Jun 16, 2019

Biên khảo

Những Thành Ngữ Có Xuất Xứ Từ Thơ Cổ Điển và Điển Cố Kì 25 & 26
Nguyễn Ngọc Kiên * đăng lúc 11:19:38 AM, May 28, 2018 * Số lần xem: 352
Hình ảnh
#1

NHỮNG  THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ

THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ

(Kì 25)

Nguyễn Ngọc Kiên

(80) 歧路亡羊[Kỳ lộ vong dương] (lầm đường lạc lối). Thành ngữ này bắt nguồn từ một câu chuyện cổ về việc tìm kiếm một con cừu đi lạc.

Nhân vật chính của câu chuyện là Dương Tử, một triết gia nổi tiếng và học giả sống ở nước Ngụy trong thời Chiến Quốc (475-221 TCN).

Một ngày nọ, người hàng xóm của Dương Tử bị mất một con cừu và huy động toàn bộ gia đình của ông cũng như nhiều người khác trong thôn bản để giúp tìm kiếm con vật ấy. Ông ấy đã nhờ đến sự giúp đỡ của Dương Tử, và Dương Tử đã cho tất cả các học trò và người hầu của mình đi ra để giúp tìm kiếm con cừu.

Cùng với người thân và bạn bè của người hàng xóm kia, Dương Tử nhận thấy rằng một nhóm rất đông người đã tụ tập để tham gia tìm kiếm.

Tại sao lại cần đến rất nhiều người để tìm một con cừu bị mất?”, Dương Tử hỏi người hàng xóm.

Bởi vì có rất nhiều con đường bị rẽ nhánh”, người hàng xóm trả lời.

Khi màn đêm buông xuống và mọi người trở về, Dương Tử hỏi: “Mọi người đã tìm thấy con cừu chưa?

Một trong những người hầu của Dương Tử trả lời: “Có rất nhiều con đường rẽ nhánh, với mỗi một con đường lại dẫn đến nhiều con đường rẽ nhánh nữa. Bởi vì con không biết đi theo đường nào, con đã từ bỏ”. Những người khác đồng ý rằng đây cũng chính là lý do mà họ quay trở lại.

Một trong những người đàn ông đã đi tìm giúp con cừu bị lạc trở về tay không và nói với ngài Dương Tử rằng có rất nhiều ngã rẽ mà người này không biết đi theo hướng nào. (Hình họa: Jane Ku/Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh)

Dương Tử đã lắng nghe rất chăm chú rồi im lặng trong một thời gian dài, trông thực sự nghiêm trọng. Các học trò thì thực sự bối rối và không hiểu người thầy của mình đang nghĩ về điều gì.

Sau khi suy nghĩ sâu sắc tình hình, ông đã dạy nguyên lý sau đây cho học trò của mình:

Khi có quá nhiều con đường nhỏ phân ra từ tuyến đường chính, các con không thể tìm thấy một con cừu bị mất và bản thân cũng có thể dễ dàng bị lạc trong những con đường nhỏ ấy.

Tương tự như vậy, khi một người học trò có quá nhiều mối bận tâm phân rẽ ra từ mục tiêu chính của mình, người đó có thể dễ dàng phung phí thời gian của mình.

Chỉ có một nguồn gốc thực sự của tất cả các kiến thức, nhưng con đường để đạt được kiến thức này thì rất nhiều. Chỉ bằng cách đi theo con đường đúng đắn trở về với chân lý tối hậu mới có thể giúp cho một người tránh bị lạc lối.

Nếu các con không tìm ra được định hướng đúng đắn, các con sẽ không đạt được gì, giống như những người thất bại trong việc tìm con cừu bị mất kia.”

Câu chuyện này được tìm thấy trong một điển cố Đạo giáo gọi là Liệt Tử (1). Câu chuyện có tên là Kỳ Lộ Vong Dương (歧路亡羊) nghĩa là “con đường rẽ nhánh, cừu bị mất” sau này được sử dụng như một thành ngữ.

 “Nếu các con không tìm ra được định hướng đúng đắn, các con sẽ không đạt được gì, giống như những người thất bại trong việc tìm con cừu bị mất kia”.

Thành ngữ này mô tả việc bị lầm đường lạc lối, hoặc trở nên vô vọng khi lẫn lộn trong một tình huống phức tạp, nơi có quá nhiều con đường hay chọn lựa khả dĩ .

Thành ngữ này được sử dụng để truyền đạt ý tưởng rằng khi đối mặt với nhiều sự lựa chọn và các vấn đề phức tạp, người tìm kiếm sự thật có khả năng trở nên bị lạc lối hay mất phương hướng, trừ khi họ có sự quả quyết và đi theo con đường đúng đắn.

