Feb 28, 2020

Thơ mới hiện đại VN

Quảng Lăng khúc
Hà Văn Kỳ * đăng lúc 02:02:16 PM, Jan 06, 2011 * Số lần xem: 2027
Hình ảnh
#1

 

1
Mây trôi nước chảy
Lưu thuỷ hành vân
Đã nghe gì mà tới
Đã thấy gì mà đi
Giữa cành cây
Làn hương ướt
Tơ liễu rủ
Mây trắng bay
Sương đẫm ướt
Xoay trở bàn tay

2
Gió quay cuồng
Bên trăng lạnh
Ai xoay trở
Nửa bóng người qua
Năm dây đàn
Treo khúc nhạc
Lồng ánh nguyệt
Nửa bóng người qua
Ai đi về
Trong sương lạnh
Mây chập trùng
Nửa bóng người qua

3
Người xưa người xưa
Mười ngàn năm cũ
Tiếng đàn thu
Theo gió ru
Ai rung đàn
Ai gõ nhịp
Tri kỷ hương gầy
Ôm bóng men say
Ai đến vì ai
Ôm ấp tình say

4
Trăng phỉ thuý
Gió phù vân
Khách xuống thuyền
Mây vướng gót
Cơn gió hoang
Trời mênh mang
Tiếng đàn tơ
Chìm núi biếc
Ôm bóng trăng gầy
Ôm gót hương say

5
Đàn hạc bay
Trong sương lạnh
Thời gian chìm
Trong giấc ngủ yên
Rót chén trà
Say khúc hát
Ngâm điệu nhạc
Vờn vỡ mây bay
Ôm ánh trăng gầy
Ôm chiếc bóng lay

6
Đêm lặng yên
Vành môi mỏng
Sóng dạt dào
Gió yêu thương
Nghe tiếng đàn
Vang chung rượu
Cung đàn cũ
Tiếng người xưa
Chìm sâu trong mắt
Nửa bóng trăng gầy

7
Đã vì người mà đến
Đã thấy người nên đi
Vần thơ còn ở lại
Với nửa bóng trăng gầy
Ôm cung đàn
Gieo phím cũ
Trăng ủ rũ
Giữa bờ lau
Bóng quạ bay
Tha hài ngọc
Chìm sâu trong đáy mắt
Rớt nửa bóng trăng gầy

8
Nến lung lay
Đêm tĩnh mịch
Bóng hương gầy
Tri kỷ tìm đâu
Đứt giây đàn
Âm mất tiếng
Sóng dạt dào
Khúc hát Quảng Lăng
Tình ở đâu
Ai ở đây
Chôn vùi trong đáy mắt
Một chút bóng trăng gầy.

Hà Văn Kỳ 
(Tuý tâm ca)

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.
GIẤC MƠ ĐỂU
Lu Hà Jun 25, 2009
Tôi đã đọc bài viết cuả chị Huệ Thu“ Hiểu Đời“, bài viết hay cả một thế giới quan , nhân sinh quan về cánh sống cuả con người như thế nào cho hợp lý khôn ngoan vưà phải không hại gì cho ai mà lại mang lợi cho mình.Chị Huệ Thu nhấn mạnh nhiều về yếu tố tâm lý thể trạng sức khoẻ. Vật chất tiền tài, bổng lộc, quyền lực không là cái gì cả. Như cơn gió thoảng qua chẳng ai giữ được lâu, ôm nó mãi suốt đời. Quyền lực giàu có như Tần Thủy Hoàng, Hitler, Stalin đã lên đén tột đỉnh, nhưng những người này tuổi thọ rất ngắn cả ba chỉ trên dưới 50 tuổi thì chết. Cuối đời họ sống cằn cỗi tàn bạo và lắm bệnh tật. Dù có gian giảo mưu kế độc đoán nhưng họ vẫn là con người , sự tàn ác không thể hoá họ ngay thành thú vật mất trí hoàn toàn. Tuy rằng cuối đời cả ba nhân vật này có nhiều triệu chứng lâm sàng cuả bệnh điên. Không phải đâu xa cứ lấy cuộc đời cuả ông Hồ Chí Minh mà xuy xét. Bản di chúc có đúng tự tay ông Hồ viết ra hay là thư ký cuả ông ta? Ông ta chỉ nói ra những ý chính mà trong tiềm thức cuả ông ta lúc mê lúc tỉnh còn nhớ được. Tôi không tin ông Hồ là ngươì khoẻ mạnh đến cuối đời. Có thề trước và sau tuổi 70 Hồ đã mắc chứng bệnh lẩm cẩm hoá lão lãng quyên. mọi tin tức sinh hoạt cuả Hồ bị bưng bít dấu kín. Đàn em cuả Hố có thể trong bụng rất kinh miệt Hồ nhưng ngoài miệng vẫn ra rả ca ngợi, ca tụng Hồ như thánh thần. Bài viết cuả chị Huệ Thu đã phân tích kỹ quy luật cuả tâm linh. Hồ sẽ khó tránh khỏi quả báo.Cái thiệt thòi trước nhất là bản tính Hồ dâm đãng nhưng vì quyền lợi cuả Đảng mà Hồ phải đóng vai một ông thày Tu. Giống như bài thơ cuả bác Đỗ Qúy Bái diễu cợt lợn bị treo cám, đói thèm rỏ rãi nhưng vì sĩ diện mà không dám ăn, chỉ điểm này cũng đủ dày vò thể não tâm trạng mà sinh ra bệnh rồi, chưa nói đến việc táng tận lương tâm cho tay chân hiếp dâm vợ chưa cưới cuả mình rồi thủ tiêu đi.Cái giấc mơ xã hội thiên đường, rồi thế giới đại đồng chỉ là một giấc mơ đểu. Vậy tôi xin có bài thơ „ Giấc Mơ Đểu“ , muốn đưọc chia sẻ với các bạn:

GIẤC MƠ ĐỂU

Trí tưởng u minh khổ thế này
Nam kha mộng mị vẫn còn dài
Đêm trường chủ nghiã theo Các Mác
Đắm cả non sông hại giống nòi

Có phải sinh ra đã lụi tàn
Đông con Các Mác số nghèo hèn
Căm thù nên phải đi tìm chữ
Mê muội viết ra chuyện lỡ lầm

Có phải sân si mà khổ đau
Giận đời trí tuệ kẻ hơn ta
Giết đi giết nưã cho bằng hết
Dư lại còn ta xoá kiếp nghèo

Có phải vô thần mà bất luân
Tôn vinh khỉ tổ cõi phong trần
Xa xưa hoang dã tìm chân lý
Xã hội bầy đàn mộng thế nhân

Có phải tham lam mà kế mưu
Ru hồn lao khổ những vần thơ
Đấu tranh giai cấp con đường sống
Chuyên chính độc tài có đảng ta

Có phải quyền hành là cố vị
Phong lưu hưởng thụ một đời xuân
Họ hàng con cháu ơn nhờ vả
Giai cấp tiên phong sẽ chiụ đòn

Dối trá làm chi một giấc mơ
Tuyên truyền lường gạt đám con thơ
Mẹ cha cơm áo mồi câu cá
Hiện thực lâu đài xây xác ma

Có phải nhân danh vì triết học
Mượn màu nghiên cứu để loè nhau
Dăm ba trang sách say màu máu
Chém giết vì ai chữ thặng dư?....

Thương xót Vu Phần một giấc mơ
Mộng làm phò mã ở Nam kha
Tỉnh ra mới biết đời vô nghiã
Thương kẻ cần lao vẫn còn mơ….

Đức quốc 2008 Lu Hà
CON CÁO VÀ BẦY CỪU
Lu Hà Jun 13, 2009
Ngồi nhà một mình, bất giác nhớ quê hương. Ngậm ngùi tìm bạn bè để dốc bầu tâm sự. May còn có các bạn từ năm châu lục được làm tri kỷ tri âm.Nói đến quê hương ai mà chẳng nhớ.Cha Mẹ Ông Bà Tổ Tiên là cội nguồn cuả tâm hồn. Cha hiền con thảo,người cha độc ác gian ngoan thì con cái nó cũng như vậy mà thôi. Ông Aloi Hitler là một người Áo độc ác tàn bạo đã hiếp dâm bà Clara mà sinh ra Adolf Hitler.Cái quái thai được gượng gạo tạo thành từ một ngưoì đàn bà Do thái đã luống tuổi, mà sinh ra một đưá trẻ sau này là ác nhân tội đồ cuả lịch sử. Hitler không phụng thờ quý hoá gì tổ quốc quê hương mình là nước Áo, dòng giõi mình là ngươì Do thái. Theo luật Do Thái đã định nghiã: Ai là người Do thái nếu có người mẹ là ngươì Do Thái. Do Thái là dân tộc duy nhất nguồn gốc con cái tính từ ngươì mẹ. Hitler mất gốc và không cần quê hương. Hắn lợi dụng người Đức để được làm lãnh tụ thoả mãn cho cái danh vọng hão huyền.Người Đức là những con cừu thật thà đã tôn vinh Hitler là cha già dân tộc. Ông Hồ Chí Minh đã bôn bà hải ngoại , không phải vì yêu nước đi làm cách mạng mà muốn tạo nên sự đã rồi cứ hiển diện bất hợp pháp tại Pari đẻ ép người Pháp phải nhựợng bộ cho mình vào học trường thuộc điạ để sau này làm quan lại tay sai cho Pháp. Nhưng vì thành phần bất hảo cuả người cha, can tôi đánh chết người, bản tính hung tợn như ông Aloi Hitler và trình độ cuả anh chàng Nguyễn tất Thành còn quá kém. Tâm lý cuả Hitler và ông Hồ rất giống nhau muốn được làm quan, làm lãnh tụ và muốn đưọc trả thù cá nhân. Hitler đã lưà dối dân tộc Đức và dẫn họ vào ngọn lưả chiến tranh. Ông Hồ cũng vậy dẫn dắt ngươì Việt Nam vào vòng lưả chiến tranh ân oán thù hận cá nhân ông ta với người Pháp và cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn.Ngườì Việt nam giết ngươì Viêt nam. Người Nga và ngườì Tàu ranh mãnh hơn ngưoì Pháp đã hiểu được tâm điạ, tâm lý tiểu nhân cuả ông Hồ và đã lợi dụng triệt để. Nga – Tàu đã thắng Pháp Mỹ trong con bài Hồ Chí Minh.Hồ Chí Minh là một con cáo khôn ranh, Dân tộc Viẹt Nam là những con cừu khờ khạo.Kẻ lợi lộc toạ hưởng nhiều nhất lại chính là thủ hạ thân tín và cái Đảng cộng sản mà chính ông Hồ lập ra. Người dân Việt Nam bị đày đoạ nô lệ vì chính sách ngu dân cuả ông Hồ và chính bản thân ông Hồ cũng cũng chính lại là kẻ khốn khổ nhất. Ông ta chỉ có một cái hư danh hão huyền là lãnh tụ, là cha già dân tộc, là kẻ có quyền hành sinh sát nhất Việt Nam từ năm 1945, nhưng từ những 1960 thì chính Hồ lại là nạn nhân khốn khổ.Hồ già cả chỉ còn là vú em, là cái còi cuả Đảng, cuả bọn đàn em khi cần thì bóo cho nó kêu để lấy tiếng với dân thôi.Một lão già lẩm cẩm hoang dâm nhưng bị Đảng treo giò, cho nên chỉ còn ngồi đó mà xơi nước miếng, năm thì mười hoạ cũng có tay chân thủ túc dẫn gái vào chơi như kiểu đánh du kích rồi cũng bí mật thủ tiêu đi đẻ phi tang. Chúng ta không phải rơi vào hoàn cảnh cô đơn như Hồ nên chúng ta chưa thể tưởng tưởng tượng nổi, đạo đức lương tâm, tâm trạng Hồ xuy xụp tồi tệ như thế nào.Tôi viết ra là vận dụng những xuy đoán hoàn toàn khách quan. Sống để làm người như Hồ hay Hitler, Stalin đều chỉ là cuộc đời tang thương cuả những cái rẻ rách không đáng giá nhưng trong một sự tình cờ hợp lý nào cuả lịch sử mà lại đưọc thiên hạ nhầm lẫn phụng thờ cung phụng sủng ái như vậy và gọi là cha già dân tộc. Hồ, Hitler, Stalin cả ba mới hơn 50 tuổi như tôi mà cũng gọi là cha già dân tộc, thật là vô lý láo toét vô cùng. Tội này phải hỏi bọn văn nghệ sĩ cố tình làm thân tôi mọi đua nhau viét láo dựng ra những câu truyện hoang đưòng về cuộc đời đạo đức nhân cách cuả họ để kiếm chút công danh và tí tiền nhuận bút.Chúng nó đã làm cho cả ba dân tộc Nga Đức và Việt Nam vào vòng tang thưong bi luỵ cuả nghèo đói chién tranh và chết chóc.Những con cáo và bầy cừu cuả lịch sử. Tôi xin tặng các bạn bài thơ „ CON CÁO VÀ BẦY CỪU „


CON CÁO VÀ BẦY CỪU

Có con cáo trắng thành tinh
Trong hang về chốn kinh thành trần gian
Caó gian trong cảnh bần hàn
Phẫn cơn đói khổ triền miên hận thù
Bầy cừu lạc lõng bơ vơ
Đi tìm chăn chủ tôn thờ thánh nhân
Cáo con cạy cục bề trên
Nhận lương học bổng hiến thân tôi đòi
Toàn quyền chẳng chút đoái hoài
Cáo ranh quả đắng chưỉ trời còn xa
Cáo đành quyết chí bôn ba
Xuất dương hải ngoại ta bà gian truân
Khen cho chồn cáo gian ngoan
Ku li rửa bát bền gan chẳng từ
Bát cơm nước miếng ê chề
Lưu vong viễn xứ mộng về hồi hương
Căm thù nhục nhã đằng đằng
Công thành danh toại bá vương chửa thành
Thế thời một buổi trời xanh
Quốc dân ngơ ngác cáo thành chủ nhân
Bầy cừu mong mỏi bồn chồn
Trời cao mưa móc thánh hiền ban ơn
Mấy phen sát máu điêu tàn
Cừu dân nướng chả hai miền Bắc Nam
Chiến tranh hủy giệt dần mòn
Đau thương tang tóc ngút ngàn trời xanh
Cáo về yêu quái tàng hình
Cừu dân sợ bóng cáo thành khắc tinh.

