam sông
sang phía bắc sông
Cuộc đời trăm năm chết rục trong
vòng văn chương
Tấm thân sáu thước sống lênh đênh
giữa vùng trời đất
Muôn dặm mũ vàng đối cùng cảnh
trời chiều
Một đầu tóc bạc bay tung theo ngọn
gió tây
Nơi chứa đựng bao nhiêu chuyện đau
lòng xưa nay
(Ấy là) Dãy núi xanh nhuộm bóng chiều
hồng như cũ.

Dịch thơ: Mạn hứng

Kiếp cỏ bồng chân không bén rễ,
Băc rồi Nam túi nhẹ ven sông.
Văn chương thác vẫn đèo bồng,
Thân trôi nổi mãi trong vòng kiền khôn.
Dặm hoàng quan bồn chồn nắng tắt,
Gió lạnh lùng thổi bật mái sương.
Xưa nay xiết nỗi đoạn trường,
Non xanh dưới ánh tà dương nhuộm hồng.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm xuất bản, Paris 1995)

Chú thích:

(1) Lục xích: "Lục xích thân" nghĩa
là thân sáu thước.
Thân tám thước là thân kẻ anh hùng.
Thân bảy thước là thân kẻ làm trai.
Thân năm thước là thân ngũ đoản của
người thấp kém.
Nguyễn Du tự cho mình chỉ ở trên đám
"ngũ đoản" và ở dưới đám "thất xích",
nên dùng chữ "lục xích". Đó là lời nói khiêm.
(2) Hoàng quan: Mũ vàng tức mũ người đạo sĩ.

***

Xuân dạ

春夜

黑夜韶光何處尋
小窗開處柳陰陰
江湖病到經時久
風雨春隨一夜深
羈旅多年燈下淚
家鄉千里月中心
南臺村外龍江水
一片寒聲送古今

Phiên âm: Xuân dạ

Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm
Tiểu song khai xứ liễu âm âm
Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu
Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm
Ki lữ đa niên đăng hạ lệ
Gia hương thiên lí nguyệt trung tâm
Nam Đài (1) thôn ngoại Long Giang (2) thủy
Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim)

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Đêm xuân

Đêm đen, ánh sáng xuân tìm đâu
Cửa sổ nhỏ mở ra liễu âm u
Chốn giang hồ bệnh đến đã lâu
Trời mưa gió xuân theo đêm sâu
Khách xa nhà nhiều năm, nước mắt rớt dưới đèn
Quê nhà vạn dặm, lòng gởi vầng trăng
Nước sông Lam ngoài thôn Nam Đài
Một tiếng vang lạnh tiễn cổ kim

Dịch thơ: Đêm xuân

Đêm đen, xuân sắc biết tìm đâu
Cửa nhỏ mở ra liễu sẫm màu
Lặn lội bệnh theo ngày tháng mỏi
Gió mưa xuân vắng bóng đêm thâu
Xứ người bao nả, đèn rơi lệ
Quê cũ muôn xa, nguyệt gởi sầu
Cách xóm Nam Đài sông nước thẳm
Lạnh vèo một tiếng biệt xưa sau

Đặng Thế Kiệt dịch

Chú thích:

(1) Nam Đài: Tên xóm nhà Nguyễn Du.

(2) Long Giang: Tức Thanh Long giang,
từ ngã ba Hưng Nguyên trở xuống.

***

010
Lưu biệt Nguyễn Đại Lang

留別阮大郎

西風歸袖柳高林
傾盡離杯話夜深
亂世男兒羞對劍
他鄉朋友重分襟
高山流水無人識
海角天涯何處尋
留取江南一片月
夜來常照兩人心

Phiên âm: Lưu biệt Nguyễn Đại Lang

Tây phong quy tụ liễu cao lâm
Khuynh tận li bôi thoại dạ thâm
Loạn thế nam nhi tu đối kiếm
Tha hương bằng hữu trọng phân khâm
Cao sơn lưu thủy vô nhân thức
Hải giác thiên nhai hà xứ tầm
Lưu thủ giang nam nhất phiến nguyệt
Dạ lai thường chiếu lưỡng nhân tâm

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa:
Bài thơ gửi lại khi chia tay cùng Nguyễn Đại Lang

Gió tây thổi tay áo rừng liễu cao
Dốc chén rượu đưa tiễn nói chuyện đêm khuya
Thời loạn bậc làm trai thẹn mặt nhìn gươm
Ở quê người, bạn bè coi trọng sự chia biệt
Tiếng đàn "núi cao nước chảy" không người hiểu
Góc bể chân trời biết tìm đâu
Xin giữ lấy một mảnh trăng ở phía nam sông
Đêm đến thường soi lòng hai người

Dịch thơ:
Bài thơ gửi lại khi chia tay cùng Nguyễn Đại Lang

Ống tay áo liễu (1) gió bay
Rừng cao dốc chén đêm này hàn huyên
Làm trai không vẹn lời nguyền
Trông gươm mà thẹn nỗi niềm loạn li
Quê người nặng bước chân đi
Núi cao nước chảy (2) ai thì tri âm
Chân trời góc bể mù tăm
Lòng ta soi sáng mảnh trăng dặm trường

Đặng Thế Kiệt dịch

Chú thích:

(1) Liễu: Chỉ sự chia tay. Ngày xưa,
ở Trường An 長安, bên sông Bá 灞, người
ta đưa tiễn bạn thường bẻ tặng một cành liễu.
(2) Núi cao nước chảy: Theo sách
"Lã thị xuân thu" 呂氏春秋, Chung Tử Kì
鍾子期 là người sành nghe nhạc. Một hôm
nghe Bá Nha 伯牙 gảy đàn, Bá Nha nghĩ đến núi,
Tử Kì khen rằng: "Tiếng đàn chót vót như núi
cao", khi Bá Nha nghĩ đến sông, Tử Kì nói:
"Tiếng đàn cuồn cuộn như nước chảy".
Bá Nha coi Tử Kì là người "tri âm" 知音.
Khi Tử Kì mất, Bá Nha đập vỡ đàn
và không gảy nữa.

