Mar 22, 2019

Trường thiên lục bát

Thanh Hiên Thi Tập - từ # 54 - # 69
Băng Ðình * đăng lúc 11:39:44 AM, Jul 01, 2008 * Số lần xem: 2172
54
Ngẫu Hứng

I
Sơ canh cổ giác ngũ canh kê
Chung dạ bồi hồi tứ chuyển mê
Minh nguyệt mãn thiên hà cố cố
Tây phong xuy ngã chính thê thê
Thương tàn vật tính bi phù hĩnh
Khắc lạc thiên chân thất mã đề (1)
Nhược ngộ sơn trung mi lộc hữu
Yên hà cựu thoại bất kham đê

II
Nhất lệ thiên nhai sái đoạn bồng
La Phù giang thượng khởi thu phong
Hoàng vân bạch thủy lưỡng tương chiếu
Cấp quản bi ti vạn bất đồng
Lục xích câu mi trường dịch dịch
Tứ thời phao trịch thái thông thông
Chinh hồng ảnh lý gia hà tại
Ẩn ẩn quỳnh vân tam lưỡng phong

Ngẫu Hứng

I
Canh một nghe tiếng trống tiếng tù và, canh năm nghe tiếng gà gáy
Suốt đêm bồi hồi, nghĩ ngợi mê man,
Trăng sáng đầy trời sao mãi thế?
Gió tây thổi vào ta lạnh ngăn ngắt
Làm hại tính tự nhiên của vật, ái ngại chân con le bị nối dài ra,
Xuyên tạc chân tính thiên nhiên làm mất cả ý nghĩa thiên “mã đề”.
Nếu gặp bạn hươu nai trong núi
Những câu chuyện cũ khói mây không đành lòng nhắc lại.

II
Bên trời, lệ rơi rưới lên ngọn cỏ bồng đứt gốc,
Gió thu nổi trên sông La Phù.
Mây vàng nước bạc cùng soi lẫn nhau,
Tiếng sáo gấp tiếng đàn bi ai không hợp điệu.
Tấm thân sáu thước bị câu thúc cứ phải phục dịch mãi mãi,
Bốn mùa như thoi đưa rất là nhanh.
Trong bóng con chim hồng đang bay xa, nhà ta ở đâu?
Chỉ thấy thấp thoáng vài ba ngọn núi trong mây ngọc.

Chú thích:
(1) Mã đề: Tên một thiên trong sách Trang Tử (ngoại thiên). Nội dung tiêu biểu cho tư tưởng Trang Tử, thuyết vô vi, đề xướng tư tưởng biện chứng chất phác. Trang Tử dùng việc Bá Nhạc trị ngựa bằng cách đốt lông, cắt bờm, gọt móng rồi buộc nó vào yên cương…
Trong bài này Nguyễn Du băn khoăn về việc ra làm quan của mình, hoài niệm những ngày ẩn dật, săn bắn…Làm trái tính tự nhiên của mình.


Ngẫu Hứng

I
Trống rung ốc thổi canh đầu
Canh năm gà gáy đêm thâu bồi hồi
Sao trăng tỏ mãi trên trời
Gió tây lộng thổi cho người tái tê
Ngược đời nối cẳng chim le
Lại xuyên tạc ý mã đề ngoại thiên
Hươu nai bằng hữu sơn xuyên
Khói mây chuyện cũ chẳng nên bận lòng


II
Cỏ bồng lệ tưới chốn xa
Gió thu sóng nổi trên La Phù rồi
Mây vàng nước bạc cùng soi
Sáo mau đàn chậm ngược xuôi hai chiều
Thân trai khổ dịch đã nhiều
Bốn mùa thoi đẩy ánh thiều quang đi
Cánh hồng vun vút thiên di
Nhà đâu chỉ thấy xanh rì núi mây