Đức Quốc 2008
Lu Hà
KHI CHÚNG GHÉT ANH
Lu Hà Jun 10, 2009
Trong lịch sử loài người, chưa có một quốc gia nào chế độ nào lại tỏ ra hằn học căm ghét các văn thi sĩ như ở Việt Nam và các nước cộng sản hay độc tài. Tại sao họ lại có hẳn một cơ quan kiểm duyệt văn thơ báo chí dưới sự chỉ đạo cuả bộ công an? Đơn giản là họ sợ sự thật, vì bản chất chế độ là lọc lưà dối trá. Hàng nghìn năm văn hiến cuả ta, có bao giờ nhà nước cấm đoán làm văn thơ đâu. Làm ngươì ai mà chẳng muốn được đọc những vần thơ giàu trí tuệ yêu thương đầy tình người ,tính nhân bản , hướng thiện cuả tài nhân.Trước thời cộng sản chúng ta đã có hẳn một di sản văn hoá đồ sộ, với những vần thơ bất hủ cuả những thiên tài: Nguyễn Du, Hồ xuân Hương, Nguyễn gia Thiều và Trần Tế Xương vân vân….Nói đến lục bát thì có Truyện Kiều, song thất lục bát thì có Cung oán ngâm khúc.Từ ngày có đảng Cộng sản, có anh chàng Tố Hữu với tài làm thơ con cóc giỏi hô khẩu hiệu xuông. Anh chàng Xuân Diệu thì bán nước ốc cho tình. Anh chàng Chế lan Viên giỏi gân cổ lên với mấy bài vè sông nuí. Còn anh chàng thợ ghép chữ ba láp bẻm mép viết phê bình văn học Hoài Thanh thì cuộc sống và số phận các văn thi sĩ chân chính cuả ta trở thành những thảm kịch đau thương vô cùng. Họ là những thiên tài, những tài nhân mà trời đã phú cho họ một traí tim và thiên bẩm cuả người văn thi sĩ. Làm văn viết thơ thì phải có tài năng .Nhất là làm thơ thì phaỉ có thiên phú bẩm sinh, cái này còn phụ thuộc vào sự nỗ lực cuả thi sĩ, nièm đam mê chân thành và trái tim nhạy cảm đa cảm cuả họ. Không thể học nhiều qua nhiều trường lớp mà thành lão làng được. Kể cũng lạ một người lạnh lùng, tàn bạo, hẹp hòi ích kỷ như Tố Hữu cũng có thể là một nhà thơ.Theo tôi Tố Hữu thiếu rất nhiều điều kiện cần và đủ cuả một nhà thơ:
Thứ nhất ông ta không có thiên phú bẩm sinh. Thứ hai không có trái tim đa cảm, nhạy cảm và nhân hậu mà trong lòng đầy hận thù căm ghét chỉ thích truyện bắn giết, sát hại ,khủng bố , đe doạ và thủ tiêu kẻ khác, đầy tính toán biển lận quyền lực và vật chất tầm thường, nhỏ mọn tiểu nhân.. Thứ ba ông ta là một tín đồ mù quáng cuả chủ nghiã cộng sản.Xuân Diệu, Hoài Thanh, Chế lan Viên cũng không ngoài hệ lụy này. Một kẻ tầm thường, dốt nát nhưng lại thích làm thơ để ca ngợi đảng, ca ngợi lãnh tụ, ca ngợi chủ nghiã thì là một điều rất nguy hiểm. Lẽ dĩ nhiên vô đôc bất anh hùng, ông ta sẽ không ngại gì mà vu cáo chụp mũ cho bất cứ ai có thiên phú bẩm sinh tài năng hơn ông ta. Ông ta sẽ sử dụng quền lực cuả đảng, một đảng độc tài chuyên chính nắm quyền đẻ chèn ép các nhà thơ khác vào đường tuyệt lộ. Ép họ vào chỗ chết, căng thẳng, đấu tố cho mất khả năng sáng tác hoặc triệt hạ về đường kinh tế sinh nhai. Khổ hạnh , bất hạnh cho những ai có tài năng nhưng sinh nhầm đầu thai cùng Tố Hữu để phải sớm chết non, chết yểu vào tay một ngã ngu xuẩn man dại cuồng thơ này.
Tôi chưa hè đọc cuốn thi nhân Việt nam cuả Hoài Thanh, nhưng tôi nghĩ cũng chỉ là thứ văn chương ba láp có may ra cũng kể công trúng tên những thi sĩ thực sự tài năng cuả thời kỳ thơ mới . Nhưng không phải vì thế mà xoá tội Hoài Thanh một tên văn nô rẻ tiền đã làm hại đời bao văn thi sĩ trong vụ nhân văn giaim phẩm. còn anh chàng Xuân Diệu làm thơ ra chỉ để cho giới bê đê đồng bóng đọc thì đúng hơn. Tôi là một người đàn ông thực sự đúng nghiã cuả một người đàn ông tôi không dễ mắc lưà Xuân Diệu để đọc thơ ông ta. Tôi tìm gì trong đó? Tình yêu và đàn bà? Tôi đâu thấy có tôi sẽ tìm họ trong thơ cuả các anh Nguyễn Bính, Hồ Dzech hay Hàn Mạc Tử, Tôi chắc chắn và khảng định theo nhạy cảm cuả bản thân tôi là mỗi khi làm thơ tình thì trong đầu các anh ấy quả nhiên có hình ảnh cuả một cô gái nào đó rồi. Dù cho các cô có yêu hay không yêu các anh ấy cũng không quan trọng. Sở dĩ hôm nay tôi có hứng lại tâm sự vớin các bạn yêu thơ trong quán thơ Huệ Thu, vì tôi mới làm xong một bài thơ thể loại 8 chữ có nói đến những tâm tư mà tôi đã viét ra đễ cùng chia sẻ với các bạn. Tôi gọi bài thơ mới làm là. „ Khi chúng ghét anh“.Chúng nó là ai? Là những kẻ bất tài kém cỏi, tiểu nhân nhưng háo danh muốn được ngưoì khác tôn thờ mình là Đại văn hào , đại thi sĩ. Đúng vậy ngày xưa để đạt được cái danh hiệu nhà thơ lớn mà Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu đã đấu tố hạ nhục biết bao nhiêu ngươì. Làm cho bao nhiêu ngươì thân tàn danh liệt, bại hoại cả về thể xác lẫn tâm hồn và sống lay lắt cho đến khi trút hơi thở cuối cùng



KHI CHÚNG GHÉT ANH
Tặng các văn thi sĩ trong ngục tù Cộng sản

Đời thi sĩ sinh ra là khắc nghiệt
Trái tim hồng anh chỉ biết yêu thương
Hồn bao la như biển rộng trùng dương
Tình nhân loại như mưa nguồn nắng hạ

Lũ chúng nó những linh hồn quái gở
Bóng dật dờ tà giáo quỷ ngoại lai
Cũng phun thơ nhả độc để hại người
Gieo chết chóc tối tăm đầy oán hận

Là thi sĩ anh không vì đảng phái
Thơ xót thương bao số phận con người
Rạch máu tim huyết lệ trả cho đời
Đảng đày đoạ xuống tận cùng đau khổ

Lũ chúng nó làm thơ theo chỉ thị
Chói tai hoài những khẩu hiệu vô duyên
Trống mõ phèng la thúc dục hành quân
Nưả thế kỷ hiến thân đời vô nghiã

Chúng buộc tội nhân văn là phản động
Khi tình người thi sĩ với quê hương
Yêu đồng bào là cản bước tiền phong
Bài thơ máu khóc ra thành nước mắt

Chúng hằn học vì anh là thi sĩ
Chỉ biết yêu thương chẳng biết hận thù
Không bẻ cong ngòi bút lưỡi uốn đưa
Cho quỷ đỏ khom lưng làm nô lệ

Chính chúng nó bán buôn nền độc lập
Giải phóng miền Nam độc kế Bắc triều
Gán Hoàng sa thêm cả đảoTrường sa
Vay súng đạn máu quân Tàu thấm đỏ

Lũ chúng nó theo nhau nhiều thập kỷ
Triệt hạ nhân tài áp bức hiền nhân
Biến quê hương thành chiến điạ hoang tàn
Dìm thi sĩ tắm mình trong biển máu…

Đức Quốc 10.6.2009 Lu Hà
Tâm Sự Chủ Nhật
Lu Hà May 31, 2009
Tâm tình ngày chủ nhật với Sài Môn Thi Đàn

Thưa các bạn văn thi hữu xa gần và các bạn tửu khách say thơ thường xuyên khắp năm Châu cuả quán thơ Sài Môn Thi Đàn. Tôi chỉ là khách vãng lai giang hồ độc kiếm bộ hành đi ngang qua tửu quán ,chỉ tình cờ xin uống ké vài ngụm nước thơ mà trở thành nên thân hữu với các bạn. Tôi mừng lắm từ nay tôi sẽ thường xuyên ghé thăm các bạn để hàn huyên dốc bầu tâm sự về thi phú và cõi lòng mình với giai huynh tứ hải năm châu lục
. Hình như các bạn cũng thích thơ tôi.Nhân dịp hôm nay là chủ nhật mới rỗi rãi.Tôi như một con sói già đơn độc ở nơi đất khách quê người. Sao laị đơn độc, tình cãm gia đinh chẳng có gì đơn độc, nhưng đơn độc về ngôn ngữ tâm linh.Tôi lai mắc một chứng bệnh kinh niên, cái bệnh tương tư ấy mà tuy không đến nỗi nặng như Cụ Tản Đà ngày xưa phaỉ vào rừng cầu hồn và tìm Bạch Cốt Tinh, tôi vẫn tỉnh như sáo nhưng phaỉ làm thơ thường xuyên để giải bệnh tương tư, tự cứu mình thôi. Đúng bệnh này chỉ có thơ mới chữa được, cũng may cho tôi mắc phải chứng bệnh này mà laị ở Đức, cũng là cái phúc tổ cho 5 đời nhà tôi. Nếu ở Việt Nam có lẽ người ta phaỉ đưa tôi đi Châu Qùy thôi. Vì nghe nói ở Việt Nam muốn làm thơ phaỉ đóng thuế hay bị phạt vạ mồm. Thế còn may nếu viết lách quá chân tình ruột gan phơi ra tất cả kể lể về những nỗi oan ức về những đắng cay cuả đời mình và cuả xã hội có khi còn bị bỏ tù hoặc một nhát dao đâm lén trộm đằng sau thế là xong. Ở đây muốn viết gì thì viết để chưã bệnh, thật sướng cái đời, sướng cái thân tôi. Ở đây tâm hồn tư duy tha hồ mà dàn traỉ chẳng thằng nào bắt bò và thèm để ý đến.Tôi cũng muốn nôm na vaì lời cũa kẻ võ biền thô lỗ nhà quê, ở nơi thâm sơn cùng cốc ẩn dật này. Thỉnh thoảng sợ quên mất tiếng Việt Nam tôi có hay đọc trang Web báo điện tử của hội nhà văn Việt Nam „ www. Evan.com“, Tôi thấy một ngã nào đó đã chết rồi, nó khoe khoang kể lể về cái tài làm thơ cuả nó, À thằng Phạm Tiến Duật, không hiểu ý qúy vị thế nào chứ tôi tuy là kẻ dốt nát nhưng cũng thấy thơ cuả nó chẳng khác gì như Ông Trạng Quỳnh bỏ thơ ông ấy vào ống quyển với cào cào châu chấu cho các Quan trường ngưỉ. Vì là tự do ngôn luân nên tôi cứ lếu láo nói thẳng lòng mình, À cả cái ông cụ tổ nhà nó là ông Xuân Diệu cũng vậy, người ta khen ông ây là Hoàng tử thơ tình, vì chỉ viết dặt có một chiêu thơ tình. Tôi cố căng óc để tìm hiểu cái ý tứ trong thơ tình,nhưng tôi không tìm thấy hình ảnh cuả một người con gái bằng xương bằng thịt ở trong thơ sao nó mờ aỏ như hình ảnh cũa một ngã đồng tính luyến aí thế, có lẽ là một ngã thổ đực thì phaỉ?Lời lễ chau chuốt thật nhưng có lẽ chỉ là một trận đồ bát quái của ngôn từ chỉ che đậy một sự rỗng tếch chẳng có gì. Nên cha con ông Duật- Diệu nó bốc thơm nhau là phaỉ.Tôi là kẻ dốt nát đang ty toe học làm thơ nhưng tôi chỉ tôn thờ Cụ Nguyễn Khuyến, Cụ Tản Đà, Cụ Nguyẽn Bính và Cụ Hồ Dzech thôi. Đây không phaỉ là dốt nát mà laị chê bai kẻ khác. Tôi chỉ là một ngã nhà quê ngông cuồng ở nước ngoài làm thơ chưã bệnh và ai thèm chấp gì cái thằng mắc bệnh si tình như tôi. Đời thuở nhà ai một nhà thơ lại đi bàn về sinh đẻ có kế hoạch ,tuyên truyền cho thanh niên nam nữ yêu thơ mình, thơ Xuân Diệu nên dùng bao cao xu để hạn chế sinh đẻ.Rồi mong tên mình được ghi vào Văn Miếu tự coi mình là ông Vua thơ.Kể cũng lạ thơ tôi có đến hàng trăm bài mà chẳng dám nhận mình là nhà thơ mà cha con Diệu- Duật vẻn vẹn chỉ có thơ tình và mấy bài viết về Trường sơn mà laị coi là nhà thơ của thế kỷ, là Hoàng tử ái tình, là viện sỹ hàn lâm, là con đaị bàng sơ sinh cuả thơ, vân vân và vân vân… Trong khi đó chính Xuân Diệu ra giả chê bai Hàn Mạc Tử, công kích lên án Trần Dần và các nhà thơ chính danh cuả Tự Lục Văn Đoàn. Chính Xuân Diệu cũng từng là thành viên và quay ngược lại sỉ nhục bạn bè cuả mình. Tôi lên án Xuân Diệu liệu có đúng không hay tôi là kẻ hồ đồ sinh sau đẻ muộn chả biết gì?Hay tôi là một ngươì ở hành tinh khác mà không hiểu gì cái coĩ trần tục này mà tôi đang sống chăng? Tôi cứ viết như vậy vì tự do ngôn luận mà.Viết cho sướng cái tâm tư bị uất ức, chẳng ai bỏ tù và bắt đóng thuế, phạt vạ mồm đâu mà sợ. Trong nhiều thập kỷ qua ta đã ăn phải quả nhầm, ta đã mắc mưu Đảng để để tôn vinh những kẻ hư danh sáo rỗng và vùi dập lên án những thiên tài danh sĩ. Một tài năng như Hồ Dzech lại không được trọng dụng, không được quyền sáng tác nên Hồ Dzech một thời gian dài phải sống vô nghiã vật lộn cho miếng ăn hàng ngày, nghĩ mà đau thật đáng tiếc vô cùng,nên ngày nay chúng ta không có nhiều sáng tác cuả anh. Tôi muốn đưọc chia sẻ với các bạn bài thơ lục bát cuả tôi về vì sao tôi phải làm thơ?