***

013
Thu dạ 1 & 2

秋夜

[1]
繁星歷歷露如銀
東壁寒虫悲更辛
萬里秋聲催落葉
一天寒色掃浮雲
老來白髮可憐汝
住久青山未厭人
最是天涯倦遊客
窮年卧病歲江津

[2]
白露爲霜秋氣深
江城草木共蕭森
剪燈獨照初長夜
握髮驚懷末日心
千里江山頻悵望
四時煙景獨沉吟
早寒已覺無衣苦
何處空閨催暮砧

Phiên âm: Thu dạ

[1]
Phồn tinh lịch lịch lộ như ngân
Đông bích hàn trùng bi canh tân
Vạn lí thu thanh thôi lạc diệp
Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân
Lão lai bạch phát khả liên nhữ
Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân
Tối thị thiên nhai quyện du khách
Cùng niên ngọa bệnh Tuế Giang (1) tân

[2]
Bạch lộ vi sương thu khí thâm
Giang thành thảo mộc cộng tiêu sâm
Tiễn đăng (2) độc chiếu sơ trường dạ
Ác phát (3) kinh hoài mạt nhật tâm
Thiên lý giang sơn tần trướng vọng
Tứ thời yên cảnh độc trầm ngâm
Tảo hàn dĩ giác vô y khổ
Hà xứ không khuê thôi mộ châm

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Đêm thu

[1]
Sao nhiều và rõ mồn một, sương như bạc
Tường đông tiếng hàn trùng buồn lại xót
Muôn dặm tiếng thu thúc giục lá rụng
Một trời sắc lạnh quét sạch những mây bay
Già đến tóc bạc khá thương mày
Ở lâu non xanh chưa chán người
Nhất là du khách bên trời đã mỏi mệt
Mà năm cùng rồi còn nằm bệnh nơi bờ Tuế Giang

[2]
Móc trắng thành sương, hơi thu đã già
Cây cỏ quanh thành bên sông thảy đều tiêu điều
Một mình khêu ngọn đèn soi đêm dài mới bắt đầu
Vắt tóc nghĩ mà sợ cho chí nguyện mình
trong những ngày cuối
Non sông nghìn dặm bao la thường buồn bã trông
Mây khói bốn mùa một mình lặng lẽ ngậm ngùi
Lạnh sớm mới biết cái khổ vì thiếu áo
Nơi đâu tiếng đập vải của người khuê phụ phòng
không giục giã buổi chiều hôm?

Dịch thơ: Đêm thu

[1]
Sao vàng lấp lánh ánh sương dày,
Dế khóc tường đông giọng đắng cay.
Muôn dặm tiếng thu dồn lá rụng,
Đầy trời sắc lạnh quét mây bay.
Già theo tóc bạc riêng thương đó,
Lòng gởi non xanh chửa chán đây.
Ngán nỗi phương trời thân khách mỏi,
Tuế Giang nằm bệnh suốt năm chầy.

[2]
Móc bạc thành sương thu hắt hiu,
Giang thành cây cỏ thảy tiêu điều.
Đèn khêu riêng cảm đêm dài dặc,
Tóc vắt thầm lo chuyện ấp yêu.
Nghìn dặm nước non sầu vọi vọi,
Tư mùa trăng gió vắng thiu thiu.
Lạnh sơ đã khổ phần không áo,
Đập vải nhà ai rộn bóng chiều.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm xuất bản, Paris 1995)

Chú thích:
(1) Tuế Giang: Tên một khúc sông ở Bắc Việt,
chưa rõ ở tỉnh nào. Đào Duy Anh cho là
Quế Giang 桂江, vì thơ Nguyễn Du còn có câu
"Hồng Sơn sơn hạ Quế Giang thâm"
(Mi trung mạn hứng).
(2) Tiễn đăng: Cắt hoa đèn để cho ngọn
lửa cháy sáng. Có lẽ tác giả liên tưởng
đến hai câu thơ của Lý Thương Ẩn:
"Hà đương cộng tiễn tây song chúc,
"Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thì."
何當共剪西窗燭, 卻話巴山夜雨時. (Bao giờ
cùng nhau cắt hoa đèn nơi tây song,
Kể cho nhau nghe nỗi lòng nơi Ba Sơn
lúc đêm mưa lạnh.)
(3) Ác phát: Theo điển "ác phát thổ bộ"
握髮吐哺 vắt tóc nhả cơm: Chu Công 周公
là một đại thần của nhà Chu rất chăm lo
việc nước. Đương ăn cơm, có khách đến
nhả cơm ra tiếp. Đương gội đầu có sĩ
phu tới, liền vắt tóc ra đón, hết người
này đến người khác, ba lần mới gội đầu
xong. Câu thơ của Nguyễn Du ý nói:
Chí nguyện được đem ra giúp nước như
Chu Công, cuối cùng không biết có toại
nguyện hay chăng. Nghĩ đến lòng vô cùng
lo ngại.

