Feb 24, 2024

Biên khảo

Trác Hiên Nguyễn Cao 1837 -1887
Nguyễn Minh Thanh * đăng lúc 07:33:00 AM, Aug 05, 2023 * Số lần xem: 261

 


              

 T
rác Hiên Nguyễn Cao        
      (1837 -1887)


  "Thệ tâm thiên địa phi trường xích
  Thiết xỉ giang san mãn thiệt hồng"

Trác Hiên Nguyễn Cao

Lẫm liệt anh hùng tỉnh Bắc Ninh
Dốc lòng vì nước đã quên mình
Chiến trường mấy bận thù ghê khiếp
Trận mạc bao phen giặc hoảng kinh
Rạch bụng móng tay bày khí phách
Cắn răng đỏ lưỡi quyết quyên sinh
Hỡi ôi xâm lược không trừ đặng
Thì sống làm chi trước bất bình

                    Nguyễn Minh Thanh khấp tác

1 -  Lược Sử: Nguyễn Cao  (1837 - 1887), Nguyễn Thế Cao, người làng Cách Bi, Bắc Ninh, hiệu là Trác Hiên, danh tướng nhà Nguyễn và là một nhà thơ thế kỷ 19. Cha  Nguyễn Thế Hanh, Mẹ là Nguyễn Thị Điềm.

Năm 1867, đời vua Tự Đức, Nguyễn Cao thi đỗ Giải Nguyên kỳ thi Hương , không ra làm quan, mà về quê mở trường dạy học.

Năm 1873, quân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất, Ông  giữ chức Tán lý Quân Vụ tỉnh Bắc Ninh, đã cùng với Ngô Quang Huy, Phạm Thận Duật, Trương Quang Đản đem quân bao vây  thành Hà Nội, đánh bật đồn bốt của giặc. Sau đó, Ông được bổ làm Tri huyện Yên Dũng, rồi Tri phủ Lạng Giang.

Năm 1882, Pháp tiến đánh Hà nội lần thứ hai, Nguyễn Cao lại dẫn quân về đánh Pháp tại Gia Lâm, và rồi bao vây thành Hà Nội.

Ngày 27 tháng 3 năm 1887, trong trận đánh ở làng Kim Giang Hà Tây, Ông bị giặc bắt. Giặc dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ, nhưng Ông cự tuyệt. Giặc hâm dọa tra tấn. Ông cười nói: " - Tao có sợ chết đâu. Để tao tự xử trước cho chúng bây xem". Nói xong, Ông đã tự rạch bụng bằng móng tay lòi ruột. Họ đem Ông cứu chữa. Tỉnh dậy, biết mình không chết, Ông tự cắn lưỡi và tuyệt thực cho đến  chết. Có nghĩa sĩ viếng câu đối:

"Thệ tâm thiên địa lưu trường xích,
Thiết xỉ giang sơn mãn thiệt hồng."
(Rút ruột đỏ phơi tim vũ trụ
Nghiến răng hồng nhai lưỡi non sông) Cụ PBC dịch

A - Đại Thần Tôn Thất Thuyết có thơ tiếc thương Nguyễn Cao:

Vãn Nguyễn Cao

Tằng thập niên tiền thức hào kiệt
Sinh bình tự hứa giả khí tiết
Tòng ngã Giang Bắc hiệu trì khu
Dũng cảm thanh danh quán đồng liệt
Thâm kỳ báo quốc thụ kỳ luân
Khước tích đương niên tố trung liệt
Tự công thị tử chân như du
Chính khí lẫm nhiên truy cổ triết
Niên lai tựu nghĩa bất thiểu nhân
Tranh đạo Cách Bi ông thù tuyệt
Tinh linh ưng vị dực sơn hà
Vạn cổ Đức Giang lưu phương khiết

                           Tôn Thất Thuyết

Viếng Nguyễn Cao

Mười năm từng biết kiệt hào
Bình sinh khí tiết nêu cao vời vời
Theo ta dẹp lũ giặc trời
Bắc Giang dũng cảm ít người sánh so
Kỳ công báo quốc hằng lo
Ngờ đâu tự tại tự cho lìa đời
Nhẹ nhàng sinh tử như chơi
Bừng bừng chánh khí đất trời cũng kinh
Trung nghĩa lắm kẻ thâm tình
Cách Bi vượt trội thời sinh đã làm
Hồn thiêng trợ giúp Việt Nam
 Phương danh vạn cổ Đức Giang lưu truyền