RẠCH TIM TRẢ HUYẾT CHO ĐỜI
Vì sao ta phải làm thơ
Vì đời chỉ những u sầu khổ đau
Thương chàng Lý Bạch ngày xưa
Vì thơ mà phải gieo đầu xuống sông
Nhớ Hàn Mạc Tử bi thương
Sầu vương hoen lệ đêm trường cô đơn
Nguyễn Du trằn trọc canh tàn
Hồng nhan bạc mệnh thuyền quyên giang hồ
Chữ trinh lấy hiếu làm đầu
Bụi nào vẩn được nhi Kiều bán thân
Bao nhiêu tâm lực hao mòn
Tuổi già chóng đến nghèo hèn thi văn
Nếu là quân tử chính nhân
Mong đừng lưà dối trái tim thường tình
Còn chờ vào chữ quang vinh
Vì thơ mà phải bán mình quỷ vương
Tuyên truyền láo khoét không xương
A dua bợ đỡ con đường bất luân
Bẻ cong ngòi bút câu cơm
Đỉnh cao danh vọng chui luồn đã chưa ?
Trước giờ hấp hối thều thào
Trối trăng thủ hạ đưa vào miếu quan
Khắc bia đẽo đá ghi tên
Ngàn năm ô nhục lưu truyền sử xanh

Đức quốc 2008
Lu Hà


XÓT ĐAU THẾ KỶ ĐI QUA

Tính đến hôm nay đã tám hôm
Nưả thân đau nhói buốt như dần
Có đau mới thấm mùi trần ải
Xuy ngẫm làm thơ gưỉ thế nhân

Có biết bao nhiêu trong thế gian
Thương đau chia sẻ với nhân quần
Tìm đường giải thoát mang tâm Phật
Cứu khổ niết bàn nở cánh sen.

Nếm trải phong trần gội gió mưa
Nưả đời thế kỷ tháng ngày qua
Ra đi tức tưởi hồn non nước
Hành khất theo đường vương lụy đau

Nỗi đau thể xác với tinh thần
Kim cổ đông tây vẫn luận bàn
Văn chương thơ phú cho nhân loại
Trôi dòng sông đỏ buốt con tim

Căm kẻ sài lang hận núi non
Lò thiêu bể ngạt mất nhân tâm
Khinh người reo rắc tro nhân loại
Phát xít mác lê hội cùng thuyền

Quốc xã nhẫn tâm vì thượng đẳng
Tô son dòng máu Đức vinh quang
Cộng sản đấu tranh vì giai cấp
Mượn mùi quần chúng bốc lên trang?....

Bịp bợm loè nhau đến tận cùng
Sang trang thế kỷ vẫn kinh hoàng
Tôn vinh lãnh tụ khăn quàng cổ
Mao Lê Adolf sói cùng bầy

Kể sao cho hết nỗi đau thương
Tội ác mây trời thảm bốn phương
Già trẻ gái trai nào kể xiết
Nuí cao biển rộng sóng hờn dâng

Tớ vẫn làm thơ kể nỗi đau
Bao nhiêu giấy bút viết cho thưà?...
Đinh tai con cuốc kêu ra rả
Muôn kẻ tha hương gọi bốn muà....

Đức Quốc 2008
Lu Hà


NỖI ĐAU TRẦN THẾ

Vẫn cái đau dày vò lẵng nhẵng
Suốt đêm ngày dai dẳng chẳng tha
Buồn phiền tớ lại làm thơ
Kể ra cho nỗi đớn đau thế này
Khách trần thế nào ai thấu hết
Có bao nhiêu đau buốt ở đời?
Kể từ lúc mới sinh thời
Hay là khuất núi đoạ đày kiếp sau
Lũ con cháu rên la thuở trước
Trong hồ sơ dấu bước cha ông
Cường hào điạ chủ phú nông
Thương gia tư sản điền trang một loài
Cách mạng về cho đi cải tạo
Vẫn chưa tha con cháu vạ lây
Chặn đường bi lụy sinh nhai
Tinh thần tiều tụy hoa rơi nhụy tàn
Cũng là sống công dân hạng bét
Chính quyền kinh sẻ nát nguồn cơn
Như bao quân cán ngụy quyền
Từ thời chính thể miền nam cộng hoà
Nỗi đau này dày vò tâm não
Buốt con tim dày xéo héo hon
Dật dờ trước ngõ đầu thôn
Còng lưng chiếc bóng sớm hôm đi về
Cửa nhà tan tác thê thảm xiết
Vợ bán bar chồng hốt phân tro
Ba miền sáng nắng chiều mưa
Đói ăn thất học đổ ra thị thành
Trong xã hội hoành hành băng đảng
Con cháu ông che bóng du côn
Bao cho trên dưới chu toàn
Bịt mồm báo chí tước quyền tự do
Kẻ đáng trị nhởn nhơ pháp luật
Người bị oan tống suốt lao tù
Luật rừng chỉ thị đong đưa
Ai mà tả hết nỗi đau tận cùng
Bao ngón độc tuyệt đường sinh lộ
Sinh lý tâm thần héo mòn thân
Tâm hồn thể xác rũ tàn
Bát cơm chén nước muôn phần hiểm nguy
Gục ngã xuống gan truy tim thận
Rã rượi đau thấu tận trời cao
Trời xanh lồng lộng biết sao?
Mây xa khuất bóng trời nào có thương?
Phải kể đến muôn phương tứ hải
Động lòng thương, chính trị lương tâm
Bao nhiêu tổ chức nhân quyền
Thuốc men điều trị vợi dần thương đau

Tớ cũng đau làm thơ kể lể
Vài đôi dòng chia sẻ thương đau
Nôm na vài chữ quê muà
Nỗi đau trần thế làm sao giãi bày ?....

Đức Quốc 2008
Lu Hà


CHIA SẺ NỖI ĐAU

Suốt cả tuần nay tớ bị đau
Toàn thân nhức nhối khổ trăm chiều
Có đau mới thấy đau mà ngại
Liệt giường suy ngẫm sự thương đau

Nỗi đau trước nhất ở trong đời
Thiên hạ tồn vong mọi kiếp người
Quằn quại bến thương nghèo khó nhất
Một mình Mẹ chiụ lúc sinh ai?....

Tiếng khóc oa oa cất tặng cười
Niềm vui báo đáp lúc sinh thời
Mẹ con mừng tuỉ bao đau đớn
Sóng cả con thuyền cơn hiểm nguy

Sinh già bệnh tử vẫn vô thường
Áp bức đoạ đày thảm núi sông
Một kẻ phong lưu ngàn thống khổ
Nỗi đau thường trực khắp muôn phương

Nhức nhối toàn thân không thuốc men
Rên la khắp chốn chợ xa gần
Một lần đi viện nhà tan tác
Bươn bả mượn vay lãi đẻ dần

Nỗi đau bể ái thấm càng sâu
Nhói buốt con tim quặn nỗi sầu
Sớm tối dật dờ tha chiếc bóng
Năm canh dư lệ đẫm tình xưa….

Oan ức cho ai phải chiụ đau
Phong sương vương nặng mối sầu tư
Người đời chẳng tận cho thân thế
Công hạnh chôn vùi đắm biển sâu....

Nỗi đau khắc khổ buốt trong tim
Thân xác dập vùi với nước non
Binh lửa thê lương bao thập kỷ
Đè lên dân Việt Bắc Trung Nam

Đất nước hoà bình càng khổ đau
Từng đoàn già trẻ nối theo nhau
Lên rừng xuống biển theo chim cá
Xương trắng thây tràn sóng biển xa

Trận gió Đông Âu đổi hướng rồi
Thổi luồng khí lạ khắp muôn nơi
Nửa khép nửa hờ nên mới khổ
Thương ai manh áo lạnh tàn hơi

Thương người thiếu nữ ở trong lao
Tuổi mới đôi mươi trải ngục tù
Bao ngón đòn thù cân não trạng
Nhân quyền dân chủ mộng chiêm bao

Đời mất tự do khổ biết bao
Tâm hồn thể chất suốt canh thâu
Miếng cơm bát nước tâm xà độc
Thân xác gày mòn như lá thu

Trần gian bể khổ tắm thương đau
Hồn xác trong tay kẻ hận thù
Sống chết tuổi đời thu ngắn lại
Xì ke ma tuý lụy tàn hoa

Nằm ở trên giường ngẫm cái đau
Cái đau thân tớ thấm vào đâu
Càng đau càng nghĩ bao thân phận
Thống khổ bao người gấp vạn ta....