***

Trệ khách

滯客

滯客淹留南海中
寂寥良夜與誰同
歸鴻悲動天河水
戍鼓寒侵夏夜風
人到窮途無好夢
天回苦海促浮蹤
風塵隊裡留皮骨
客枕蕭蕭兩鬢蓬

Phiên âm: Trệ khách

Trệ khách yêm lưu Nam Hải trung
Tịch liêu lương dạ dữ thùy đồng
Quy hồng bi động thiên hà thủy
Thú cổ hàn xâm hạ dạ phong
Nhân đáo cùng đồ vô hảo mộng
Thiên hồi khổ hải xúc phù tung
Phong trần đội lí lưu bì cốt
Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Khách trọ lâu ngày

Khách trọ trì trệ ở chốn Nam Hải
Đêm thanh vắng với ai cùng
Chim hồng về kêu thương động nước sông Ngân
Trống lính thú lạnh thấm vào gió hè
Người tới đường cùng không mộng đẹp
Trời đưa lại bể khổ thúc giục bước chân trôi nổi
Trong đám phong trần để lại (người)da và xương
Gối khách buồn buồn hai mái tóc rối

Dịch thơ: Khách trọ lâu ngày

Vũng biển chần chờ đã bấy lâu
Đêm thanh chia sẻ biết ai đâu
Sông Ngân rợn tiếng chim hồng khóc
Trống ải run lòng gió hạ đau
Kẻ bước đường cùng vời mộng đẹp
Trời đưa bể khổ giục chân mau
Bụi đời vất vưởng bầy xương xẩu
Tóc rối buồn dâng khách gối đầu

Đặng Thế Kiệt dịch

***
Đại nhân hí bút

代人戲筆

錯落人家珥水濱
居然別占一城春
東西橋閣兼天起
胡漢衣冠特地分
苜蓿秋驕金勒馬
葡萄春醉玉樓人
年年自得繁華勝
不管南溟幾度塵

Phiên âm: Đại nhân hí bút

Thác lạc nhân gia Nhị thủy tân
Cư nhiên biệt chiếm nhất thành xuân
Đông tây kiều các kiêm thiên khởi
Hồ Hán y quan đặc địa phân
Mục túc thu kiêu kim lặc mã
Bồ đào xuân túy ngọc lâu nhân
Niên niên tự đắc phồn hoa thắng
Bất quản nam minh kỉ độ trần

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Thay người viết đùa

Nhà người chen chúc trên bến sông Nhị
Ngang nhiên chiếm riêng vẻ xuân
một thành
Bên đông bên tây cầu và gác cao
tới trời
Áo mũ người Hồ kẻ Hán khác biệt nhau
Mùa thu, ngựa mang dàm vàng kiêu
hãnh ăn rau đậu
Trời xuân, người ở lầu ngọc say sưa rượu bồ đào
Năm này sang năm khác hưởng cảnh phồn hoa
Không bận lòng biển nam bao lần gió bụi

Dịch thơ: Thay người viết đùa

Chen chúc cửa nhà rộn bến sông
Vẻ xuân riêng chiếm một mình ông
Phố phường tranh cạnh vươn cao ngất
Áo mũ ganh đua diện tứ tung
Vênh váo ngựa sang ăn mục túc
Say sưa người đẹp uống sâm nhung
Phồn hoa tận hưởng dài năm tháng
Chi bận biển nam bụi mịt mùng

Đặng Thế Kiệt dịch
*

Ký mộng (1)

記夢

逝水日夜流
遊子行未歸
經年不相見
何以慰相思
夢中分明見
尋我江之湄
顏色是疇昔
衣飭多參差
始言苦病患
繼言久別離
帶泣不終語
彷彿如隔帷
平生不識路
夢魂還是非
疊山多虎虒
藍水多蛟螭
道路險且惡
弱質將何依
夢來孤燈清
夢去寒風吹
美人不相見
柔情亂如絲
空屋漏斜月
照我單裳衣


Phiên âm: Ký mộng (1)

Thệ thủy nhật dạ lưu
Du tử hành vị quy
Kinh niên bất tương kiến
Hà dĩ úy tương ti (tư)
Mộng trung phân minh kiến
Tầm ngã giang chi mi
Nhan sắc thị trù tích
Y sức đa sâm si
Thủy ngôn khổ bệnh hoạn
Kế ngôn cửu biệt ly
Đái khấp bất chung ngữ
Phảng phất như cách duy
Bình sinh bất thức lộ
Mộng hồn hoàn thị phi
Điệp sơn đa hổ ty
Lam thủy đa giao li
Đạo lộ hiểm thả ác
Nhược chất tương hà y
Mộng lai cô đăng thanh
Mộng khứ hàn phong xuy
Mỹ nhân bất tương kiến
Nhu tình loạn như ti
Không ốc lậu tà nguyệt
Chiếu ngã đan thường y.

Nguyễn Du

Dịch nghĩa: Ghi lại giấc mộng

Dòng nước ngày đêm chảy
Du tử đi chưa về
Bao năm không gặp nhau
Lấy gì an ủy nỗi nhớ nhau
Trong mộng thấy rõ ràng
Tìm ta ở bến sông
Nhan sắc vẫn như xưa
Áo quần thì lếch thếch
Thoạt đầu nói khổ vì bệnh hoạn
Kế đó nói vì xa nhau lâu
Nghẹn ngào khóc nói không hết câu
Phảng phất như cách nhau bức màn
Bình sinh không biết đường
Trong hồn mộng là thực hay hư?
Núi Tam Điệp nhiều hổ báo
Sông Lam nhiều thuồng luồng
Đường đi hiểm và dữ
Thân thể yếu đuối dựa vào đâu
Mông đến, ngọn đèn cô đơn sáng leo lét
Mộng tàn, gió lạnh thổi
Người đẹp không thấy nữa
Tình vấn vương rối như tơ
Nhà trống lọt trăng tà
Chiếu vào chiếc áo đơn của ta.