55
Mộ Xuân Mạn Hứng


Nhất niên xuân sắc cửu thập nhật
Phao trịch xuân quang thù khả liên
Phù thế công danh khan điểu quá
Nhàn đình tiết tự đái oanh thiên
Trắc thân bất xuất hữu hình ngoại
Thiên tuế trường ưu vị tử tiền
Phù lợi vinh danh chung nhất tán
Hà như cập tảo học thần tiên

Cảm Hứng Lan Man Cuối Xuân


Mỗi năm xuân sắc có chín mươi ngày,
Phao phí nắng xuân quả là đáng tiếc.
Công danh trên phù thế xem như chim bay qua,
Trên sân vắng, thời tiết cũng theo chim oanh dời tổ mà đổi dời.
Tấm thân không thể ra ngoài vòng hữu hình,
Trước khi chết còn lo mãi chuyện ngàn năm.
Cái lợi bọt bèo, cái danh tươi tốt cuối cùng đều tiêu tan,
Sao bằng kịp thời sớm theo học đạo thần tiên,




Cảm Hứng Lan Man Cuối Xuân


Một năm chín chục thiều quang
Nỡ phao phí tuổi xuân càng tiếc xuân
Công danh én lượn xa gần
Nắng mưa ấm lạnh chim oanh đổi dời
Hữu hình khôn thoát cõi người
Xuôi tay luống những đau đời ngàn sau
Lợi bèo danh nổi qua mau
Sao bằng sớm liệu đi cầu Lão Trang



56
Thanh Minh Ngẫu Hứng


Đông phong trú dạ động giang thành
Nhân tự bi thê thảo tự thanh
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng
Thiên nhai vô tửu đối thanh minh
Thôn ca sơ học tang ma ngữ
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn
Mạc giao mao thảo cận giai sinh

Ngẫu Hứng Trong Dịp Tết Thanh Minh

Ngày đêm gió đông lay động thành bên sông
Người cứ buồn thương, cỏ cứ xanh
Ngày xuân nhưng thân mình không còn trai trẻ nữa.
Ở chân trời, tiết thanh minh không có phẩm vật gì vui tết,
Trong tiếng hát nơi thôn xóm ta học được tiếng nói của người trồng dâu trồng gai
Thỉnh thoảng nghe tiếng khóc nơi đồng nội như còn nghe thấy tiếng chiến tranh.
Ở nơi khách xá đã mang nỗi buồn vô hạn,
Chớ để cho cỏ tranh mọc ở gần thềm.




Ngẫu Hứng Dịp Thanh Minh


Đêm ngày gió thổi đồn sông
Người buồn ngọn cỏ xanh đồng cứ xanh
Xuân sang tuổi đã lão thành
Thanh minh đất khách riêng mình bi ai
Ca thôn học cách trồng gai
Thoảng nghe tiếng khóc tưởng ngày loạn ly
Thân nằm quán khách thảm thê
Cỏ tranh chớ để mọc kề bên hiên



57
Thanh Quyết Giang (1) Vãn Diếu


Phù kiều tận xứ xuất bình điền
Lịch lịch thanh sơn tại nhãn tiền
Cổ kính tiều quy minh nguyệt đảm
Triều môn ngư tống tịch dương thuyền
Mang mang viễn thủy tam xuân thụ
Lạc lạc nhân gia lưỡng ngạn yên
Cục mục hương quan tại hà xứ
Chinh hồng sổ điểm bạch vân biên

Chiều Ngắm Cảnh Trên Sông Thanh Quyết

Chỗ cuối chiếc cầu nổi đồng ruộng hiện ra,
Trước mắt thấy rõ ràng đợt núi xanh.
Trên lối cũ tiều phu gánh củi trở về dưới trăng,
Nhà chài đẩy thuyền ra lúc thủy triều dâng buổi xế chiều.
Mờ mịt dòng sông xa lẫn trong cây cối mùa xuân,
Nhà lác đác giữa khói sóng hai bờ.
Nhướn mắt nhìn xem quê nhà ở chốn nào,
Chỉ thấy vài con chim hồng như vài nét chấm bên đám mây trắng.

Chú thích:
(1) Thanh Quyết Giang, một con sông ở huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.