Đức Quốc 2008
Lu Hà
Tâm sự thứ bảy
Lu Hà May 30, 2009
ĐÔI DÒNG TÂm SỰ VỀ VĂN THƠ HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ

Thưa các bạn văn thi hữu và các độc giả xa gần trong Sài Môn Thi Đàn tửu quán cuả Huệ Thu. Cái thời tự lực văn đoàn, trăm hoa đua nở, văn chưong hiện thực xã hội chủ nghiã thì tôi còn đang trong thời kỳ bú mớm, hoặc còn đang mải chơi bi chơi đáo chứ có biết gì đâu. Nay mái tóc đã điểm bạc lại định cư ở nưóc ngoài từ lâu. Vì nhớ nhung Tổ quốc và thèm nói tiếng mẹ đẻ mà tôi nhẩn nha làm thơ viết văn.. qua đọc các báo điện tử trên mạng tôi mới biết là Dân tộc ta đã trải qua một thời kỳ dài hâm hấp giở hơi cuả văn thơ báo chí.Các văn thi sĩ chân chính tài ba bị Đảng tẩy não và cạo lông đấu tố phê bình khổ nhục như thế nào?Họ rêu rao về Đường lối văn nghệ cuả Đảng, nghệ thuật vị nhân sinh nhà nhà làm thơ, ngườì ngườì làm thơ.Các văn sĩ cách mạng vưà thoát nạn mù chữ nổi lên như diều gặp gió. Họ tuyên dương về văn thơ hiện thực xã hội chủ nghiã. Theo tôi thì làm quái gì có dòng văn thơ hiện thực xã hội chủ nghiã để ca ngợi chế độ xã hội chủ nghiã giàu có tưoi đẹp vạn lần tư bản.Chỉ có dòng thơ CON CÓC thôi.Bây giờ tôi sẽ cùng với các bạn ta bàn thảo xem dòng thơ con cóc này nó hay ho ra sao?
Người Việt nam có câu: „ Con cóc là cậu ông giời
Ai mà đánh cóc thì giời đánh cho“
Con cóc là hình ảnh thân thuộc của người nông dân Việt nam. Cái con vật chỉ biết nhảy bằng hai chân, hôi hám xấu xí ghê tởm như vậy mà được coi là họ hàng cuả Ông Trời thì quả là một điều đáng để cho chúng ta bàn đến. Theo tôi con cóc cũng rất qúy vì cóc chỉ ăn sâu bọ để giảm bớt thiệt hại cho ruộng vườn cuả người nông dân, thịt cóc có giá trị dinh dưỡng cao nhất là trong hoàn cảnh đói kém này để chữa bệnh còi xương cho trẻ con ở nông thôn. Nhựa cóc mủ cóc thì rất độc để dùng trong y học. Thân nhiệt cuả cóc lại nhạy cảm với môi trường và tự nhiên đã ban cho bà con nông dân ta một cái máy dư báo thời tiết sống. Nhờ đó mà mới đoán biết trước được những cơn mưa hoậc lũ lụt lớn. Nhưng chỉ có một điều con vật này không có ai muốn gần guĩ nó, vì sự hôi thối bẩn thiủ xấu xí của nó và nhưạ cuả nó tiết ra lại rất độc, nhỡ chẳng may dính phải có thể thiệt hại đến tính mạng. Nó sinh ra từ những lỗ nẻ, những vũng nước hang hốc rác rưởi. Nó tượng chưng cho sự mất gốc thiếu giáo dục, nó lại hay nhảy lung tung vô tổ chức. Trong lĩnh vục văn chương thơ phú người ta có nói đến thơ con cóc, để hàm ý một loại thơ tính nghệ thuật kém,hay nhảy lung tung có ý khoe khoang nhưng nội dung lại rất độc địa xấu xa. Loại thơ này không giúp gì cho tính thẩm mỹ, những cãm xúc chân tình thương ái của loài người.Nó không thăng hoa cái đẹp, đề cao nhân phẩm lương tâm tính bản thiện cuả con người. Nó là loại thơ dối trá , nó là một độc tố rất có hại như mủ cóc tiết ra từ gan con cóc. Để phê phán loại thơ độc hại vô bổ này tôi có hiến tặng cho đời bài thơ“ Thơ Ông Cóc“. Đây không phaỉ có ngụ ý miả mai cho một cá nhân nào, hay tạo ra một đối trọng để tự nâng mình lên. Tôi chỉ muốn nói thực lòng về cảm xúc cảm nghĩ cuả tôi về nhân tình thế thái mà thôi. Tự do tư tuởng, xuy tư, yêu ghét, chê bai, ngơị khen mà dám viết thẳng ra mới là điều cũng đáng để cho chúng ta nên soi xét cẩn thận.Tất nhiên là trung thực thẳng thắn, không kiêu căng, đố kỵ mà cố tình bôi nhọ hạ thấpnhân cách của người khác là một điều không nên. Nhân quả tương báo đều do cái nhiệp của mình tạo ra cả. Chúng ta vẫn biết đời đã sinh ra Chu Du thì có Gia cát lượng, có gia cát Lượng thì có Tư mã Ý, Tào Tháo…Cho nên không ai dám chắc là hôm nay ta cười người, hại người mà có thể bình chân vô sự mãi được, rồi về sau có khi cả đời sau nếu ta chết đi sẽ có người khác cười ta và chửi ta. Đó là cái luật của luân hồi nhân quả, quả báo mà thôi. Là người Việt Nam chắc ai cũng biết cái anh chàng Phạm Tiến Duật đây là một con cóc tiêu biểu trong thời kỳ chống Mỹ sau 4 con cóc cụ : Tố Hữu, Hoài Thanh, Xuân Diệu và Chế Lan Viên. Xuân Diệu với danh tiếng cuả mình là Hoàng Tử Rởm đã gọi Phạm Tiến Duật là con Phựợng Hoàng sơ sinh. Ta hãy nghe hai anh chàng lái xe Trường sơn cuả Đoàn vận tải 559 gặp nhau ở binh trạm tiền phương , anh Bộ hỏi anh Đội: Đội ơi! Sao xe mày chưa kịp lắp kính à? Đội bảo: Xe không có kính, không phải vì xe không có kính. Đạn nổ bom rơi kính vỡ đi rồi. Một câu nói rất vớ vẩn bình thườnh như vậy Ông Diệu lại gật gù khen mãi, ý tứ thâm sâu, hay vô cùng. Cũng giống như ông cóc cụ Tố Hữu gật gù khen mãi chiếc lá đa rơi nghiêng cuả Trần Đăng Khoa
Nhưng phải thưà nhận ngày xưa họ còn sống, họ tác yêu tác quái gây bao chuyện bất công bi thương cho văn học Việt Nam. Đời thuở nhà ai laị đi ghét người có tài làm thơ, quy chụp đủ đìều, đường lối văn nghệ, quan điểm giai cấp, tính đảng, tính đấu tranh…H ọ giống như những thằng hâm, thơ phú nó chỉ là sản phẩm tinh thần của một bộ óc, một trái tim, một tâm hồn. Ông Các Mác viết bố láo, bố lếu để kiếm tiền nuôi vợ nuôi con nó, cũng là sản phẩm tinh thần của ông ta, có ai cấm đoán đâu. Nhắm mắt tôn thờ nói đúng ra là việc cá nhân các vị ấy, chứ dính dáng gì đến dân tôc Việt Nam, mà dùng súng đạn bắt mọi người phải tuân theo.Thật chả ra thế nào cả , cứ hâm hâm giở người như vậy, nhưng mà quyền lực vô cùng, sinh sát tàn ác vô cùng. Tôi đã sống nửa già thế kỷ đọc lại Lịch Sử Việt Nam, chuyện cải cách ruộng đất, chuyện Tố Hữu đày aỉ Ông Hữu Loan, Trần Dần chỉ vì tài làm thơ hay hơn ông ấy, ai laị đày aỉ H ữu Loan một người đến tân cùng của kiếp ngưòi chỉ vì bài thơ khóc vợ.Người ta sinh ra không có tâm hồn, không có tình cảm, không có trái tim biết yêu thương thì thử hỏi làm thơ để làm gì, bảo rằng thơ chỉ đ ể ca ngợi kính yêu lãnh tụ và chủ nghiã xã hội thôi, thật là hâm một cục . Các Cụ nhà ta ở Việt Nam sau bữa ăn thường có 3 thói quen, uống nưóc chè,hút thuốc lào và xỉa răng. Nước chè và thuốc lào là cái thú thưởng thức hương vị và thú cảm. Xỉa răng chỉ để chọc cái tăm tre vào chân răng lôi ra những thứ lương thực, thực phẩm thưà không cần nữa để làm mát thoáng chân răng. Tôi cũng vậy muốn làm thoáng mát tâm hồn mình và hay làm thơ, và nó cũng gần như thói quen các Cụ xỉa răng vậy thôi.
Tôi không biết uống riệu và chẳng nghiện ngập cái gì cả, là đấng nam nhi mà đến cốc bia, điếu thuốc lá cũng không hút. Ngày xưa các nhà thơ Việt Nam, từ Cụ Nguyễn Du, Cụ Tản Đà, Nguyễn Bính, Hồ Dzech ai cũng là sâu riệu cả, có Cụ còn nghiền cả thuốc phiện như Tản Đà, Nguyễn Bính chẳng hạn. Nói như thế đâu có ý dám so sánh với các Cụ, tôi chỉ là loại hậu sinh dốt nát thôi, nhưng tôi chắc chắn hơn hẳn các Cụ về mặt thể lực, tuôỉ thọ của tôi hy vọng cao hơn các Cụ, và tôi đã hơn 55 nhưng sức khoẻ như một thanh niên.Về điểm sức khoẻ cuả kẻ phàm phu tục tử này thì kẻ hậu sinh xin phép được tự nhận là hơn thôi, còn các khoản khác, trí tuệ, thơ phú tài năng thì chắp tay mà xin theo lời chỉ dạy của các Cụ bề trên. Tôi còn hơn các Cụ ở điểm là thơ tôi làm ra không phải để in để bán kiếm tiền mua gạo, nuôi vợ nuôi con. Tôi không nghèo như các Cụ, với đồng lương hiện tại tôi cũng vui vẻ sống, có tiền mua Ô tô và xuân thu nhị kỳ còn gửi về Việt Nam giúp Mẹ già.Tôi hay làm thơ để kể lể nỗi khổ nỗi bất công ở đời, những lời yêu thương mà tự tôi cảm nhận thấy, nó cũng là trò chơi trí tuệ, khi đã dính vào thấy nó cũng hay hay như người nghiện vậy, có lẽ bộ óc trái tim con ngưoì đã dính vào cái nghiệp văn chương thơ phú thì bỏ không được, như anh chàng chót nghiện riệu, nghiện ma tuý vậy. Thực lòng tôi cũng ngaị chữ ảo danh, vì danh vọng, lời khen chính nó sẽ giết chết hồn thơ đi đến mất khả năng sáng tác, rất nhiều ngươì có tài làm thơ năng khiếu từ nhỏ và được vội bơm lên là thần đồng, ca ngơị quá mức đến mức không còn cảm thụ gì nưã. Như trưòng hợp Trần Đăng Khoa và Phạm Tiến Duật chẳng hạn.Chính Thày Khổng Tử ngày xưa đã từng nói: “Ai khen ta là thù của ta, ai chê ta là bạn cuả ta”. Không biết tôi nhớ vậy có đích xác không. Ở trên đời không có gì gọi là đỉnh cao, trí tuệ cả, tuyệt đối chân lý cả,cái ta cho là đúng thì giưã lòng nó đẻ ra cái sai, cái ta cho là sai thì giưã lòng nó lại đẻ ra cái đúng. Nói tóm lại tuỳ thời tuỳ hoàn cảnh mà sự hay dở, đúng sai ta sử trí cho nó hợp lý tương đối mà thôi. Thơ phú văn chương cũng vậy,có những bài thơ chỉ hay trong một hoàn cảnh thích hợp, và trái lại nó sẽ lại là điều ghê tởm sỉ nhục trong một hoàn cảnh chế độ xã hôi khác. Có những bài thơ đạt đến cảnh giới của lương tâm nhân phẩm trái tim hoàn mỹ không vụ lợi, không tham vọng,thì để lại hương thơm ngàn thu, có những bài thơ khi ngươì ta phát hiện ra nó có ý đồ vụ lợi, tham vọng ích kỷ cá nhân thì tự nó sẽ bị hủy giệt và lưu xú vạn niên.Kẻ cả những lơì thơ không êm tai, chối tai thô tục, nhưng nó xuất phát từ tấm lòng thẳng thắn có khi nó còn lại đáng trân trọng hơn những lời thơ hoa mỹ nhưng đầy giả dối, tâm điạ bỉ ổi bên trong. Nói tóm lại tôi muốn đề cao chữ “ Tâm”, cái tâm chân thực, kể cả nỗi bực bội khó chiụ cuả người làm ra bài thơ. Hiểu đúng cái tâm mới là cao quý.Cũng mong quý vị đừng cho là những lơì giáo huấn thuyết pháp về thơ, tôi không có ý ấy mà chỉ là để kể lể tâm sự cuả tôi với qúy vị, vì tôi đã coi qúy vị như là những ngươì bạn tâm giao cuả tâm hồn,chỉ quen trên mạng chứ đâu nhất thìết cứ phaỉ gặp nhau ăn uống nhậu nhẹt với nhau mới là tri kỷ.
Sau đây tôi muốn chia sẻ với các bạn bài thơ tôi tặng riêng anh chàng Phạm Tiến Duật và bài thơ cuả tôi về Trường Sơn. Theo tôi Trường Sơn là điạ ngục trần gian vì không quen thung thổ chui vào đấy thì khó sống xót lắm, chứ tôi không coi Trường Sơn đẹp như Thiên Đường theo cách mô tả cuả Ông Duật để dụ thêm nhiều chú lính non Bắc Việt háo danh:

Tặng Anh Phạm Tiến Duật

Con Phượng Hoàng sơ sinh
Xuân Diệu đã gọi anh
Lông măng chưa đủ cánh
Của một thời chiến chinh

Chiến tranh đã qua đi
Người ta còn nhắc laị
Dăm bài thơ chống Mỹ
Ngân vang một cuộc đời

Tôi biết nói làm sao ?
Khi đọc những vần thơ
Ruồi vàng thành bọ chó
Muỗi rừng sâu vo ve

Ôi cuộc đời tang thương
Như cô gái xung phong
Thạch Kim là Thạch nhọn
Anh Duật ơi ! Em đây

Nước mắt cứ chảy daì
Trôi theo hai cuộc đơì
Mà sao đành côi cút
Đêm Trường Sơn mưa rơi

Trong tiếng kèn đưa ma
Kính viếng anh bài thơ
Cuả một người đồng đội
Lính Trường Sơn năm xưa

Hương hồn còn bơ vơ
Con ve sầu ngẩn ngơ
Nuối tiếc thời oanh liệt
Nhưng chẳng dám kêu to....