Dịch thơ: Ghi lại giấc mộng

Nước ngày đêm chảy mãi
Du tử chưa về đâu
Bao năm rồi không gặp
Lấy gì an ủy nhau
Rõ ràng thấy trong mộng
Tìm ta nơi bến sâu
Nhan sắc vẫn như trước
Áo quần lếch thếch sao
Trước nói khổ vì bệnh
Sau nói xa nhau lâu
Nghẹn ngào câu không trọn
Phảng phất cách màn sau
Bình sinh đường không rõ
Hồn thực giả hay đâu
Núi non nhiều hổ báo
Sông thuồng luồng biết bao
Đường đi hiểm và dữ
Thân yếu dựa vào đâu
Mộng đến, đèn leo lét
Mộng tàn, gió lạnh ào
Người đẹp không thấy nữa
Tình bối rối tơ nhàu
Nhà trống trăng tà chiếu
Manh áo đơn đêm thâu.

Đặng Thế Kiệt dịch

Chú thích:

(1): Theo Lê Thước và Trương Chính,
bài này nói về người vợ trước
của Nguyễn Du, đã mất.

***

030
Ký hữu

寄友

漠漠塵埃滿太空
閉門高枕臥其中
一天明月交情在
百里鴻山正氣同
眼底浮雲看世事
腰間長劍掛秋風
無言獨對庭前竹
霜雪消時合化龍

Phiên âm: Ký hữu

Mạc mạc trần ai mãn thái không
Bế môn cao chẩm ngọa kỳ trung
Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại
Bách lý Hồng Sơn (1) chính khí đồng
Nhãn để phù vân khan thế sự
Yêu gian trường kiếm quải thu phong
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc
Sương tuyết tiêu thời hợp hóa long (2)

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Gởi bạn

Mịt mờ bụi bặm bay đầy bầu trời
Đóng cửa gối cao ở bên trong
Một trời trăng sáng, tình gia hảo còn đó
Trăm dặm non Hồng, đồng chính khí với nhau
Trong đáy mắt, xem việc đời như mây nổi
Bên thắt lưng, gươm dài quảy gió thu
Một mình lặng lẽ ngắm khóm trúc trước sân
Đến lúc sương tuyết tan sẽ hóa rồng


Dịch thơ: Ký hữu

Đầy trời lớp lớp dậy trần hiêu,
Đóng cửa nằm cao tạnh sớm chiều.
Chánh khí muôn thu ngàn Hống vững,
Giao tình một mối bóng trăng treo.
Chuyện đời ghé mắt mây lơ lửng,
Gươm báu cài lưng gió hắt hiu.
Lặng lẽ bên sân lòng đối trúc,
Hóa rồng chờ thuở tuyết sương tiêu.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm xuất bản, Paris 1995)


Chú thích:


(1) Hồng Sơn: Dãy núi cao và dài nhất ở
quê hương Nguyễn Du.
(2) Hóa long: Cây trúc khi già, hình dáng
trông giống như con rồng, nhất là trông phần
gốc rễ, có mắt có râu. Cho nên tre già,
trúc già gọi là Long ông,
măng tre gọi là Long tôn.

***

040
Đối tửu

對酒

趺坐閒窗酒眼開
落花無數下蒼苔
生前不盡樽中酒
死後誰澆墓上杯
春色漸遷黃鳥去
年光暗逐白頭來
百期但得終朝醉
世事浮雲眞可哀

Phiên âm: Đối tửu

Phu tọa nhàn song tửu nhãn khai
Lạc hoa vô số hạ thương đài
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi
Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ
Niên quang ám trục bạch đầu lai
Bách kì đãn đắc chung triêu túy
Thế sự phù vân chân khả ai

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Ngồi uống rượu

Ngồi xếp bằng bên cửa sổ vắng mắt rượu say mở nhìn
Bao nhiêu là hoa rụng trên rêu xanh
Khi sống không uống cạn rượu trong bầu
Thì chết rồi ai rưới chén rượu trên mồ
Sắc xuân dần dần biến đổi, chim hoàng anh bay mất
Bóng sáng năm tháng âm thầm đi, tóc trắng lại
Hạn kì trăm năm chỉ ước được say suốt ngày
Việc đời như mây nổi thật đáng thương

Dịch thơ: Ngồi uống rượu

Ngồi nhìn song vắng rượu say
Bao nhiêu hoa rụng trên này cỏ non
Bây giờ nốc cạn chén ngon
Mồ xanh giọt rượu ai còn rưới cho
Mùi hương xuân sắc phai mờ
Bóng chim tăm cá bạc phơ mái đầu
Ước chi thơ túi rượu bầu
Trăm năm mây nổi quên sầu mênh mang