(1) Cuốn sách Liệt Tử (列子, Lie Zi) là một điển tích Đạo giáo chủ đạo bao gồm tám chương, với hầu hết các chương được đặt theo tên của một nhân vật nổi tiếng trong thần thoại hay lịch sử Trung Quốc từ năm 2698 trước Công nguyên đến 350 TCN. 

 Cận nghĩa với thành ngữ này có: 误入歧途  [ngộ nhập kì đồ] (lầm đường lạc lối)

Traí nghĩa với thành ngữ là: 改邪归正 ( cải tà quy chính)

 

(81)半途而廢 [Bán đồ nhi phế] (Bỏ cuộc nửa chừng).

 Thành ngữ 半途而廢[bán đồ nhi phế] (Bỏ cuộc giữa chừng). Đó là thành ngữ nói về tình huống bỏ dở một cái gì đó khi chưa hoàn thành, bắt nguồn từ “Trung Dung”(1), một trong bốn bộ sách kinh điển của Nho giáo.

Câu chuyện như sau: Trong thời kỳ Chiến Quốc (475-221 TCN), có một người đàn ông tên là Nhạc Dương Tử sống với vợ ở nước Việt.

Một ngày nọ, Nhạc Dương Tử nhìn thấy một miếng vàng trên đường và nhặt nó lên. Anh đem về nhà và đưa cho vợ.

Vợ anh nhìn vào miếng vàng và nói: “Thiếp nghe nói rằng một người có phẩm hạnh sẽ không uống nước của một tên trộm và một người đàn ông liêm chính sẽ từ chối chấp nhận của bố thí. Chàng nghĩ gì về việc nhặt lên một vật bị rơi mất của người khác và sở hữu nó cho riêng mình?

 “Cắt đôi tấm vải” là một câu chuyện để minh họa thành ngữ “Bỏ cuộc nửa chừng” và tầm quan trọng của việc kiên trì làm một cái gì đó từ đầu đến cuối.

Nghe điều này, Nhạc cảm thấy xấu hổ và đem nó trở lại nơi mà anh đã tìm thấy nó. Nhạc sau đó quyết định tìm kiếm các thầy dạy học để làm phong phú thêm kiến thức của mình. Nhận được sự ủng hộ từ vợ, Nhạc bắt đầu cuộc hành trình.

Một năm sau đó, Nhạc đột nhiên trở về nhà. Vợ anh, khi đó đang dệt vải lụa, quỳ xuống để chào đón anh ta và ngạc nhiên hỏi: “Chàng chỉ mới ra đi cầu học có một năm. Tại sao giờ lại trở về rồi?

Nhạc trả lời: “Ta trở về nhà để gặp nàng bởi vì ta nhớ nàng rất nhiều.” 

Không nói thêm một lời nào, người vợ nhặt một cây kéo và đi đến khung cửi nơi cô đang làm công việc.

Chỉ vào tấm thổ cẩm thêu còn đang dang dở, cô nhẹ nhàng nói: “Đây là thổ cẩm được dệt từ tơ tằm tốt nhất. Thiếp đã đan từng sợi nối tiếp nhau để dệt ra nó. Bây giờ nếu thiếp cắt nó, tất cả các công việc nãy giờ của thiếp sẽ trở thành vô ích. Đó cũng tương tự như  sự học hành của chàng. Chàng chỉ có thể tiếp thu kiến thức thông qua sự cần mẫn. Bây giờ, chàng đã dừng lại nửa chừng. Không phải là nó cũng giống như cắt vải trên khung cửi này sao?

Nhạc đã xúc động sâu sắc bởi những gì người vợ nói. Anh rời khỏi nhà một lần nữa; lần này với quyết tâm rằng sẽ không bỏ cuộc giữa chừng trong việc học hành của mình. Vài năm sau đó, Nhạc đã trở thành một người đàn ông rất uyên bác.

Thành ngữ này được dùng để chỉ một hành động mà bỏ dở ở giữa quá trình. Nó nhắc nhở rằng những nỗ lực của một ai đó, tất cả sẽ trở thành vô ích nếu người ta không thể cố gắng theo đuổi làm mọi thứ từ đầu đến cuối.

(1) Người ta cho rằng “Trung Dung” được viết vào khoảng năm 450 trước Công nguyên bởi cháu nội của Khổng Tử. “Trung Dung” (中庸) ban đầu được coi là một thiên trong tác phẩm “Kinh Lễ” của Khổng Tử. Sau đó, nó được coi là một trong bốn bộ sách kinh điển Nho giáo. “Trung Dung” cũng còn được dịch là “Lý thuyết của thế cân bằng”, “Trung Đạo” và “Lý thuyết của sự hài hòa.”