Cảnh Chiều Sông Thanh Quyết


Cuối phù kiều ruộng bao la
Xanh xanh trước mắt hiện ra núi đồi
Đường xưa lối cũ trăng ngời
Tiều phu quẩy gánh củi tươi về làng
Ngư ông đợi thủy triều lan
Thuyền câu đẩy nhẹ trời đang xế chiều
Dòng xuân luồn gốc ngàn xiêu
Đôi bờ lác đác ít nhiều mái tranh
Ngó lung chẳng thấy quê mình
Chim hồng mây trắng trời xanh một vài



58
Đồng Lung Giang


Đồng Lung giang thủy khứ du du
Kim cổ nhàn sầu bất khứ lưu
Sa chủy tàn lô phi bạch lộ
Lũng đầu lạc nguyệt ngọa hàn ngưu
Loạn sơn thúy tiếp cô thành mộ
Thủy trúc hàn sinh tiểu điếm thu
Tiễn nhĩ dã âu tùy thủy khứ
Phù sinh lao lục kỷ thời hưu

Sông Đồng Lung

Nước sông Đồng Lung dằng dặc chảy,
Mối sầu man mác về xưa và nay chẩy trôi mãi không ngừng.
Trên đám lau tàn ở mỏm cát đàn cò trắng bay,
Dưới bóng trăng xế đầu ghềnh con trâu mệt nằm nghỉ.
Buổi chiều những ngọn núi xanh chơm chởm tiếp liền thành trơ trọi
Mùa thu, những khóm tre nước lạnh lẽo tỏa hơi lạnh quanh chiếc điếm nhỏ
Thèm được như làn âu kia theo dòng nước lội đi
Còn cảnh phù sinh vất vả (của ta) đến bao giờ mới thôi.



Sông Đồng Lung


Đồng Lung dằng dặc trôi hoài
Sau xưa man mác sầu ai chẳng ngừng
Cò bay trắng đám lau rừng
Đầu ghềnh trâu buộc dưới vừng trăng thu
Chiều tàn núi dựng trơ vơ
Mùa sang tre nước lạnh bờ điếm canh
Thèm như âu lội dòng xanh
Nổi chìm chạnh xót thương mình khôn nguôi



59
Đồng Lư Lộ Thượng Dao Kiến Sài Sơn


Sài Sơn sơn thượng đa phù vân
Sài Sơn sơn hạ thạch lân lân
Đồng Lư lộ thượng tây kiều thủ
Tú sắc thương nhiên lai chiếu nhân
Lịch lịch lâu đài thiên ngoại kiến
Vi vi chung cổ nguyệt trung văn
Thanh sam tẩu biến hồng trần lộ
Viên hạc hà tòng nhận cựu lân

Trên Đường Đồng Lư Xa Nhìn Núi Sài

Trên núi Sài nhiều mây nổi
Dưới núi Sài đá chơm chởm
Trên đường Đồng Lư ngoảnh nhìn về phía tây
Màu xanh tươi đẹp chiếu vào người.
Lâu đài rõ mồn một ngoài trời xa
Tiếng chuông tiếng trống văng vẳng trong ánh trăng
Chiếc áo xanh đi khắp đường bụi hồng
Con vượn con hạc làm sao mà nhận ra người láng giềng cũ.



Trên Đường Đồng Lư Xa Nhìn Núi Sài


Sài Sơn mây nổi khá nhiều
Dưới Sài Sơn đá tai mèo thiếu chi
Đồng Lư đường ấy ngó về
Phía tây vẻ biếc chiếu mê hồn người
Lâu đài rõ nét bên trời
Lời chuông tiếng trống từng hồi trong trăng
Áo xanh bụi đỏ dặm băng
Láng giềng vượn hạc khó khăn nhận người



60
Lạng Sơn Đạo Trung (1)


Vạn mộc sơn tiền khả bốc cư
Bạch vân tại tụ thủy thông cừ
Sơn tăng đối trúc lưỡng vô dạng
Mục thụ kỵ ngưu nhất bất như
Ảnh lý tu mi khan lão hỷ
Mộng trung tùng cúc ức quy dư
Tọa gia thôn tẩu đa nhàn sự
Chỉ vị bình sinh bất độc thư