Lu Hà


Phạm Tiến Duật, thực ra trên mạng Internet chưa thấy ai đăng trọn bộ thơ ông ta, chỉ có ba baì thơ trích đọan Trường sơ đông sơn tây, tiểu đội xe không kính và bài thơ gửi em cô gái xung phong, theo t ôi đây là loaị thơ tuyên truyền, cổ động. Hình ảnh rất sáng động của một ngươì đã từng trải ở Trường sơn, chân thật đi vào lòng ngươì. Chính vì vậy Đảng cộng sản Việt nam đã dùng nó như những lá baì tâm lý để cổ vũ Nam_ Nữ thanh niên ra mặt trận. Nhưng t ôi thấy nó là một bài hát đi vào lòng ngươì hơn một bài thơ. Vì t ôi nghĩ theo trình độ hạn chế của t ôi và t ôi hiểu về thơ như thế nào? Thơ là tiếng noí của lòng ngươì của tình yêu. Như một người con gái đẹp phải có duyên thầm kín. Cái duyên thầm kín đó là cái hồn của thơ, một ngươì con gái càng đẹp thì phaỉ có tính hấp dẫn, tính kêu gợi và kín đáo. Cũng như khi đọc một bài thơ phaỉ để laị trong lòng ta một dư âm và nhiều vương vấn, nỗi lòng và bao nhiêu điều thầm kín khác nưã còn che dấu. Hay noí một cách dễ hiểu còn nhiều ý nghiã ẩn ý trong thơ. Đọc thơ Phạm Tiến Duật như ta bắt gặp một cô gaí lào không còn một mảnh aó xiêm nào cả, t ôi không noí tính dâm đãng, Thơ Phạm Tiến Duật không có dục tính mà t ôi noí sự trần trụi của thơ, loaị t hơ này dễ phù hợp cho quảng đaị quần chúng, loaị thơ phổ thông. Có lẽ chỉ số thông minh cuả t ôi ở trên mức trung bình m ột t í, đây là tôi noí thật thà chứ không ai lại đi khoe mình là ngươì thông minh, nên t ôi chỉ thích tìm đọc những baì cổ thi đầy ẩn ý như của Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Hồ Xuân Hương, hay thích đọc thơ Nguyễn Bính, Hồ Dzech. Đúng là Thơ Phạm Tiến Duật hay nhưng ở mức độ bình dân thôi, nhưng đằng này ngươì ta bơm ông ta lên quá đáng như là một nhà thông thaí, Viện sĩ hàn lâm về thơ.... Lịch sử dân tộc ta còn nợ của những ngươì như Trần Tú Xương( thơ cũ) , Tản Đà ( nửa cũ nửa mơí) và Hồ Dzech( thơ mơí). Ba con ngươì này mơí xứng được tôn vinh, nhưng cả ba sống rất khổ cực, cơm không đủ mà ăn và còn nữa là Hữu Loan... Chỉ có vài baì thơ chống Mỹ thôi mà Xuân Diệu laị tôn xưng lên là con Phượng Hoàng non, theo t ôi có lẽ chỉ muốn làm đẹp lòng Đảng nên Xuân Diệu đã cưa sừng làm nghé. Một ngươì làm thơ cầu kỳ chau chuốt như Xuân Diệu không lẽ laị đơn giản như thế ư? Về mặt này t ôi nghi ngờ sự thành thực của ông Xuân Diệu. Theo t ôi thơ Phạm tiến Duật chỉ xứng đáng ch ỉ là loaị thơ cổ động tuyên truyền, thơ tâm lý chiến có giá trị trong một chừng mực nào đó.Thế hệ con cháu và cả chính bản thân t ôi nưã cuơng quyết không học cái lối làm thơ theo kiểu Phạm Tiến Duật, và hiện nay ở Hà nội, Sài Gòn có phong trào loạn thơ, làm thơ cứ như viết văn vần. Kể cả các ông thợ thơ như Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Chế lan Viên, Lưu Trọng Lư .... những baì thơ hay toàn là những baì trước năm 1945, rồi đuối dần đến năm 19 75. Nếu đọc thơ để học tập và thưởng thức nghệ thuật văn chương thì em không đọc thơ Phạm Tiến Duật đó là ý kiến chủ quan riêng, vì loaị thơ này không dạy gì thêm cho ý thức thẩm mỹ trình độ dân trí lên cao. Chiến tranh đã qua lâu rồi, thơ ca cũng đóng góp rất nhiều về mặt kích động tinh thần, dù bài thơ đó không có giá trị về mặt nghệ thuật văn học. Nhưng thử hoỉ Ông Phạm Tiến Duật được cái gì cho sự cố gắng của mình? Một caí lều ở nhờ nhà ngườì bạn, Cái Huân chương mà ngưoì ta muốn tặng ông ta thà cho Ông ta một căn hộ vài mét vuông còn hơn. T ôi có cảm tuởng như ông Duật là loaị ngươì ưa nịnh, hiếu thắng, thích danh tiếng và là một tín đồ rất đặc biệt của lý tưởng cộng sản. Từ cái xuy tư như vậy laị đọc ba baì thơ của ông ta , mặc dù thiên hạ khen hay theo guồng máy tuyên truyền cuả đài và báo chí. Nếu ngươì ta cứ in bình thường và đừng thiên vị nó về mục đích chính trị thì giá trị cũa nó sẽ rất khác. Thơ là tiếng noí của trái tim, của tâm hồn và nghệ thuật thì hãy để cho lòng ngườì tự nhiên cảm nhận đến nó. còn cố tình tôn xưng baì thơ và tôn xưng ngươì cha tinh thần cũa nó như ngày xưa là chuyện khác. Bây giờ ta không cần mục đích chính trị nữa, nên thơ Phạm Tiến Duật cứ để cho ngưoì đơì và lịch sử văn học thẩm định.Đó là những lơì tâm sự của t ôi v ớin c ác bạn nơi t ửu qu án Sài Mon .Có đọc mơí biết được trong đầu ngươì khác nghĩ gì, theo t ôi nghĩ cũng không phaỉ là thưà thaĩ vô bổ, nếu ta dành tí chút thơì gian đọc lướt qua.

Giấc mơ Trường Sơn
Mấy tháng trơì nhai maĩ Địa Liền
Tàu Bay rau đất mọc loèn xoèn
Mật vàng xanh đỏ ruồi bu đến
Sốt rét từng cơn nhớ Tổ Tiên

Hai mùa mưa nắng gió vàng da
Chống gậy liêu xiêu mắt ướt nhoà
Đằng đẵng tháng ngày mong moỉ Tết
Thư nhà xa tít gió mây xa

Một chiều ảm đạm gọị lên chơi
Có bức thư riêng đã mở rồi
Ký ninh thuốc đắng nghe vượn hú
Đau lòng con lắm lệ từng rơi

Run tay tôi đọc bức thư Cha
Gió rét từng cơn nấc nghẹn ngào
Bom nổ đạn bay vùng tọa độ
Chớp xanh chớp đỏ tắt lời thơ

Một đơì lính tráng chẳng mề đay
Công trạng xem ra chẳng có gì
Phá nuí mở đường thông chiến lược
Tháng ngày mòn moỉ ngóng mây trôi

Mới mười bảy tuổi phaỉ tòng quân
Xa Mẹ xa em cả mái trường
Gác bút vác dao ra mặt trận
Anh hùng dũng sĩ ở miền nam

Một quãng đời qua trận gió bay
Hào quang tia chớp để ai hay
Nuí sông kêu gọi cho Chủ Nghiã
Băng tuyết trời âu đổi hướng rồi

Hơĩ ai đâu đó vẫn còn mơ
Chống Mỹ lời vàng vẳng tứ thơ
Ra trận muà này ôi đẹp quá
Mà lòng phơi phới dậy tương lai

Thế kỷ qua rồi ngoặt gió đông
Bạn thù đôi ngả lẩn vào trong
Tuyên truyền báo chí liên hoàn trận
Chỉ chết thằng ngơ đứng giưã đường...

22.12. 2007, Lu Hà
Chú thích: Điạ Liền: là loaị rau mọc loà xoà sát đất
Tàu Bay: loaị rau cao như cây rau caỉ, xanh lè

T ôi đ ã t âm sự với các b ạn nhiều rồi, hẹn lại c ác bạn vào d ịp khác nơi tửu quán Sai Mon thi đàn Huệ Thu. Rất mong đ ược thỉnh giáo cac bạn. Chúc c ác bạn y êu thơ bình an
Sáng thứ bảy 30.5.09 Lu H à
Thơ phú Cộng Sản
Lu Hà May 28, 2009
Tôi muốn chia sẻ với các bạn về những tâm tư cuả tôi về quyền con ngưòi đưọc xuy tư sáng tạo và những lố bịnh khôi hài cuả những cai thầu văn sĩ cộng sản và quan niệm cuả họ về văn chương thơ phú

TRÚNG QUẢ ĐẬM
Tặng Trần Đăng Khoa

Có sứ lạ quanh năm tăm tối
Bỗng lửa hồng le lói đêm đông
Chúng sinh mở mắt hãi hùng
Nghêu ngao tiếng trẻ thần đồng giáng sinh
Trong mê muội nhân danh thi sĩ
Tranh đua nhau huyền bí vô cùng
Hang cùng ngõ hẻm vội mừng
Reo ca xem mặt thần rừng hiển dương
Quay cuồng loạn núi sông ngừng chảy
Lắng tai nghe thủng thẳng ma già
Phán rằng phát tiết anh hoa
Chưa tròn tám tuổi lá đa thơ thần
Con cóc lớn khen con cóc nhỏ
Cả một bầy léo nhéo khoe khoang
Dắt nhau đến cửa thiên đàng
Ngọc hoàng bịt mũi mấy thằng cút ngay
Đưá nào xông thối lên đây
Chư tiên phải ngửi mấy ngày chẳng tan
Thơ với phú tự nhiên sẽ có
Biết yêu hoa lặng chớ đừng sờ
Lũ bay la lối pha trò
Măng non ngắn ngủi thẹn thò héo hon
Cứ dối trá thân tàn ma dại
Cả một đời khen đại bơm nhau
Sứ mù thằng chột làm vua
Thi nhân bạc đãi nhà tù khảo tra
Muốn sống sót bảo nhau câm miệng
Biết thân hèn ngậm họng mà ăn
Văn chương thơ phú cửa quyền
Mấy cai văn nghệ chủ nhân lái lèo
Theo kế hoạch trồng cây gây quả
Tỉnh Hải dương em nhỏ tài hoa
Tranh nhau đệm khúc thái hoà
Vầng dương nhân tạo bài ca vô loài
Thày với tớ một bầy xa lạ
Trong kỷ nguyên thiên hạ văn minh
Trói chân buộc cẳng dân tình
Phụng thờ lý tưởng quang vinh đại đồng
Cho bé đi xuất dương tầm đạo
Sáu năm trời sứ sở Nga xô
Phen này thơ nở hoa chào
Dân sinh xã hội mặn mà ngợi ca
Trái quả đắng bí thơ tối nghiã
Sạn chai đầu sỏi đá thành văn
Chiêu ma kể chuyện tiếu lâm
Lân la nhà báo cửa quyền kiếm ăn
Bao nhân vật huyền thần bí sử
Khéo moi ra cánh cửa tò mò
Dân nghèo câm điếc đã lâu
Tranh nhau mua đọc trúng muà văn chương
2008 Lu Hà

VỊNH TRẦN ĐĂNG KHOA

Thần đồng đồn thổi khắp xa gần
Ngọng líu ngọng lô bỗng hoá thân
Nô nức tàu xe xem mặt thánh
Đua chen nườm nượp ngó đầu thần
Lắc đầu lè lưỡi loài ma quái
Ngửa cổ xem tay kiếp quái nhân
Thi sĩ đầu xanh gần tám tuổi
Bạc đầu nhớ mãi cái sân tàn

Bạc đầu nhớ mãi cái sân tàn
Sùng bái truyền thông quen thói dân
Xuân Diệu gật gù tìm đệ tử
Lan Viên lật đật đến thêm phần
Giang sơn văn hiến làm sao thế
Sông núi ngàn năm dễ sáo mòn
Kinh bắc nhân tài sao buổi sớm
Đêm đông xã hội héo hon dần...