Đặng Thế Kiệt dịch

***

吊羅城歌者

一枝濃艶下蓬瀛
春色嫣然動六城
天下何人憐薄命
塚中應自悔浮生
胭脂不洗生前障
風月空留死後名
想是人間無識趣
九泉去伴柳耆卿

Phiên âm: Điếu La Thành (1) ca giả

Nhất chi nùng diễm há Bồng Doanh (2)
Xuân sắc yên nhiên động lục thành
Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh
Trủng trung ưng tự hối phù sanh
Yên chi bất tẩy sanh tiền chướng
Phong nguyệt không lưu tử hậu danh
Tưởng thị nhân gian vô thức thú
Cửu tuyền khứ bạn Liễu Kì Khanh (3)

Nguyễn Du 阮攸

Dịch nghĩa: Điếu người ca nữ đất La Thành

Một cành nồng đượm từ cõi Bồng Doanh xuống
Sắc xuân đẹp đẽ làm rung động sáu thành
Thiên hạ ai người thương phận bạc mệnh
Trong mồ hẳn tự hối hận cho kiếp phù sinh
Nghiệp phấn son lúc sống không tẩy sạch
Tiếng trăng gió sau khi chết vẫn còn lưu
Ý hẳn trên đời không người biết thưởng thức thú
vị Nên xuống chín suối làm bạn cùng Liễu Kì Khanh.

Dịch thơ: Điếu ca nữ đất La Thành

Một cành nồng đượm xuống Bồng Doanh
Sắc thắm xuân đưa nức sáu thành
Trên thế ai thương đời bạc mệnh
Trong mồ riêng hối kiếp phù sinh
Phấn son trăm trước chưa rồi nợ
Trăng gió nghìn sau luống để danh
Trần giới hẳn không người thức thú
Suối vàng tìm bạn Liễu Kì Khanh

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiên tái bản, France, 1995)

Chú thích:
(1) La Thành: Thành Nghệ An. Truyền rằng
thành do Trương Phụ đáp tại bến Phù Thạch
nơi giao thủy của La Giang và Lam Giang.
(2) Bồng Doanh: Bồng Lai và Doanh Châu.
Truyền rằng ở trong Bột Hải 渤海 có ba
hòn đảo là Bồng Lai 蓬萊, Phương Trượng 方丈 và
Doanh Châu 瀛洲. Chung quanh ba hòn này nước biển
rất yếu không đỡ nổi một hột cải, nên ghe thuyền
tới đó đều chìm. Người ta gọi là Nhược Thủy 弱水.
Nơi non Bồng nước Nhược chỉ có tiên đến được thôi.
Bồng Doanh chỉ cõi tiên.
(3) Liễu Kì Khanh: Tên Liễu Vịnh 柳永,
một danh sĩ nổi tiếng về từ, ở đời Tống.
Tuổi già mới thi đỗ tấn sĩ, và giữ một
chức quan nhỏ ở Tràng An 長安. Buổi thiếu
thời thường lui tới xóm ca nhi và soạn
nhiều bài từ tả nỗi đau khổ của làng
son phấn. Khi Liễu Vịnh chết, chị em
ca nữ góp tiền chôn cất và tổ chức những
ngày kỉ niệm rất linh đình.

***
045 Ngọa bệnh

臥病

多病多愁氣不舒
十旬困臥桂江居
厲神入室吞人魄
饑鼠緣床喫我書
未有文章生孼障
不容塵垢雜清虛
三蘭窗下吟聲絕
點點精神遊太初

Phiên âm: Ngọa bệnh

Đa bệnh đa sầu khí bất thư
Thập tuần khốn ngọa Quế Giang cư
Lệ thần nhập thất thôn nhân phách
Cơ thử duyến sàng khiết ngã thư
Vị hữu văn chương sinh nghiệt chướng
Bất dung trần cấu tạp thanh hư (1)
Tam lan song hạ ngâm thanh tuyệt
Điểm điểm tinh thần du thái sơ (2)

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Nằm bệnh

Nhiều bệnh nhiều sầu,
tâm thần không thư thái
Mười tuần nằm liệt trong
vùng Quế Giang
Thần dịch lệ vào nhà bắt
hồn phách người
Chuột đói leo quanh giường
gặm sách vở ta
Chưa từng có chuyện văn chương
sanh nghiệt chướng
Không để cho bụi bặm lẫn vào
cõi thanh hư
Dưới cửa sổ tam lan, tiếng ngâm
vắng bặt
Tinh thần dần dần đi dong chơi
ngoài cõi không trung

Dịch thơ: Ngọa bệnh

Sầu lại bệnh lòng không thanh thản,
Miền Quế Giang mấy tháng nằm suông.
Bắt hồn, dịch rắc tai ương,
Chuột leo gặm sách quanh giường làm no.
Văn chương nào sanh ra nghiệt chướng,
Gìn thanh hư chẳng vướng trần hiêu.
Song ngâm ngày vắng thiu thiu,
Tinh thần điểm điểm tiêu diêu cõi ngoài.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiên tái bản, France, 1995)

Chú thích:

(1) Thanh hư: Chốn hư không trong sạch.
Trời xanh cũng gọi là thanh hư.
Lòng không bận thế sự, luôn luôn yên
lặng trong trẻo, cũng gọi là thanh hư.