Trên Đường Lạng Sơn

Trước núi có rừng cây có thể chọn làm chỗ ở,
Mây trắng ở hang núi, nước chẩy ra khe
Nhà sư trên núi ngồi trước trúc, cả hai đều bình thường.
Trẻ mục đồng cưỡi trâu ung dung là một điều ta chẳng bằng.
Soi gương, mày râu xem ra đã già rồi,
Trong mộng, rừng tùng khóm cúc làm ta nhớ chuyện trở về.
Ông già trong xóm ngồi nhà, rỗi việc quá,
Chỉ vì thủa nay không đọc sách.



Chú thích:
(1) Theo gia phả, mùa đông năm 1803 Nguyễn Du lên Ải Nam Quan nghênh tiếp sứ thần.



Đường Lên Xứ Lạng


Sơn lâm xin lựa cõi này
Mây mờ hốc núi nước đầy lòng khe
Thiền sư đối diện trúc tre
Lòng tre trúc dạ từ bi bình thường
Lưng trâu mục tử trên đường
Ta bì sao được vấn vương bụi trần
Soi gương râu cỗi mi cằn
Chiêm bao tùng cúc nỉ năn ta về
Ngồi nhàn ông lão xóm quê
Bình sinh chẳng bận tâm chi sách đèn



61
Vọng Phu Thạch


Thạch gia nhân gia bỉ hà nhân
Độc lập sơn đầu thiên bách xuân
Vạn kiếp yểu vô vân vũ mộng
Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân
Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ
Đài triện trường minh nhất đoạn văn
Tứ vọng liên sơn diểu vô tế
Độc giao nhi nữ thiện vô luân

Đá Vọng Phu

Đá chăng người chăng, đấy là người nào?
Đứng một mình nơi đầu núi nghìn trăm năm.
Muôn kiếp không hề có giấc mộng mây mưa,
Một chữ trinh lưu lại tấm thân cho kim cổ.
Ngấn lệ không ngừng rơi như mưa ba tháng thu
Dấu rêu nét chữ triện như một đoạn văn được khắc lại mãi mãi,
Nhìn bốn phía núi liền nhau mênh mông,
Riêng để người nhi nữ giũ đạo luân thường.



Đá Vọng Phu


Người hay đá biết là ai
Lẻ loi đầu núi đứng hoài ngàn năm
Màng chi mộng ái mơ ân
Tuyết băng vẹn một trắng ngần cổ kim
Mưa thu ba tháng lệ hoen
Rêu phong chữ triện bia khen đời đời
Bốn phương rừng suối núi đồi
Luân thường nhi nữ riêng người kiên trinh



62
Đề Nhị Thanh Động (1)


Bàn Cổ sơ phân bất ký niên
Sơn trung sinh quật quật sinh tuyền
Vạn ban thủy thạch thiện đại xảo
Nhất lạp càn khôn (2) khai tiểu thiên
Mãn cảnh giai không hà hữu tướng
Thử tâm thường định bất ly thiền
Đại sư vô ý diệc vô tận
Phủ thán thành trung đa biến thiên

Đề Động Nhị Thanh

Từ đời Bàn Cổ trời đất mới phân chia không ghi năm tháng,
Trong núi sinh ra hang, trong hang sinh suối.
Một hạt càn khôn mở ra một bầu trời nhỏ.
Mọi cảnh đều là không, thì làm gì có tướng,
Tâm này thường định, không xa rời đạo thiền.
Bậc đại sư (Phật) vô ý mà cũng vô lượng,
Cúi xuống trông thành than thở cho bao nhiêu biến thiên

Chú thích:
(1) Động Nhị Thanh ở phía bắc thị xã Lạng Sơn.
(2) Nhất lạp càn khôn: Xem trời đất nhỏ như một hạt gạo.