2008 Lu Hà


PHÊ BÌNH ĐẤU TỐ

Kẻ nêu người đập nhau hoài
Chân voi bã miá dập dìu khéo thay
Khen ai chữ tốt văn hay
Thằng ngô thằng ngọng một thời bá vương
Sinh ra phải buổi nhiễu nhương
Đười ươi cóc nhái văn chương gặt muà
Phê bình mượn tiếng văn thơ
Cạo đầu đấu tố gạt ra dần dần
Họp hành chỉ thị thấm nhuần
Bán hồn cho quỷ tinh thần văn nô
Giam cầm cấm cố tự do
Luận cương chính trị đảng ta ra đời
Trói tay thắt cổ nhân tài
Chặn nguồn sáng tạo thả lời buôn dân
Mưu mô hòng chiếm nhân tâm
Khơi lòng yêu nước chai chân chính quyền
Lọc lưà cao thủ siêu quần
Băm chia chữ nghĩa đổi dần trắng đen
Đầu dao tay buá nhân quyền
Tăng lương thăng chức nuôi đàn tay sai
Trung thành chẳng chiụ mất gì
Hữu Loan thồ gạch ai người chính nhân?
Hoài Thanh Tố hữu Lan Viên
Bộ ba thống trị sói mòn lương tri
Người tung người hứng kẻ thoi
Đánh cho dập mặt những lời thẳng ngay
Văn thơ báo chí công khai
Phanh phui tham nhũng tức thì khảo tra
Những rằng: Bí mật quốc gia
Cháu con quan chức giữ nhà bình an
Tha hồ đục khoét con dân
Bôi son chế độ chính chuyên tô hồng
Già mồm gái đĩ khoe khoang
Dân chủ xã hội vạn lần phương tây
Bao nhiêu viện trợ nước ngoài
Vừa xin vừa chưỉ mặt dày thế ư?
Phê bình đấu tố dư thưà
Quyền ông pháp luật ai mà dám phê
Văn chương tình lả gió mê
Hoa thương cỏ lạ chớ nhè vào ông
Xin đừng moi chuyện tư thương
Tham ô mắc ngoặc chuyện ông cửa quyền
Thong dong cửa ngỏ gió yên
Ngân hàng thế giới chuyển tiền đầu tư
Bao nhiêu cắt xén cho vừa
Vừa moi vừa chặn lu loa la làng
Trắng đen mọi chuyện rõ ràng
Cầu mong văn sĩ một lòng vì dân
Phê bình xây dựng chính tâm
Thủ tiêu đấu tố bất nhân xin đừng.

Đức quốc 2008 Lu Hà



PHẢN ĐỘNG

Lâu nay tớ vẫn trở trăn
Ai mang oán hận gieo truyền thế nhân
Tâm xà khẩu độc gian ngoan
Hay gì phản động ngữ ngôn tạo thành
Hay từ thổi lưả đấu tranh
Căm thù giai cấp mưu danh lợi nhà
Nhập từ Trung cộng Nga xô
Chủ chương đường lối ta bà khổ đau
Bởi vì quyền lợi ăn chia
Chiến tranh nhân cách gây bao tủi hờn
Trần Dần Nguyễn Bính Hữu Loan
Gọi là phản động văn nhân xéo quằn
Xuốt đời giun dế nghèo hèn
Tuổi già chóng đến cháu con thiệt thòi
Tệ khi chúng ghét bỏ ai
Vu là phản động giệt nòi Việt gian
Bỏ tù bức bách giam cầm
Truyền thông báo chí ác nhân một loài
Oan hồn rên rỉ cổng trời
Củ khoai cái kiến bận gì lòng ai
Lỗi lầm gán chiụ cho người
Kiếp này bạc mệnh ra đời khổ đau
Lộn sòng chữ nghiã từ lâu
Truy tìm phản động dã từ lương tâm
Xét từ bản chất chính nhân
Tội danh chẳng có cho oan nhục này
Than ôi! Tráo trở sâu dày
Tiểu nhân liêm sỉ chôn vùi gian ngay
Gọi nhau phản động làm gì
Rửa thân sạch sẽ hại người ai hay?....
Hư danh mượn tiếng giống nòi
Khoe chôn gái đĩ xưa nay già mồm
Mấy bài văn luận rẻ tiền
Cuả bầy bồi bút đã nhàm chán tai
Bày trò thi thố văn tài
Nửa thơ nửa rác trăm bài khéo hay
Ngọc vàng sỏi đá khéo thay
Chia cho trăm vị chọn đời hiển vinh
Méo mồm bóp lại cũng xinh
Văn thơ cóp nhặt oai danh thế này
Nhục cho thế kỷ mặt dày
Cứ là thi sĩ mới tày tiếng thơm
Dù rằng: Ăn dối nói gian
Trong ngôi hoàng đế muôn dân phụng thờ
Đứa nào ngơ ngác ngây thơ
Tỏ lòng chân thật sẽ cho về vườn
Gọi là phản động là xong
Chủ chương là đảng con đường là ta ?....

Đức quốc 2008 Lu Hà




Ghét Sùi Bọt
Hãy kiêu hãnh ngẩng đầu
Được Cộng Sản gọi cho
Với danh từ Phản Động
Danh tiếng để ngàn thu

Miệng lưỡi là không xương
Cú Diều thích uốn cong
Tiểu nhân như cầm thú
Ghét nhau mà thảm thương

Rắn độc phun ra nọc
Cũng là lẽ tự nhiên
Cộng Sản hay đắc chí
Vô luân thành bất nhân

Như Đức Phật Thích Ca
Trước ngàn năm khuyên ta
Chúng sinh đừng thọ nhận
Thói đời từ hư vô

Phản động chúng gọi ta
Từ tăm tối u mê
Điên cuồng say thù hận
Ghét cho sùi bọt ra

Tổng Thống Thiệu đã nói
Đừng tin lời Cộng Sản
Hãy nhìn Cộng Sản làm
Để tìm ra chân tướng

Cộng Sản hay vu cáo
Chúng thường hay bôi nhọ
Bới móc đời riêng tư
Xưa nay thường vẫn thế

Chân thành tớ nghĩ vậy
Chẳng có gì cao xiêu
Dành cho các bạn trẻ
Viết ra thành vần thơ

Đức Quốc 8 .5.2009
Lu Hà


TẬm HỒN THI SĨ

Tâm hồn người thi sĩ
Như dòng sông bao la
Nước trôi về đâu nhỉ
Đưa anh đến bến bờ ?

Không! Anh không đến bến
Không! Anh chẳng cần bờ
Anh cứ lang thang mãi
Theo dòng sông hoang vu….

Như con chim tự do
Anh chỉ biết thương yêu
Mỗi nhành hoa cỏ dại
Ngậm ngùi bao thương đau

Hãy để yên cho anh
Mênh mông cùng trời xanh
Triền miên trong xuy tưởng
Bao cảnh giới tâm linh

Anh không ưa ồn ào
Chốn dương trần lao xao
Bon chen và xô đẩy
Bong bóng tàn sương mơ

Anh làm thơ cho ai ?
Thiết tha để tặng đời
Nơi trần gian quán trọ
Hành tinh đêm mưa rơi

Thơ lăn lóc như khoai
Hay giọt rượu mao đài
Trong cõi đời dung tục
Chẳng bận lòng làm chi...

Người gọi anh thi sĩ
Anh mỉm cười gật đầu
Người chê anh ngông dại
Anh bàng hoàng reo ca..

Tâm hồn người thi sĩ
Như hương ngàn gió bay
Đâu phải riêng cho ai
Con chim hót lồng vàng...

Tâm hồn người thi sĩ
Chẳng muốn nghe theo ai
Nghe tiếng lòng anh gọi
Lương tâm bên cuộc đời

Phaỉ chi con dã tràng
Xe cát ngoài biển đông
Quản ngày mưa tháng nắng
Mà lòng anh sáng trong

Hãy viết nưã đi anh
Yêu dòng sông xanh xanh
Miên man niềm vô tận
Ru hành tinh yên lành

Nếu anh là thi sĩ
Đừng ca mãi ca hoài
Cho lũ quỷ vô loài
Bán buôn hồn dân tộc

Đừng xoen xoét phun thơ
A dua và lọc lưà
Vì bát cơm manh áo
Xú uế để ngàn thu…

Thơ là con chim ca
Yêu bầu trời tự do
Gông cùm nào khuất phục
Người thi sĩ trong lao.

Hương thơ trong cõi lòng
Nâng niu niềm thiêng liêng
Chắt lọc từ sâu thẳm
Khóc ai mà ra thơ…

Thơ là tâm hồn người
Như máu thịt của ai
Là tự do nhân loại
Tình để cho muôn loài

Xin hãy vì chính danh
Như mẹ cha sinh thành
Biết yêu và biết ghét
Đừng vì ai dối mình...

Trái tim sầu du dương
Cho tình yêu quê hương
Không hận thù giai cấp
Thơ theo dòng sông thương

Ôi trân quý biết bao
Khi Tổ quốc sinh ra
Những tâm hồn ngay thẳng
Khóc cho đời thương đau

Thơ xoa dịu đắng cay
Cùng chia ngọt sẻ bùi
Động viên và hy vọng
Tin tưởng vào tương lai.....

2008 Lu Hà
ĐÔI ĐIỀU VỀ THƠ CACH MẠNG
Nghia Kral May 16, 2009
Có làm thơ mới biết là vất vả. Tốn kém thời gian xuy tư lẩm nhẩm trong đầu để tìm ra tứ thơ và vần điệu.Chưa nói đến những trưòng hơp tai nạn tử vong vì các chàng thi sĩ đi Ô Tô mà tâm hồn cứ để đâu đâu. Làm thơ như những quả trứng vàng mà con gà thi sĩ đã để ra đẻ tặng cho đời. là tiếng nói chân tình nhất. Ngưòi Cộng Sản bản chất ưa ăn gian nói dối, nên họ căm ghét nhũng gì chân tình mộc mạc cuả trái tim nên họ vu cáo xỉ nhục thi sĩ làm thơ đẻ tha thoá lòng ngưoì,phản động chống lại họ.Về chuyện này tôi rất chán và có những vần thơ để bày tỏ, nỗi lòng mình trước cảnh đời điêu ngoa bạc bẽo:

HỒN THƠ CÁCH MẠNG
Thi sĩ là do bởi tự nhiên
Trăm nghìn cảnh ngộ mới nên duyên
Phải đâu hun đúc do tư tưởng
Tâm hồn cách mạng áng thơ văn

Chúng bảo nhau rằng ấy ước mơ
Tình yêu cách mạng mới nên thơ
Ăn gian nói dối trò thêu dệt
Tâm địa gian tà lũ ác ma

Có một giọng thơ chỉ ngợi ca
Suốt đời đánh trống mõ reo hò
Ru dương vì đảng gieo vần chữ
Loạn cả non sông gió ác tà

Văn hào thi sĩ cơn mưa sa
Kẻ vét người bê khắp nước nhà
Bợ đỡ khom lưng trò sảo trá
Bán hồn ma quỷ mộng vinh hoa

Chính sách ngu dân bốc nặng mùi
Văn thơ dùi vọt thốc ngang tai
Hiểu lầm mê muội là cao kế
Cho kẻ buôn dân lợi chín mười...

Dốt nát độc tài xưa tới nay
Đỉnh cao bác học trí thiên tài
Trăm hoa bần hoá đua muôn vẻ
Sự nhiệp trồng người vẫn thế thôi

Chúng cứ làm thơ để mị dân
Chia bùi sẻ ngọt với lương nhân
Nhẫn tâm lợi dụng lòng yêu nước
Ma dại thân tàn bao nỗi oan?...

Tinh thần cách mạng nó ngơị ca
Ngây ngất hương thơm chén mộng đào
Lèo lá như là cơn gió chướng
Hồn ai bại liệt cả đời thơ

Thơ phú văn chương theo luận cương
Sặc mùi đạo đức bại luân thường
Bẻ cong ngòi bút theo quan điểm
Đấu tố phê bình để lập công

Sáu mươi năm lẻ dày tăm tối
Chẳng được một ngày vui thảnh thơi
Non sông đất nước đầy oan trái
Nuốt hận chôn sầu mưa lệ rơi




Nhớ lại muà thu rụng lá vàng
Khi hàng phượng vĩ gió tan hương
Từ đâu kéo đến loài sâu đỏ
Thảm hoạ thương đau cả núi rừng

Dõng dạc kià ai đứng thét vang
Vùng lên giáo mác gậy tầm vông
Đưa toàn dân tộc vào tư tưởng
Cách mạng dồn nhau sùng ngoại bang

Từ đó đến nay tuỉ hận sầu
Vành tang khăn trắng quấn trên đầu
Thơ văn ca ngợi niềm vui thú
Giết nưã giết đi ngọt máu đào...

Hàng triệu trái tim găm mũi dao
Chết trong tư tưởng chết trong thơ
Tâm hồn ma quỷ tan trong máu
Cách mạng hồn thơ nhuộm máu đào...

2008 Lu Hà

KHOE TÀI PHỊA
Nhăn nhở ông cười rất tự hào
Cái tài nói dối dễ đâu nào
Văn chương bố láo xoay thời thế
Thơ phú mẹ mìn dỗ trẻ thơ
Đấm bóp cha già mưu chính sự
Xoa lưng cụ tổ trí gian lao
Bao giờ bốc mả lên thưa chuyện
Nói dối như ông được mấy bồ ?