(2) Thái sơ: Liệt Tử 列子: "Thái sơ giả,
khí chi thủy dã" 太初者, 氣之始也
(Thiên thụy 天瑞)
Thái sơ là thuở bắt đầu có khí.
Lúc mới khởi đầu

***

047
Tạp ngâm [I]

雜吟

秋聲一夜渡藍河
無影無形入我家
萬里西風來白髮
一窗秋色在黃花
百年哀樂何時了
四壁圖書不厭多
庭植孤松高百尺
不知青帝奈人何

Phiên âm: Tạp ngâm [I]

Thu thanh nhất dạ độ Lam Hà
Vô ảnh vô hình nhập ngã gia
Vạn lí tây phong lai bạch phát
Nhất song thu sắc tại hoàng hoa
Bách niên ai lạc hà thời liễu
Tứ bích đồ thư bất yếm đa
Đình thực cô tùng cao bách xích
Bất tri thanh đế nại nhân hà

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Tạp ngâm [I]

Tiếng thu một đêm qua sông Lam
Không bóng không hình vào nhà ta
Muôn dặm gió tây đến tóc bạc
Sắc thu một cửa sổ nơi hoa cúc vàng
Trăm năm buồn vui bao giờ hết
Bốn vách sách vở nhiều không chán
Sân trồng một cây tùng cao trăm thước
Không biết chúa xuân làm sao với người

Dịch thơ: Tạp ngâm [I]

Tiếng thu đêm vắng vượt qua sông
Vào chỗ nhà ta bóng ảnh không
Muôn dặm gió tây phai bạc tóc
Một màu hoa cúc sáng bừng song
Trăm năm vui khổ bao giờ hết
Bốn vách thơ văn thú vị lòng
Trăm thước tùng cao sân quạnh quẽ
Chúa xuân chi quấy khách mơ mòng

Đặng Thế Kiệt dịch


寄友

鴻山山月一輪明
千里長安此夜情
太璞不全眞面目
一州何事小功名
有生不帶公侯骨
無死終尋豕鹿盟
羨殺北窗高臥者
平居無事到虛靈

Phiên âm: Kí hữu (1)

Hồng Sơn sơn nguyệt nhất luân minh
Thiên lí Trường An (2) thử dạ tình
Thái phác (3) bất toàn chân diện mục
Nhất châu (4) hà sự tiểu công danh
Hữu sanh bất đái công hầu cốt
Vô tử chung tầm thỉ lộc (5) minh
Tiện sát bắc song (6) cao ngọa giả
Bình cư vô sự đáo hư linh (7)

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Gởi bạn

Vầng trăng trên đỉnh Hồng Sơn,
một bóng tròn vằng vặc,
Tràng An nghìn dặm một mảnh tình đêm nay.
Viên ngọc phác không giữ được trọn bộ
mặt mắt thật của mình nữa,
Chút công danh ở một châu đáng kể gì
Sinh ra vốn không mang sẵn cốt công hầu,
Chưa chết thì rốt cuộc sẽ đi tìm lợn
hươu làm bạn.
Thèm chết được cái thú của người ngồi
cao nơi song bắc,
Sống yên ổn thường ngày, không một
việc gì bận đến tâm hồn trong sáng.

Dịch thơ: Kí hữu

Đêm nay ngàn Hống bóng trăng thanh,
Nghìn dặm Tràng An một mảnh tình.
Ngọc phác không gìn nguyên diện mục,
Thân đời khéo buộc nẻo công danh!
Công hầu cốt ấy đâu sanh sẵn,
Hươu vượn duyên kia quyết để dành.
Thong thả kìa ai song bắc tựa,
Chuyện ngoài chẳng chút bợn hư linh.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, 1995, France).

Chú thích:

(1) Kí hữu: Bài này tác giả gởi cho bạn ở Hồng
Sơn, khi ra Tràng An làm quan cùng nhà Nguyễn.
(2) Tràng An: Tức Thăng Long.
(3) Thái phác: Viên ngọc còn ở trong đá,
chưa mài dũa.
Sách Chiến Quốc chép: Vua Tề mời Nhan Xúc
vào cung để trọng dụng. Xúc từ chối nói:
"Ngọc sinh ở đá trên núi, nếu đem phá ra
mà lấy dùng, không phải không quý giá,
nhưng bản chất không còn nguyên vẹn.
Kẻ sĩ sanh ra nơi đồng nội, nếu được
dùng cho bổng lộc, không phải không
hiển vinh, nhưng hình thái tinh thần
không được trọn vẹn".

(4) Nhất châu: Khi mới ra làm quan cùng
nhà Nguyễn, Tố Như nhận chức tri huyện
Phù Dung thuộc Khoái Châu, tỉnh Sơn Nam
(Hưng Yên) ngày nay.

(5) Thỉ lộc: Thỉ là heo rừng,
lộc là hươu nai.

(6) Bắc song: Đào Tiềm, một cao
hiền đời Tấn,có câu: "Tiết tháng
năm tháng sáu, nằm nơicửa sổ phía bắc,
gió mát thoảng đến,tự coi như người
đời Hi Hoàng".

(7) Hư linh: Cũng như tâm linh.
Cõi lòng trong sạch và trống trơn
không chút bận đến thế sự.