Động Nhị Thanh


Thái sơ chưa định chưa phân
Núi sinh hang thánh động thần khéo thay
Hang sâu tạo suối nước đầy
Nước xuôi đá dựng bàn tay tuyệt vời
Càn khôn hạt nhỏ đựng trời
Cảnh không tướng cũng không đời toàn không
Tâm thường định thiền mỏi mong
Đại sư vô ý vô cùng như nhiên
Cúi nhìn bao nỗi biến thiên
Chúng sinh tội nghiệp trần duyên buộc giàng



63
Quỷ Môn Quan Đạo Trung (1)


Quỷ Môn thạch kính xuất vân côn (căn)
Chinh khách nam quy dục đoạn hồn
Thụ thụ đông phong xuy tống mã
Sơn sơn lạc nguyệt dạ đề vôn (viên)
Trung tuần lão thái phùng nhân lãn
Nhất lộ hàn uy trượng tửu ôn
Sơn ổ hà gia đại tham thụy
Nhật cao do tự yểm sài môn

Trên Đường Quỷ Môn

Đường khe đá ở Quỷ Môn từ chân mây chạy ra,
Khách đi đường xa về nam như muốn đứt hồn.
Gió đông qua những hàng cây thổi vào ngựa đi tiễn
Trăng lặn xuống sau dãy núi, đêm nghe tiếng vượn kêu.
Tuổi trung tuần (40) mà đã có thói người già, lười gặp người.
Giá lạnh suốt dọc đường, nhờ rượu để có hơi ấm,
Nhà nào trong xóm núi tham ngủ thế.
Mặt trời lên cao rồi mà còn đóng cửa sài.

Chú thích:
(1) Quỷ Môn Quan: Tức ải Chi Lăng, phía nam có núi như đầu quỷ nên gọi là Quỷ Môn Quan.



Trên Đường Quỷ Môn


Nguồn mây khe đá Quỷ Môn
Về nam chinh khách lạnh hồn mấy phen
Gió đông ngựa tiễn cây nghiêng
Trăng chìm sau núi vượn rền rĩ kêu
Bốn mươi đã ngại quen nhiều
Men say ấm dạ đường chiều căm căm
Nhà ai xóm núi xa xăm
Nắng cao cửa đóng còn nằm pho pho



64
Xuân Tiêu Lữ Thứ


Tiêu tiêu bồng mấn lão phong trần
Ám lý thiên kinh vật hậu tân
Trì thảo vị lan thiên lý mộng (1)
Đình mai dĩ hoán nhất niên xuân
Anh hùng tâm sự hoang trì sính
Danh lợi doanh trường lụy tiếu tần
Nhân tự tiêu điều xuân tự hảo
Đoàn Thành (2) thành hạ nhất triêm cân

Đêm Xuân Quán Khách

Bơ phờ mái tóc rối như cỏ bồng, già cùng gió bụi,
Âm thầm lo sợ thấy cảnh vật và thời tiết thay đổi.
Ngoài xa nghìn dặm, chưa tàn giấc mộng “cỏ bờ ao”,
Mai ở trên sân đã đổi sang một mùa xuân năm khác.
Tâm sự người anh hùng không còn nghĩ đến dong ruổi nữa,
Trong trường danh lợi nhiều phen cười và nhăn mày,
Người cứ tiêu điều xuân vẫn cứ đẹp,
Dưới Đoàn Thành, nước mắt thấm khăn.

Chú Thích:
(1) Trì thảo: Tạ Linh Vận (385-433) nhà thơ nổi tiếng về thơ sơn thủy đời Nam Triều, có em là Tạ Huệ Liên. Một hôm, ngồi bờ ao, về ngủ chiêm bao được thấy Huệ Liên, nghĩ được câu thơ: “Trì đường sinh xuân thảo” (Bờ ao sinh cỏ xuân). Ở đây, dùng điển này, ý nói: Ngoài nghìn dặm vẫn nhớ anh em.
(2) Đoàn Thành: Góc tây bắc thành Lạng Sơn hình vòng tròn, nên gọi là đoàn thành.