Nói dối như ông được mấy bồ
Phèng la trống mõ cứ reo to
Hoan hô máu đỏ tràn sông núi
Luá chín đồng xanh sản lượng cao
Yêu nước tức là yêu chủ nghiã
Thương nòi cứ phải dấu đồng bào ?...
Thằng nào bướng bỉnh thì đem bắn
Học tập thơ say chén máu đào

2008 Lu Hà

THUÂT DỐi TRÁ
Nói dối xem ra quốc sách hay
Đưa dân vào bẫy mới cao tay
Văn chương pháp luật mơ rừng rú
Baó chí quyền hành mộng tỉnh say
Trị nước tôn vinh khoa nói dối
Thói đời kim cổ thuật sâu cay
Thương thân cò vạc mò tôm tép
Sông nước còn đây thảm đoạ đày

Sông nước còn đây thảm đoạ đày
Niềm tin khắc cốt biết sao đây
Thân cò xơ sác quên bờ bến
Cánh vạc sao đành chịu gió mây
Quốc nội đồng bài còn đói khổ
Việt kiều hải ngọại có thương vay
Khen cho nói dối thành khoa học
Kế sách xưa nay vẫn kiểu này

2008 Lu Hà

NHUỘM ĐỎ HỒN THƠ
Con chim bé nhỏ liú lô
Bài ca muôn thuở bay vào giấc mơ
Hải Dương có chú bé khoa
Mới hơn bảy tuổi vần thơ thần đồng
Xa gần nô nức tưng bừng
Gái trai già trẻ về làng thỉnh thơ
Thổi phồng ma quái mơ hồ
Gật gù bí hiểm thày mo xa vời
Già làng đêm tối xem trời
Nhỏ to tiên đoán trạng rồi chẳng ngoa
Thói đời đơm đặt thêu thuà
Nhân tài khánh kiệt mấy muà khổ đau
Cai thầu chai sạn làng thơ
Đua tranh lai vãng dập dìu bảo ban
Ra điều truyền nghệ cho con
Dòng thơ cách mạng chay đàn khói nhan
Bập bùng chuyên chính vô thần
Khơi dòng máu đỏ thấm dần tim gan
Ngâm nga Xuân Diệu xoa vần
Lan Viên Tố Hữu bôi phần phấn son
Lạ thay cho cái lá non
Cây xanh phơ phất theo làn khói sương
Lá đa rụng ở trong lòng
Thuận mồm em tả trúng vòng lưỡi gang
Thơ hay khen mãi cho cùng
Nên đời em chẳng nhẹ nhàng thảnh thơi
Hồn nhiên tươi tắn mất rồi
Kẻ tung người hứng tả tơi tâm hồn
Trái tim đa cảm lụi tàn
Con bê bé nhỏ mọc dần sừng non
Ba lô khoác áo phong trần
Làm thơ đăng báo tuyên truyền chủ chương
Nhuộm hồn máu đỏ tươi trăng
Sông thương tát cạn đáy vàng tìm đâu ?...
Tinh khôn lọc lõi dư thưà
Nga xô du học thấm màu Mác Lê
Mang ơn mưa móc tràn trề
Chân dung đối thoại trò hề tiếu lâm
Thông tin mật vụ công an
Nưả hờ nưả kín hé dần kiếm cơm
Trải bao thập kỷ bần hàn
Thần đồng thần sắt thần tiền muá may.

2008 Lu Hà

TRÒ HỀ THƠ PHÚ
Lũ chúng điên rồi thật thế sao?
Mượn trò buôn giá các baì thơ
Tìm gì trong đống hồn dân tộc
Bán lại cho đời một vết nhơ

Một bang chấm khảo những vần thơ
Cậy tí văn chương chúng phán bưà
Phân loại kém hơn nào kẻ thiệt
Đời trong nước mắt tưới trong mưa

Mới hỏi ai hay trò lố lăng
Tâm hồn vắt cạn rũ ra thương
Bầu trời thơ phú thường ngăn cản
Chặn lối thương đau mọi ngả đường

Hạnh phúc thiên đường tìm mãi đâu?
Dương trần kiệt sức đã bao lâu
Tha hương lê bước đời hành khất
Một bước xa quê một giọt sầu

Rạch máu cho đời tim huyết thơ
Vài câu lục bát trói người ta
Chỉ trong truyền khẩu đòi công đạo
Thơ viết chẳng đăng cũng bỏ tù

Chúng muốn thơ hay có khó đâu
Thả hồn cấm vận trói vu vơ
Chân thành tôn trọng như muôn thuở
Xoá bỏ gông cùm thả tự do

Khen ai rỗi việc tìm trong rác
Vàng đá chen nhau sỏi giưã đời
Phân loại chia nhau đòi bổng lộc
Quyền cao chức trọng hạt thơ rơi

Bản tính kiêu căng chẳng bỏ đâu
Đỉnh cao trí tuệ mấy con bò
Dắt chăn thương nhớ chàng Tô Vũ
Hồn dưới suối vàng trơ xác ra

Lịch sử ngàn năm bịt mũi cười
Tâm hồn thi sĩ lũ cuồng si
Nguyên tiêu tết đến rơi dòng lệ
Dám chắc cho ai mặn muối đời ?.....

Thương vợ nhớ ông Trần tế Xương
Cuối cùng thiên hạ cũng thương ông
Tài năng như thế đành ngồi chót
Chẳng uổng đêm ngày với bút nghiên?...

Đức quốc 2008
Lu Hà

THƠ ÔNG
Hôm nay tôi đã hiểu ra rồi
Bối rối rùng mình có thế thôi
Thiên hạ xưa nay toàn láo khoét
Thơ ông vừa thối lại vừa hôi

Nghêu ngao vài chữ ở trong lao
Có đáng gì đâu lọ phải cầu
Lúng búng miệng sao như ngậm thị
Tài này hơi sữa búng ra thơ

Còn nghe bàn tán của người ta
Chín suối tuyền đài chẳng đáng theo
Giấy vụn lọt tay thành quỷ kế
Chui vào trong tuí kẻ vương đồ

Giọng lưỡi không hơn đưá trẻ con
Thế mà chúng dám gọi chân nhân
Tuy rằng cũng có lời sâu sắc
Mấy thập kỷ qua tớ đã lầm

Vô tình hôm nay đọc Lương Sơn
Ngán ngẩm nhưng mà tớ vẫn xem
Nhẫn nại lướt qua cho thật sạch
Ông đâu xứng đáng gọi văn nhân?....

Tớ viết thẳng ra chẳng ngại gì
Xưa ông nặng thói dạy khôn đời
Thật ra trí tuệ ông còn kém
Chúng thổi ông lên đến cổng trời

Bịt muĩ rập đầu chúng cứ khen
Văn tài đệ nhất chuá muôn dân
Bao nhiêu thập kỷ con bài đỏ
Dối trá lưà nhau để sống còn ?...

Đức Quốc 2008
Lu Hà


GIẾNG CÓc

Già nửa đời người chúng lấn tranh
Độc quyền chiếm giữ khoảng trời xanh
Giếng sâu thăm thẳm chôn vùi cóc
Ác mộng hồn thơ giấc chẳng lành

Đời thuở nhà ai chúng vẽ ra
Tấm thân nhơ nhuốc của nàng thơ
Bảo rằng: Hiện thực theo đường lối
Văn sĩ qua sông lụy lái đò

Lải nhải đến giờ vẫn thế thôi
Trăm hoa tàn lụi tháng ngày trôi
Giam cầm bắt bớ còn vu khống
Thù hận lương năng nỡ dập vùi

Giết hết, giết đi bao trí nhân
Sôi nguồn máu độc của tim gan
Sạch quang giếng nước thơm bờ cõi
Hạnh phúc dựng xây nấm cỏ tàn

Cái giếng bủa vây trói đời ai
Giọt tuôn lai láng nước xông mùi
Nhân quần xã hội thu vào lỗ
Chủ nghiã thiên đường cái ống hơi

Thế kỷ hai mươi trận gió thu
Táp vào miệng lỗ vết đời nhơ
Chúng loài tự tạo con đường sống
Trả lại cho ta đời tự do

Cái giếng ai xây đã lỗi thời
Cha già con cọc trái tim côi
Êch ương cóc nhái đòi thay hướng
Nhảy cả lên bờ cái giếng hôi

Cái giếng xưa kia đổ nát rồi
Độc tài bá đạo ngấn nước rơi
Bờ mi hoen lệ hơn ba triệu
Nuối tiếc bài ca của một thời

Tôi viết bài thơ cái giếng khơi
Khoe trong tàn lụi những cuộc đời
Tám mươi triệu đó hồn dân tộc
Mơ khoảng quặn đau lệ ưá rồi…

Đức quốc 2008
Lu Hà

Theo tôi Hoài Thanh, Tố Hữu, Xuân Dieu, Chế Lan Viên trưóc năm 45 còn khá, sau đổ đốn không viết ra nổi bài thơ nào cho ra hồn. Ngưòi khác dã nát óc nghĩ ra thì dấu tố chửi bới ngươì ta, chính họ là những tảng đá ngăn cản bước tiến cuả nền văn hiến dân tộc. Công tích có sáng tạo ra trưóc năm 45 không đáng giá những thiệt hại khinh khủng họ dã gây ra từ ngày theo Đảng:

TRẬN GIÓ THU

Hoài công tìm mãi ở đâu xa
Thanh thoát hương rơi rụng bốn muà
Tố lan bạch diệp khoe màu sắc
Hữu ích vì ai một giấc mơ ?....

Xuân đến xuân đi xuân lại qua
Diệu còn mê dại áng xuân thu
Chế ngự tâm hồn bao kẻ khát
Lan hương hồng bạch dụi tàn thơ

Viên mãn gì đâu trận gió thu
Những oan nhiệp chướng cuả ngày xưa
Con thuyền chiếc bách theo dòng nước
Cóc nhái nhảy lên vẫn mộng mơ

Thơ phú đua chen một bóng ma
Chót qua giấc ngủ nhuộm tinh cầu
Lỗi con khỉ độc làm ông tổ
Thời thế đông âu trận gió thu

Đức quốc 2008
Lu Hà

Cái ông Xuân Diêu chỉ làm thơ tình, vài bài nhạt như nưóc ốc tình chẳng ra tình . Nhung lại mộng ghi tên mình vào văn miếu để sánh với các Cụ nhà ta

MỘNG GHI VăN MIẾU

Xuân động đầu muà nỗi ngóng mong
Diệu càng mê mẩn tháng ngày trông
Đồng duyên luyến aí nàng thơ cóc
Tính chẳng tròn năm tấm mộng vàng
Luyến aí tình chàng vẫn ngẩn ngơ
Ái ân chẳng trọn tháng ngày mơ
Hoàng hôn lững thững ra hàng bún
Tử tuyệt giống nòi ngâm tứ thơ
Mộng mơ thi sĩ vào văn miếu
Du khách cầu xin quả rụng rơi
Loạn cả dương trần loài ếch nhái
Tình như nước ốc nhạt như vôi
Tuyệt thế giai nhân một áng thơ
Tử tôn nòi giống thiếu ngâm nga
Vô tiền khoáng hậu mong thành đạt
Đạo đức vô thần nghĩ mà đau
Thế giới bàng hoàng trận gió âu
Kỷ nguyên hy vọng nước thay màu
Văn bút thi nhân đòi mở khoá
Thơ thẩn kià ai vẫn đứng ngơ
Tuỉ hờn vong bản lũ vô loài
Nhục nhã sao cho một kiếp người
Mãi quốc buôn thơ là tội lỗi
Sao đành nhắm mắt mãi xu thời? ? ?....


Mượn tiếng thi nhân chàng viết thơ
Một mình ôm ấp tấm thân trơ
Nghe theo lời đảng gieo hoang tưởng
Chi bộ phân công mất tự do

Mượn gió bẻ măng chàng thét to
Tình yêu đảng bác mộng hung đồ
Thương nhau xin chớ quên công vụ
Ủy mị là theo lũ thối tha

Thơ văn nhạt nhẽo suối tuôn mưa
Hoàng tử làm thơ thật thế sao ?
Cổ động tuyên truyền theo chỉ thị
Chủ chương tuyên huấn duyệt văn nô

Thiên hạ dần dần mở mắt to
Tình người chẳng có vắt ra thơ
Lưà bao bạn trẻ tranh nhau đọc
Văn miếu mộng ghi hàng chữ to

Lời vàng chân thật nhắn cho ai
Chẳng phải phô danh ngạo nghễ gì
Văn bút phải đâu quyền độc chiếm
Tình người muôn thuở dễ ai hay?




Tôi muốn hỏi ai tới cửu trùng
Băn khoăn trăn trở suốt năm dòng
Giận cho ma quỷ đưa đường lối
Dìu dắt thanh niên lạc nẻo đường

Tôi viết ra đây nỗi chán chường
Hỡi chàng hoàng tử tiệt sinh trùng
Nhà thương áo trắng mùi cồn thuốc
Màu trắng say xưa chẳng dõi dòng…

Mộng ghi văn miếu hãy quên đi
Tình ái phải đâu ở chốn này
Chiêu thức thơ tình đâu phải lối
Duyên tình mệnh bạc mộng cuồng si


Đức quốc 2008
Lu Hà.


TRÒ ĐỜI

Ai cũng sinh ra ở cõi đời
Đến thăm rồi lại phải chia ly
Đố ai tránh khỏi đường sinh tử
Trường thọ đào tiên khó kiếm thay?...