***
Thanh minh ngẫu hứng

清明偶興

東風晝夜動江城
人自悲悽草自青
春日有身非少壯
天涯無酒對清明
村歌初學桑麻語
野哭時聞戰伐聲
客舍含愁已無限
莫敎茅草近階生

Phiên âm: Thanh minh ngẫu hứng

Đông phong trú dạ động giang thành
Nhân tự bi thê thảo tự thanh
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng
Thiên nhai vô tửu đối thanh minh
Thôn ca sơ học tang ma ngữ
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn
Mạc giao mao thảo cận giai sinh

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Thanh minh ngẫu hứng

Ngày đêm gió đông (gió xuân) lay động
thành bên sông
Người tự buồn thương, cỏ tự xanh
Ngày xuân, thân không còn trai trẻ
Ở chân trời không rượu đón tiết Thanh minh
Trong tiếng ca thôn làng, học tiếng người
trồng dâu trồng gai
Từng lúc nghe tiếng khóc nơi đồng nội,
tưởng như tiếng sát phạt chiến tranh
Ở quán trọ, đã mang mỗi buồn thương vô hạn
Chớ để cỏ tranh mọc gần thềm

Dịch thơ: Thanh Minh Ngẫu Hứng

Giang thành lay ngọn đông phong
Cỏ xanh xanh mượt buồn mông mênh buồn
Thiếu Niên đã khuất bao xuân
Thanh Minh thiếu rượu bâng khuâng góc trời
Thôn ca canh cửi học lời
Cánh đồng dậy tiếng khóc đời chiến tranh
Ngậm sầu quán khách buồn tanh
Bên thềm chớ để cỏ tranh lan tràn

Vũ Thị Thiên Thư dịch

***


鬼門道中

鬼門石徑出雲根
征客南歸欲斷魂
樹樹東風吹送馬
山山落月夜啼猿
中旬老態逢人懶
一路寒威仗酒溫
山塢何家大貪睡
日高猶自掩柴門

Phiên âm: Quỷ Môn (1) đạo trung

Quỷ môn thạch kính xuất vân côn (căn)
Chinh khách nam quy dục đoạn hồn
Thụ thụ đông phong xuy tống mã
Sơn sơn lạc nguyệt dạ đề vôn (viên)
Trung tuần lão thái (2) phùng nhân lãn
Nhất lộ hàn uy trượng tửu ôn
Sơn ổ hà gia đại tham thụy
Nhật cao do tự yểm sài môn


Dịch nghĩa: Trên đường qua Quỷ Môn Quan

Đường đá ở Quỷ Môn từ chân mây mà ra
Hành khách về nam buồn muốn đứt tâm hồn
Gió đông qua những hàng cây, thổi vào
ngựa đưa tiễn
Trăng lặn xuống sau dãy núi, đêm vượn kêu
Tuổi mới trung tuần mà đã có vẻ già,
lười gặp người (vì ngại việc thù tiếp)
Suốt con đường giá lạnh, nhờ rượu được hơi ấm
Trong xóm núi, nhà ai ham ngủ quá
Mặt trời đã lên cao mà cửa củi còn đóng kín.

Dịch thơ: Trên đường qua Quỷ Môn Quan

Đường Quỷ Môn Quan mây ngút xông
Về nam chinh khách tái tê lòng
Gió dồn chân ngựa cây xao xác
Trăng rụng đầu non vượn não nùng
Lười việc đón đưa già trước tuổi
Đỡ cơn giá rét rượu đầy chung
Nhà ai góc núi sao ham giấc?
Nắng gội hiên chưa mở cánh bồng

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm xuất bản, Paris 1995)



Chú thích:

(1) Quỷ Môn Quan: Ở phía nam xã Chi Lăng.
Đường hẹp, núi dốc, hình thế hiểm trở.
Có núi trông như đầu quỷ, ải do đó mà
mệnh danh. Người xưa có câu:
“Quỷ Môn Quan! Quỷ Môn Quan!,
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn!"
(Ải Quỷ Môn! Ải Quỷ Môn! Mười người đi,
một người về!”).

(2) Trung tuần: Tiên Điền làm bài này
lúc lên trấn Nam Quan nghênh tiếp sứ
Tàu sang phong sắc cho vua Gia Long,
xong sứ mệnh trở về kinh. Năm ấy là
năm Giáp Tí (1804), tác giả mới 40 tuổi
nhưng đầu đã bạc trắng (đầu cụ bạc từ lúc
lánh nạn ở Quỳnh Côi).

064 春宵旅次

蕭蕭蓬鬢老風塵
暗裡偏驚物候新
池草未闌千里夢
庭梅已換一年春
英雄心事荒馳騁
名利營場累笑顰
人事蕭條春自好
團城城下一沾巾

Phiên âm: Xuân tiêu lữ thứ (1)

Tiêu tiêu bồng mấn (2) lão phong trần
Ám lí thiên kinh vật hậu tân
Trì thảo (3) vị lan thiên lí mộng
Đình mai dĩ hoán nhất niên xuân (4)
Anh hùng tâm sự hoang trì sính (5)
Danh lợi doanh trường lụy tiếu tần (6)
Nhân sự tiêu điều xuân tự hảo
Đoàn thành (7) thành hạ nhất triêm cân

Nguyễn Du 阮攸


Dịch nghĩa: Đêm xuân quán khách

Bời bời mái tóc bồng già cùng gió bụi
Trong thầm lặng riêng sợ khi nhìn thấy
cảnh vật đổi mới
Ngoài nghìn dặm chưa tan giấc mộng
"cỏ bờ ao" Cây mai ở trước sân đã đổi
một năm xuân
Tâm sự anh hùng đã nguội, không còn nghĩ
đến chuyện dong ruổi
Trên trường danh lợi những kẻ lụy về vẻ
khóc cười
Người buồn bã xuân riêng đẹp
Đứng dưới chân thành Đoàn, một mình,
lệ thấm khăn

Dịch thơ: Đêm xuân quán khách

Phất phơ mái tóc rối phong trần
Lặng lẽ thầm kinh vật biến tân
Chằm cỏ chưa tan ngàn dặm mộng
Thềm mai đã đổi một năm xuân
Anh hùng dạ lấp đường dong ruổi
Danh lợi chân ê bước nhọc nhằn
Người dẫu đìu hiu xuân vẫn đẹp
Thành Đoàn thơ thẩn lệ dầm khăn

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiên tái bản, France, 1995)

Chú thích:

(1) Lữ thứ: Tác giả làm bài này khi
lên Lạng
Sơn để đón sứ thần nhà Thanh năm
Giáp Tí (1805).