                                  NMT phỏng dịch

B - Nghe tin Nguyễn Cao tuẫn tiết, Nguyễn Quang Bích lúc ấy đang chống Pháp ở vùng Tây Bắc, đã làm bài thơ khóc Ông:

Khốc tán lý Cách Pha công tuẫn tiết
Lâm nguy kiến tiết tự thung dung,
Tu đối thâu sinh ngữ cánh hùng.
Mạ khẩu vị năng đương nhất tử,
Dịch trường thí vấn thục phi trung.
Giải nguyên thanh giá văn chương ngoại,
Bất hủ tinh linh vũ trụ trung.
Bao điển thượng tu tha nhật sự,
Tranh vanh nghĩa liệt thất cuồng nhung.

                         Nguyễn Quang Bích

 *Cách Pha, tên hiệu Nguyễn Cao
   Khóc Nguyễn Cao  (bản dịch)

Nguy nan xử trí vẫn thung dung,
Chê kẻ tham sinh, giọng nói hùng.
Mắng giặc người xưa tròn phận chết,
Moi lòng ông cũng tỏ gan trung.
Biết bao thanh giá ngoài khoa bảng,
Còn mãi tinh thần khoảng núi sông.
Quân giặc đứng trông đều hoảng sợ,
Mai này nước sẽ biểu dương ông

C - Chí sĩ Dương Bá Trạc cũng có thơ ca ngợi tiết nghĩa Ông:

      Tiết Nghĩa Nguyễn Cao

Trời đất chông gai hết vẫy vùng
Còn đem một chết tạ non sông
Kinh luân cuốn lại con dao bạc
Danh tiết phơi ra giọt máu hồng
Hồn nước gọi về dân ngũ tỉnh
Tiếng thơm cùng thọ miếu song trung
Chết mà được việc hơn bao sống
Gian hoá nên ngay nhát hóa hùng
                                     
Dương Bá Trạc

2 - Thơ Nguyễn Cao: Nguyên Đán Thí Bút Ngôn Chí

元旦試筆言志  
暄氣祛寒落酒邊,
醒看花色上簾鮮。
計旬應已稱強仕,
更事多慚尚少年。
癡拙此身多病態,
遭逢今日幸生緣。
閑來如早成初志,
買盡春山不用錢。

Nguyên đán thí bút ngôn chí
Huyên khí khư hàn lạc tửu biên,
Tỉnh khan hoa sắc thướng liêm tiên.
Kế tuần ưng dĩ xưng cường sĩ,
Canh sự đa tàm thượng thiếu niên.
Si chuyết thử thân đa bệnh thái,
Tao phùng kim nhật hạnh sinh duyên.
Nhàn lai như tảo thành sơ chí,
Mãi tận xuân sơn bất dụng tiền.

                     Nguyễn Cao

Dịch nghĩa:

Xuân Về Bày Tỏ Ý Nghĩ

Khí ấm xua rét rơi xuống bên chén rượu
Tỉnh ra thấy màu hoa tươi vươn lên trên rèm
Kể tuổi thì đã đến tuần làm quan cứng cáp
Trải việc đời thì thường vẫn thẹn là con trẻ
Ngu si vụng dại, thân này nhiều thói xấu
Gặp gỡ như ngày nay là may được có duyên
Nếu từ lâu sớm có chí muốn nhàn tản
Thì mua hết núi xuân chẳng mất tiền

Dịch thơ:

Xuân Về Bày Tỏ Ý nghĩ

Xuân về chuốc chén rượu thơm
Bên hiên thưởng thức hoa đơm rỡ ràng
Tuổi tuần xứng đáng vị quan
Việc đời như trẻ vẫn đang ngại ngần
Vụng dại lại lắm hư thân
May thay có được chút phần thiện duyên
Từ lâu mà thích cảnh tiên
Xuân sơn nhàn cảnh không tiền cũng mua

                  N M T phỏng dịch

Lại chơi Tuyết Sơn, lên Bảo Đài
Năm trước năm nay lên Bảo Đài
Khắp chùa vẫn đó cỏ hoa tươi
Động ôm hồ tuyết còn đây chủ
Lối sạch rêu xanh bởi có người
Sớm tối tiều ca vin cội núi
Véo von chim hót lướt mây trời
Cảnh già phỏng được nhà đôi mái
Ở mãi làng tiên chẳng trở lui.