Đêm xuân Quán Khách


Cỏ bồng tóc rối già nua
Những lo cảnh vật bốn mùa đổi thay
Xa thương bờ cỏ ao đầy
Mai trên sân chuyển năm này sang xuân
Hùng tâm dong duổi chồn chân
Trường danh lợi mỉm miệng nhăn nhó cười
Mình cằn cỗi xuân thắm tươi
Dưới thành Lạng nước mắt người thấm khăn



65
Khổng Tước Vũ


Khổng tước phủ hoài độc
Ngộ phục bất khả y
Ngoại lộ văn chương thể
Trung tàng sát phạt ky
Nhân khoa dung chỉ thiện
Ngã tích vũ mao kỳ
Hải hạc diệc hội vũ
Bát dữ thế nhân tri

Chim Công Múa

Mật công chứa chất độc,
Uống lầm không thuốc chữa.
Mã ngoài lộ ra vẻ đẹp,
Bên trong dấu chất độc giết người.
Người ta khen dáng điệu nó đẹp,
Ta chỉ tiếc bộ lông lạ của nó.
Hạc biển cũng biết múa,
Nhưng không cho người đời biết.




Chim Công Múa


Mật công chất độc chứa đầy
Uống lầm hết thuốc hết thày cứu cho
Mẽ ngoài óng ả ngây thơ
Mà trong hung hiểm tối ư giết người
Khen lao rằng đẹp rằng tươi
Riêng ta chỉ tiếc vàng mười bộ lông
Người đời nào biết ngoài công
Hạc trời giỏi múa nhưng không trổ tài



66
Điệp Tử Thư Trung


Vân song (1) tằng kỷ nhiễm thư hương
Tạ khước phong lưu vị thị cuồng
Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch
Tàn hồn vô lệ khốc văn chương
Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng
Huỳnh hỏa nan hôi cẩm tú trường (2)
Văn đạo (3) dã ưng cam nhất tử
Dâm thư (4) do thắng vị hoa mang

Con Bướm Chết Trong Sách

Cửa sổ thư phòng đã từng bao lần đượm hương thơm của sách,
Từ bỏ phong lưu chưa hẳn là dại,
Mệnh bạc nhưng có duyên nên được lưu lại trong sách,
Hồn tàn không nước mắt để khóc văn chương.
Con mọt sách dễ tỉnh giấc mộng phồn hoa,
Lửa đom đóm khó đốt cháy tấm lòng gấm vóc.
Nghe được đạo lý cũng đành cam một chết,
Mê sách còn hơn bận lòng vì hoa.

Chú thích:
(1) Vân: Một thứ cỏ dùng để chống mọt trong phòng chứa sách. Vân song nghĩa như thư song.
(2) Cẩm tú trường: Ruột gấm vóc (tú khẩu cẩm tâm). Ý nói tài văn chương.
(3) Khổng Tử: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ”: Sớm nghe được đạo lý, chiều chết được rồi.
(4) Dâm thư: Ham mê đọc sách.

Con Bướm Chết Trong Sách

Song văn thơm ngát hương trầm
Chán phong lưu chắc chi lầm dại khôn
Xác tàn chôn cõi văn chương
Hồn tan không lệ xót thương mỗi tờ
Mọt già tỉnh giấc mơ xưa
Lửa đom đóm dễ thiêu tơ gấm lòng
Đạt đời dù chết cũng xong
Mê man sách vở lạnh lùng trăng hoa

67
Độc Tiểu Thanh (1) Ký

Tây Hồ hoa uyển tận thành khư
Độ điếu song tiền nhất chỉ thư
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư (2)
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
Bất tri tam bách dư niên hậu (3)
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Đọc Bài Ký Truyện Nàng Tiểu Thanh

Vườn cảnh ở Tây Hồ đã thành gò hoang.
Trước song cửa một mình đọc một trang sách viết để viếng nàng.
Bức vẽ có thần, sau khi chết, còn để lại niềm thương tiếc.
Văn chương không có số mệnh lại mang lụy đến tập thơ bị đốt còn sót lại.
Mối hận xưa nay khó hỏi trời,
Ta tự coi mình như người cùng chịu nỗi oan lạ lùng của người phong nhã.
Chẳng biết hơn ba trăm năm sau này nữa,
Thiên hạ có ai người khóc Tố Như chăng?