(2) Bồng mấn: Mái tóc rối bời như cỏ bồng.

(3) Trì thảo: Chữ lấy trong câu thơ của
Tạ Linh Vận đời Tấn:
"Trì đường sanh xuân thảo".
Nguyên Tạ Linh Vận có người em học tên là
Tạ Huệ Liên mới 10 tuổi đã biết làm thơ.
Linh Vận thường tán thán và nói rằng khi
ngồi cùng Huệ Liên thì thế nào cũng nghĩ
được thơ hay. Một hôm Linh Vận ngồi nơi bờ
ao nghĩ thơ, nhưng không tìm ra tứ. Về nhà
nằm ngủ chiêm bao thấy Huệ Liên, thức dậy
làm được câu "Trì đường sanh xuân thảo",
rất lấy làm đắc ý. Câu chuyện này truyền
ra trở thành một giai thoại trong làng thơ.

(4) Đình mai: Dùng mai trong thơ,
một là để tả xuân, hai là để ngụ ý ở nơi
trạm để đợi sứ, mươn ý câu thơ Đường:
"Chiết mai phùng dịch sứ". Nguyễn Du đến
Lạng Sơn mùa Đông năm Quý Hợi (1804)
và làm bài "Xuân tiêu" năm Giáp Tí (1805),
nên mới nói là "Dĩ hoán nhất niên xuân".

(5) Trì sính: Trì là ngựa chạy mau.
Sính cũng là ngựa chạy mau. Hai chữ
ghép lại thành nghĩa là dong ruổi.

(6) Tiếu tần: "Tiếu" là cười. "Tần"
là nhăn mày.

(7) Đoàn thành: Tên riêng của thành Lạng Sơn.
Có tên như vậy vì góc Tây Bắc của thành
hình vòng tròn.

***


蝶死書中

芸窗曾幾染書香
謝卻風流未是狂
薄命有緣留簡籍
殘魂無淚哭文章
蠹魚易醒繁花夢
螢火難灰錦繡腸
聞道也應甘一死
淫書猶勝爲花忙

Phiên âm: Điệp tử thư trung

Vân song (1) tằng kỷ nhiễm thư hương
Tạ khước phong lưu vị thị cuồng
Bạc mệnh hữu duyên (2) lưu giản tịch (3)
Tàn hồn vô lệ khốc văn chương
Đố ngư (4) dị tỉnh phồn hoa mộng (5)
Huỳnh hỏa nan hôi cẩm tú trường
Văn đạo (6) dã ưng cam nhất tử
Dâm thư do thắng vị hoa mang (7)

Dịch nghĩa: Bướm chết trong sách

Nơi cửa sổ trồng cỏ vân đã từng bao
lần đượm mùi hương sách vở
Từ bỏ phong lưu chưa hẳn là dại
Mệnh bạc nhưng có duyên được lưu lại
trong sách vở
Hồn tàn không nước mắt khoác văn chương
Con mọt sách dễ tỉnh giấc mộng phồn hoa
Lửa đom đóm khó đốt cháy tấm lòng gấm vóc
Được nghe đạo lý rồi chết cũng cam
Say đắm vào sách còn hơn đa mang vì hoa.

Dịch thơ: Bướm chết trong sách

Song vân từng thấm vị thư hương,
Bỏ thú phong lưu há phải cuồng.
Mệnh bạc còn duyên vương sử sách,
Hồn tàn không lệ khóc văn chương.
Khó mong lửa đóm thiêu lòng gấm,
Dễ khiến thân sâu tỉnh mộng vàng.
Đạo lý sớm nghe chiều chết thỏa,
Hoa sao bằng chữ dám cưu mang.

Quách Tấn dịch
(Tố Như thi, An Tiêm tái bản, Paris 1995)

Chú thích:

(1) Vân song: Cửa sổ trồng cỏ vân hương.
Tức thư phòng.
(2) Bạc mệnh hữu duyên: Nghe truyền là:
"Khô cốt hữu duyên lưu giản tịch".
(3) Giản tịch: Giản là thẻ tre. Ngày xưa
chưa có giấy, dùng thẻ tre để ghi chép.
Tịch là sổ sách.
(4) Đố ngư: Dịch tạm là mọt sách. Nhưng
không phải giống mọt như mọt cây gỗ,
vì không có vỏ cứng. Đây là một loại
gián nhỏ, không cánh, có ba lông đuôi
như ba sợi râu.
(5) Phồn hoa mộng: Mộng giàu sang.
(6) Văn đạo: Nghe được Đạo. Do câu
nói của Khổng Tử trong sách Luận Ngữ 論語 :
"Triêu văn đạo tịch tử khả hĩ" 朝聞道,夕死可矣!
Nghĩa là: "Sáng nghe đuợc đạo lý,
chiều tối chết cũng hả lòng".

(7) Vị hoa mang: Câu này nghe truyền là:
"Vi hoa vương". Nghĩa là vì hoa mà thác
(vong). Chữ "vương" đắc thế hơn chữ "mang".
Trên kia chép theo bản Thi Vũ ở
Pháp gởi tặng.



***
*

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.