Tần Hoàng Võ Hán vẫn thường mơ
Tiên đảo kim đan luyện đỏ lò
Đạo sĩ ra công tìm thuốc quý
Cười cho công sức một trò vua

Biết thế mà đau lũ bất nhân
Coi thường mạng sống cuả con dân
Tham quyền cố vị tranh quyền lợi
Sông nuí tràn thây ngập thế gian

Nhóm này tiêu giệt nhóm kia đi
Quyền lực chia nhau kẻ bất tài
Du đảng du côn thành cả đám
Giơ tay biểu quyết bám theo đuôi

Thi đua xác chết luá xanh tươi
Tố Hữu hồn thơ ngấm máu người
Trí tuệ tối tăm theo chủ nghiã
Ngàn thu nào rửa hết tanh hôi

Đỉnh cao trí tuệ theo trung cộng
Dốt nát thiên đường mơ cảnh tiên
Địa chủ vu oan người áo vải
Chỉ tiêu bắn giết đẹp lòng trên

Đất nước mẹ ơi! Buồn xác xơ
Trông gà hoá cuốc nợ căm thù
Giết người nhổ cỏ cho thêm sạch
Vững chắc cánh đồng xã hội ta

Cụ đồ trí giả cho đi xuốt
Để laị thằng ngô nắm bá quyền
Thôn xóm chia nhau năm bảy đưá
Chuyên viên cán ngố dạy bàn dân

Trình độ i tờ mới đọc thông
Quan toà phán xét lập luân thường
Ti toe xí xố vài bồi bút
Ra vẻ tú Tây học ở trường

Chuyên viên hàm thụ như tôm tươi
Bán tước mua danh cái chợ trời
Nước bọt đãi bôi chưa kịp ráo
Cạy thêm tí đỏ để tô môi


Danh hiệu đảng viên giá rất cao
Miệt mài treo dải dạc thân cò
Còn chờ bình xét trong quần chúng
Bó đũa nêu cao chọn cột cờ

Trò hề trí trá thế là thôi
Meọ vặt hư danh để dụ người
Đổ máu hy sinh còn phải nịnh
Oai danh thẻ đảng đạp lên đời

Nấc thang danh vọng leo vùn vụt
Khéo biết chui luồn có cấp trên
Tết nhất tứ muà lo biếu xén
Quan to thăng cấp vợ thêm tiền

Một nhúm tự nhiên bỗng phất to
Có chồng thứ trưởng vợ ông to
Họ hàng vây cánh hùn thêm vốn
Kinh tế thị trường hé tự do

Xã hội đảo điên như giấc mơ
Thời cơ tư bản đỏ ra hoa
Đầu Tây đuôi Mác con bò ghẻ
Chủ nghiã còn thơm cho chú ngô

Dày đặc công an tự kiểm tra
Hàng hàng lớp lớp lũ yêu ma
Trị dân bằng cách chia từng tổ
Mỗi tổ sinh ra một chú cò

Ích quốc lợi dân ai có nghĩ
Chỉ lo mất miếng bận tranh phần
Miễn sao lon gạch thăng thêm cấp
Lương tháng đều đều chẳng thiếu ăn

Lý lịch ba đời bần cố nông
Thành phần cốt cán được ưu tiên
Tuyển sinh đi học moi danh sách
Kế hoạch tô hồng hơn cả chuyên

Buồn lắm than ôi cho cố hương
Ngàn năm văn hiến vẫn tang thương
Vì ai gây nỗi bao thảm cảnh
Nhiệp quả trầm luân tuỉ Lạc Hồng.

Đức Quốc 2008
Lu Hà

THƯƠNG TIẾC CHO ANH
Nuối tiếc cho xuân quá nửa tàn
Thương chàng thi sĩ lỡ trăng non
Thơ hay là bởi do nhân tính
Đâu có trường nào dạy viết văn….

Họ đã dắt anh đến cổng trời
Vô tình đạp ngã xuống âm ty
Cây đa rụng lá chiều thê thảm
Thơ thẩn hồn ma sợ bóng người

Nhớ thuở hồn nhiên tuổi ấu thơ
Hương bay thiên phú đoá hoa mơ
Tình quê cánh vạc ru con ngủ
Hạt gạo làng em đã gặp muà...

Xuân Diệu lăng xăng chăm bẵm Khoa
Lan Viên Tố Hữu lái đưa đò
Thuyền trăng sóng nước say hồn bướm
Giưã chốn biển khơi đắm mịt mù....

Cứ tưởng học nhiều nâng cánh cao
Bao nhiêu lý luận nhét sao vưà
Châu âu sứ lạnh đuà ma quái
Nối bước hồn tiên theo bóng Nga

Muốn viết thơ hay có khó gì
Yêu từng ngọn cỏ gió heo may
Trong tim không chưá bao thù hận
Chân thật xót thương mọi kiếp đời

Thế kỷ đau thương ôi thế gian
Nhân tình bạc bẽo với thi nhân
Bẻ cong ngòi bút khoe gian dối
Cứ phịa phì gia trọn phú quyền...

Thơ chết lâu rồi có biết không?
Chân dung đối thoại rõ văn chương
Thị trưòng kinh tế đua thời thế
Hành tỏi tương gừng mua bán dong

Dưạ trí nhân sinh trong tối tăm
Lập loè đom đóm suốt đêm tàn
Vô tiền khoáng hậu sao ranh thế
Chia chác cùng nhau dễ kiếm ăn....

Đưa chuyện văn thơ ra kéo co
Vừa xoa vừa đấm khéo hay trò
Tò mò thiên hạ bầy câm điếc
Ngơ ngác hầu bao dễ kiếm sao?...

Thiên phú ngày xưa để ở đâu?
Thần đồng phát tiết khí anh thơ
Trái tim lầm lỡ nên ra nỗi
Kể chuyện tầm phào cũng bẫm to...

Đáng tiếc cho ai nửa cuộc đời
Hồn thơ nhân ái chết tươi rồi
Rèn văn luyện chữ tung chiêu quái
Tẩy rửa làm sao được hở trời…

2008 Lu Hà


THƠ KỂ CHUYỆn ĐỜI

Dòng thơ như suối chảy trên nguồn
Thơ tớ làm ra cho thế nhân
Giọt chữ chưá chan ra biển cả
Mênh mông đằm thắm vơí nhân quần

Giọt nước thương đau sôi bọt trắng
Như bao ân oán cõi trần gian
Bất công vô lý cười ra máu
Thơ vạch cho đời lũ bất nhân

Ta nhớ ngày xưa tuổi ấu thơ
Sinh trong nước mắt đẫm trời mưa
Thê lương đói khổ thù giai cấp
Đấu tố làng quê dấu xác xơ

Bà bế cháu đi xin sữa lạ
Nhà nhà túng thiếu vơí u buồn
Còn qui bóc lột đầy hăm doạ
Vườn trống nhà không đói thiếu ăn

Bài hát đầu tiên ca lãnh tụ
Lớn lên đi học ở trưòng làng
Tung tăng khăn đỏ mà kiêu hãnh
Theo bước Kim Đồng tuổi thiếu niên

Dối trá làm sao lũ trẻ thơ
Hung hăng chiến tuyến nhuộm hồng cầu
Tang thương đất nước vòng bom lửa
Giải phóng miền nam tan giấc mơ

Tội lỗi ai gây lụy cả ta
Bơ vơ chìm nổi cõi ta bà
Mấy năm sốt rét ho ra máu
Như cánh tro tàn bay lửng lơ

Nhìn cánh tro tàn lơ lửng bay
Đời trai tàn lụi nhé từ đây
Nhẹ tin theo bước bầy lang sói
Giải phóng cho ai được cái gì?....

Miền Nam đâu phải trong đầy đoạ
Mảnh đất tự do ngọc Viễn Đông
Lấn chiếm xâm lăng thành kẻ cướp
Bất công vô lý nổi trời giông

Thây người trôi nổi sóng bơ vơ
Từ đó đến nay mất tự do
Giải phóng hoá thành quân cưỡng chiếm
Tráo từ đổi nghiã lũ điêu ngoa

Ta viết bài thơ cho những ai
Có gì nói thế chẳng dông dài
Cùng nhau vạch mặt quân gian tặc
Tâm địa hiểm sâu hận oán đời

Đức Quốc 2008
Lu Hà




Bóng ma thơ

Khen khéo cho thơm cái sự đời
Cũng thơ cũng phú cũng như ai
Có ông Xuân Diệu ra hàng bún
Thịt chó chả quay ngạt thế này

Được làm hoàng tử có mừng không
Đệ nhất văn chương chỉ có ông
Thiên hạ vùi đầu mê cộng sản
Như ông Tố Hữu cũng thành vương

Sấm sét aí tình được mấy chiêu
Mấy ai đã được hưởng tình yêu
Nên ông tự đắc thơ hay quá
Cho kẻ tiểu nhân phải sụt sùi

Hoàng tử sao ông không lấy vợ
Tránh xa né tránh lũ đàn bà
Ông mê say đắm nào ai nhỉ
Nên thơ ông viết cứ lờ mờ

Hồn thơ đảng dạy nén trong lòng
Chớ có âu sầu như Hữu Loan
Than thở lâm ly đừng Nguyễn Bính
Như con chim nhốt ở trong lồng

Thiên hạ họ mê cung kính ông
Hoàng thân tình aí ngưạ lên cương
Thơ say túy lúy muì tương ốc
Thịt chó rau dăm với chaó lòng

Họ sợ lời thơ quá mặn nồng
Cản lòng chiến sỹ lúc ra quân
Trên đường ra trận nuôi thù hận
Giai cấp đấu tranh nhuộm chiến trường

Họ sợ tình người bao vấn vương
Vợ chồng cha mẹ nỗi yêu thương
Còn ai liều mạng dâng cho đảng
Thân xác học trò tuổi thiếu niên?

Tính toán ma thơ đã đủ rồi
Tình thơ nước ốc nhẹ lên muì
Tuyên dương Xuân Diệu say men Đảng
Thoang thoảng hoa nhài chẳng chết ai

Trong đám cai thơ nổi một ông
Quyền hành thống trị khối văn chương
Tiếng tăm lừng lẫy mùi tôm mắm
Thơ thét oai hùng khắp bốn phương


Bầm ơi! Sai bét cả gieo vần
Ngắn nguỉ vài dòng cũng nổi gân
Bằng trắc rối mù trong nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim

Có người còn chẳng biết làm thơ
Ấm ớ ậm ờ thớt mặt ra
Kiêu hãnh tự hào như hiển sỹ
Sổ thơ người khác nhận vơ vào

Thơ tớ thường thường cũng kém thôi
Tấm lòng trang trải với trần ai
Chẳng như bao kẻ tâm hồn rỗng
Súng đạn dùi cui nhất sử thi

Xưa truyện thù ai ghét kẻ tài
Tuyệt đường kinh tế hết sinh nhai
Hữu Loan cơ cực đời đau khổ
Dao cạo Trần Dần phọt máu tươi

Thơ ơi! Thơ nhục thế kia à
Cho lũ văn nô dỏng tiếng ca
Thi sỹ chính danh đều chết sạch
Thơ tan trong máu lẫn bùn nhơ

Tiến Duật nổi lên hô thật to
Phượng Hoàng chống Mỹ suối reo ca
Dăm bài phá luật con chim gáy
Viện sỹ hàn lâm nhất nước nhà

Thời buổi bây giờ thơ vơí phú
Buôn gian bán chữ bốc thơm nhau
Việt Nam bế tắc đường văn hoá
Chợ bán thơ chen mộng chữ giàu

Thơ khổ làm sao thơ với thơ
Viết nhăng viết cuội cứ lơ mơ
Gieo vần bằng trắc không tuân thủ
Lếu láo vài câu cứ viết bưà

Đời thuở nhà ai thơ giống văn
Cua ngang cóc nhảy loạn nhân tâm
Vài thằng mọt bút tranh nhau xới
Cách mạng hồn thơ tẩy não dân

Nguyễn Trãi Bỉnh Khiêm chết đã lâu
Nguyễn Du Nguyễn Khuyến cũng là ma
Bực mình đạp vỡ quan tài dậy
Quắc mắt dựng râu Tiến Duật đâu

Có lẽ là do chủ nghĩa Mác
Xui khôn xui dại vơí bày đàn
Trở về thiên cổ thời hang hốc
Rừng thẳm tuyết dày vượn hú vang

Thơ phú văn chương buổi thụt lùi
Ngày càng đơn giản chẳng cầu kỳ
Không cần ngẫm nghĩ xuy tư nữa
Mác đã lo xa hết cả rồi…

Vật chất sinh ra đời khốn nạn
Tranh nhau bổng lộc với quyền hành
Nhân tài khánh kiệt dìm nhân sỹ
Kéo bè độc đảng haị dân lành

Các nước văn minh đều thế cả
Biết chê biết nhận thấm dừ đòn
Truyền hình báo chí nêu công luận
Trí tuệ con người mới khá lên

Nhìn lại Việt Nam tớ thấy buồn
Lúc nào cũng sợ vạ vào thân
Sinh ra quen thói đời tâng bốc
Trán thấp ngồi ngang bậc thánh hiền

Đua chen báo chí bốc cho nhau
Một thế kỷ qua nợ quá nhiều
Nhồi nhét vào đầu bao thế hệ
Trăm năm rửa sạch hết ôi thiu?

Thân tớ sinh ra cũng thiệt thòi
Đầu thai nhầm phải ở nơi này
Cho nên đời tớ đầy đau khổ
Đi khắp hoàn cầu tổ quốc ai?

Nay tớ làm thơ để kể đời
Tự do thơ phú tấm lòng ngay
Lời thơ tớ nghĩ là như thế
Có thể hậu sinh chẳng biết gì?...

Khen mãi cho ai cũng đủ rồi
Bây giờ ngược laị tớ chê bai
Tư duy trí tuệ là như thế
Trong cõi luân hồi biến đổi thay?....

Đức quốc ngày 4 tháng 4 năm 2008
Lu Hà