Chú thích:
(1) Tiểu Thanh (1594-1612) họ Phùng tên Văn Cơ, người Quảng Lăng, tỉnh Giang Tô. Mồ côi mẹ từ nhỏ, được một ni cô nuôi cho đi học. Năm 16 tuổi, lấy lẽ một người họ Phùng, và để tránh đồng họ, nên gọi là Tiểu Thanh. Vì vợ cả ghen, nàng phải lánh ra ở nhà riêng của Phùng sinh trên núi Cô Sơn, cạnh Tây Hồ rồi buồn bực mà chết lúc mới 18 tuổi, đời Vạn Lịch nhà Minh, nay còn mộ ở Cô Sơn.
Truyện kể về nàng Tiểu Thanh gọi là Tiểu Thanh Ký
(2) Hữu Thần: Trước khi chết Tiểu Thanh cho vẽ một bức chân dung truyền thần nàng. Bức đầu tiên nàng nói: “Hình tôi thì giống nhưng chưa lột hết thần của tôi”. Với bức thứ hai: “Thần thì được rồi nhưng bóng dáng chưa linh động”. Đến bức vẽ thứ ba, đủ vẻ lộng lẫy, nàng nói: “Được rồi đấy”. Rồi nàng để bức tranh trước giường, đốt hương thơm, khấn: “Tiểu Thanh! Tiểu Thanh! Chốn này có phải là duyên phận của mày đâu”. Nói xong nước mắt chan hòa, nấc lên một tiếng rồi chết.
(3) Phần dư: Đốt còn lại. Tiểu Thanh tự đốt thơ mình, chỉ để lại 12 bài gọi là Tập Phần Dư. Vợ cả biết chuyện giận lắm, tìm tâp thơ đốt hết. May sao khi sắp mất nàng có chép 12 bài ấy vào 2 tờ giấy dùng để gói mấy chiếc xuyến hoa tặng con gái nhỏ của nàng…



Đọc Truyện Nàng Tiểu Thanh


Tây Hồ vườn cũ gò hoang
Trước song lần giở từng trang nhớ người
Chết đi hình để lại đời
Văn chương lửa táp còn rơi rớt tờ
Hận nay khó trách trời xưa
Oan mình mình tự chuốc như oan nàng
Ba trăm năm dám hỏi rằng
Ai dư nước mắt khóc chàng Tố Như





NGUYỄN DU
















NAM TRUNG TẠP NGÂM
(1804 -1813)
Băng Đình lược dịch







68
Phượng Hoàng Lộ (1) Thượng Tảo Hành


Chinh phu hoài vãng lộ
Dạ sắc thượng mông mông
Nguyệt lạc viên thanh ngoại
Nhân hành hổ tích trung
Lực suy thường úy lộ (2)
Phát đoản bất câm phong
Dã túc phùng tiều giả
Tương liên bất tại đồng

Buổi Sớm Trên Đường Núi Phượng Hoàng

Người đi xa nghĩ đến đường trước mặt,
Sắc đêm còn mờ mịt.
Trăng lặn ở ngoài phía tiếng vượn kêu,
Người đi trong dấu chân hổ.
Sức yếu thường sợ sương móc.
Tóc ngắn tha hồ cho gió thổi.
Trọ nơi đồng quê gặp người hái củi,
Thương nhau không cứ ở chỗ giống nhau.