                      Nguyễn Cao

3 - Tiết Phụ Tuyệt Vời, Bà Nguyễn Thị Điềm (Mẹ Nguyễn Cao):

Chuyện kể: khi Nguyễn Cao lên 4 tuổi thì cha qua đời, lúc ấy Bà Nguyễn Thị Điềm mới ngoài 20 tuổi, nhan sắc mặn mà. Song vẫn âm thầm tần tảo để nuôi con ăn học. Bấy giờ, Lý Trưởng làng Cách Bi tên rất háo sắc . Một hôm, gặp Bà trên đường vắng, hắn đã có hành vi khiếm nhã, chạm nhũ hoa của Bà. Bà từ chối dứt khoát và bảo hắn chờ cho con lớn chút nữa rồi sẽ tính tới...

Tám năm sau, sau khi nhờ bạn thân của chồng châm lo cho Nguyễn Cao; nhân ngày kỵ giỗ chồng, Bà mời họ hàng đông đảo đến tham dự. Trong đó có Lý Trưởng.
Lễ bái xong, Bà bình tỉnh đứng trước bàn thờ chồng, hướng về Lý Trưởng nói:

" - Trước đây Lý Trưởng đã nhân tôi góa bụa, thế cô nên giở trò bỉ ổi. Hắn đã xúc phạm đến danh tiết của tôi. Nhưng tôi phải cắn răng chịu nhục là vì lúc đó con tôi hãy còn thơ dại... Nay tiện thể có đông đủ mọi người, tôi xin vứt trả Lý Trưởng cái vết nhơ ấy ". Dứt lời, bà rút ngay con dao bén giấu sẵn trong mình cắt vú vụt vào mặt hắn, rồi tự vẫn năm 1852.

Người đời hay nói: " Hổ phụ sinh hổ tử ", nơi đây xin phép đổi lại một chữ: " Hổ mẫu sinh hổ tử " để kính ngưỡng Bà Nguyễn Thị Điềm, từ mẫu  Nguyễn Cao với bài thơ và câu đối:

Tiết Phụ Nguyễn Thị Điềm

Vợ chồng đạo trọng giữ vuông tròn
Hận uất dằn lòng bởi xót con
Lý Trưởng tồi tàng tên mạt hạng
Nữ nhi hảo hạnh tấm lòng son
Tế phu một thuở thù nghiêm  trả
Tặc tử trăm năm nhục vẫn còn
Mẹ cọp sinh con con cũng cọp
Thiên thu tiết phụ tuyết đầu non

                 Nguyễn Minh Thanh khấp tác

Kính ngưỡng Tiết Phụ:

  - Phu thê nghĩa trọng, Quả phụ nhẫn nhục huy hoàng gương Tiết phụ,
  - Mẫu tử tình thâm, Cô nhi dục dưỡng lẫm liệt đấng Nam nhi.

4 - Phần Kết: Đọc Sử đau hồn Sử

 Cảm Thán,

Năm ngàn năm lẻ quốc hồn đau
Đọc Sử ngậm ngùi tiếc... Nguyễn Cao
Tổ Quốc tan hoang nghe ruột thắt
Vạn dân bại hoại cảm gan bào
Máu hồng sông chảy hao vô kể
Xương trắng núi chồng tốn xiết bao
Thương tưởng tiền nhân công hãn mã
Theo dòng nước biếc sóng lao xao...!!

                             Nguyễn Minh Thanh

Nghiêm mình chào kính Ô. Nguyễn Cao :
- Chí ngang trời, múa gươm xông xáo đương hào kiệt gìn sông núi,
- Gan liền đất, mổ bụng ngạo nghễ trước ngoại tặc cướp núi sông !!
               

               Nguyễn Minh Thanh cẩn bút
                       ( GA, 2023 -  8  -  3 )  

Nguồn:
Trang Web: Nguyễn Cao
Thi Viện : Thơ Nguyễn Cao

TNĐT -  DNTĐ  Trịnh Vân Thanh...


 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.