Chú thích:
(1) Phượng Hoàng lộ: Đường Phượng Hoàng, từ tỉnh lỵ Hà Tĩnh đi vào có núi Phượng Hoàng và quán Phượng Hoàng.
(2) Năm Giáp Tý (1804) Nguyễn Du bị bệnh, từ chức tri phủ Thường Tín, về quê; hơn một tháng sau lại có chỉ triệu vào kinh. Có thể bài thơ này làm trong lần lai kinh ấy (theo chú thích bản Lê Thước – Trương Chính)

Bản Quách Tấn cho chữ LỘ ở đây là SƯƠNG MÓC. Nếu LỘ là ĐƯỜNG, ý câu 1 và câu 5 sẽ trùng nhau, một điều ít có ở Nguyễn Du. Ở đây ra đi vào sáng sớm, chữ LỘ là SƯƠNG MÓC rất thích hợp.


Buổi Sớm Trên Đường Núi Phượng Hoàng

Người đi ngán dặm đường xa
Bóng đêm mù mịt tối qua vẫn còn
Trăng chìm phía vượn nỉ non
Tìm theo dấu cọp lối mòn đưa chân
Sức vơi sương giá ngại ngần
Tha hồ gió thổi tóc cằn phất phơ
Vào thôn gặp bác tiều phu
Thương nhau không hẳn phải như phận mình

69
Mộng Đắc Thái Liên

I
Khẩn thúc giáp điệp quần (1)
Thái liên trạo tiểu đĩnh
Hồ thủy hà xung dung
Thủy trung hữu nhân ảnh

II
Thái thái Tây Hồ liên
Hoa thực câu thướng thuyền
Hoa dĩ tặng sở úy
Thực dĩ tặng sở liên


III
Kim thần khứ thái liên
Nãi ước đông lân nữ
Bất tri lai bất tri
Cách hoa văn tiếu ngữ


IV
Cộng tri liên liên hoa
Thùy giả liên liên cán
Kỳ trung hữu chân ti
Khiên liên bất khả đoạn


V
Liên diệp hà thanh thanh
Liên hoa kiều doanh doanh
Thái chi vật thương ngẫu
Minh niên bất phục sinh

Nằm Mơ Thấy Hái Sen

I
Buộc chặt quần cánh bướm
Hái sen, chèo thuyền con
Nước hồ sao lai láng
Trong nước có bóng người


II
Hái, hái sen Hồ Tây,
Hoa và gương sen đều để trên thuyền,
Hoa để tặng người mình sợ,
Gương để tặng người mình thương.

III
Sáng nay đi hái sen,
Nên mới hẹn với cô láng giềng.
Chẳng biết đến lúc nào không biết,
Cách khóm hoa nghe tiếng cười nói.

IV
Mọi người đều biết yêu thích hoa sen,
Nhưng ai là kẻ yêu thân cây sen?
Trong thân cây sen có những sợi tơ.
Vấn vương không thể dứt được.

V
Lá sen sao xanh xanh
Hoa sen đẹp đầy đặn
Hái sen chớ làm hỏng ngó
Sang năm sen không sinh lại đươc.
Chú thích:
Giáp điệp quần: Quần bay phất phơ như cánh bướm.


Mơ Hái Sen

I
Gon quần bướm lại cho xăn
Hái sen thuyền quế chèo lan tách bờ
Mênh mông bát ngát gương hồ
Bóng in thấp thoáng tỏ mờ đôi ta


II
Hồ Tây sen hái dăm ba
Hoa gương chất đống món quà đầy khoang
Hoa sen gửi chốn cao sang
Gương sen riêng tặng cô nàng mình thương


III
Sáng nay đi hái sen thơm
Láng giềng hẹn quý cô nương chung thuyền
Biết “người ta” nhớ hay quên
Cách hoa chỉ rộn tiếng em nói cười


IV
Ai ai cũng chuộng sen tươi
Mấy ai thương xót cho đời cuống hoa
Trăm muôn tơ sợi mượt mà
Vấn vương vương vấn dứt ra chẳng đành


V
Lá sen xanh thật là xanh
Hoa sen cánh trắng hữu tình biết bao
Hái hoa nhè nhẹ tay nao
Kẻo không năm tới sen nào còn hoa



Thuy Kieu - Kim Trong - Cheo Ha Noi

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.