                                                   (The Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh)

Cachs dùng thành ngữ; có thể  làm vị ngữ, trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ. Kết cấu ngữ pháp: chính phụ

Cận nghĩa với thành ngữ này có các thành ngữ: 功亏一篑 (việc sắp thành lại hỏng)有始无终 [hữu thủy vô chung] (đánh trống bỏ dùi), 浅尝辄止(Không đi sâu nghiên cứu); 因噎废食 (vì chuyện nhỏ bỏ chuyện lớn ); 半途而返 (nửa chừng bỏ dở); 付之东流 (thả trôi dòng / bỏ mặc; 打退堂鼓 (bỏ cuộc/ chạy làng); 前功尽弃  (công lao đổ biển).

Trái nghĩa:坚持不懈 (bền bỉ); 有始有终 (có trước có sau); 滴水穿石 (nước chảy đá mòn).

Dịch sang tiếng Anh: to give up halfway; to drop/fall by the wayside; to stop half way.

 

(82) 專心致志 [Chuyên tâm tri chí] (chuyên tâm mới đắc đạo).

Ngày xưa, ở Trung Quốc có một bậc thầy về đánh cờ tên là Dịch Thu. Ông nổi tiếng là cao thủ chơi cờ lão luyện nhất thời bấy giờ. Một lần, ông nhận hai người Ah và Bi làm đệ tử và hàng ngày dạy họ đánh cờ.

Một hôm, ông dạy họ một số thuật đánh cờ quan trọng. Ah nghe giảng rất chăm chú và hoàn toàn nhập tâm vào bài. Trong khi đó, Bi vừa nghe giảng vừa để tâm trí ở nơi khác.

Trong giờ học, Bi nhìn ra ngoài cửa sổ. Anh ta thấy một con thiên nga ở ngoài hồ và liền tưởng tượng ra việc trong tay có một cây cung cùng mũi tên, anh giương cung bắn con thiên nga đó rồi mang về nấu một bữa tối ngon lành.

Ngay sau đó Bi nhận ra đó chỉ là tưởng tượng trong khi anh vẫn ở trong lớp học. Anh cảm thấy thật đáng tiếc khi phải học bài lúc này. Bi quay lại nghe giảng nhưng chỉ được một lúc lại quay ra cửa sổ nhìn một con thiên nga khác. Bi lại nghĩ tới việc bắn con thiên nga kia rồi nấu nó cho bữa tối.

Dù Bi cùng học một bài giảng giống như Ah nhưng anh lại không tập trung vào lời dạy của sư phụ mà lại để đầu óc mình lơ đễnh vào những việc khác. Thậm chí Bi vẫn quẩn quanh trong tưởng tượng của mình khi bài giảng đã kết thúc.

Sư phụ Thu cũng nhận ra việc Bi lơ đãng việc học. Ông yêu cầu hai học trò của mình chơi một ván cờ vào cuối buổi học.

Ah đã áp dụng ngay những kĩ thuật vừa được học và chơi rất tốt. Trong khi đó, Bi phải rất vất vả để chống đỡ nước cờ của Ah và cuối cùng đã thua cuộc.

Sư phụ Thu nói với học trò: “Nếu một người không toàn tâm toàn ý vào việc học, anh ta sẽ không học được điều gì cả.”

Câu truyện trên dựa theo một trích đoạn trong thiên Cáo tử sách Mạnh Tử(1). Sau này, câu nói trong truyện 專心致志 (zhuān xīn zhì zhì), nghĩa là “chuyên tâm mới đắc đạo”, đã trở thành một câu thành ngữ.

Ghi chú: Mạnh Tử sinh năm 372 mất năm 289 trước công nguyên, là một triết gia nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Ông là Nho sĩ nổi tiếng chỉ sau Khổng Tử, người sáng lập ra Nho giáo. Triết lý của ông chủ yếu tập trung vào bản tính thiện của con người.

 Cận nghĩa với thành ngữ này là:  聚精会神 [tụ tinh hội thần] (tập trung tinh thần) 一心一意 [nhất tâm nhất ý] (một ý một lòng), 专心一意 [chuyên tâm nhất ý] (toàn tâm toàn ý); 全神贯注 [toàn thần quán chú] (hết sức chăm chú)

  Trái nghĩa với thành ngữ là: 心不在焉 [tâm bất taị yên] (bụng dạ để đâu đâu) 心猿意马 [tâm viên ý mã] (bồn chồn hay thay đổi); 漫不经心 [mạn bất kinh tâm] (dửng dưng / không chuyên chú)



 

NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ

 

THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ

(Kì 26)

Nguyễn Ngọc Kiên

(83) 十羊九牧  [thập dương cửu mục] (chín người chăn 10 dê). Thành ngữ bắt nguồn từ một câu chuyện về bản tấu trình mà một viên quan cao cấp đưa lên cho hoàng đế Trung Quốc cổ đại. Câu thành ngữ chứa đựng trí tuệ và kiến thức vẫn còn hữu dụng cho các nhà quản lý trong thời hiện đại.

Khoảng 1.500 năm trước, Trung Quốc đang ở trong thời kỳ hỗn loạn kéo dài hơn 100 năm, đất nước bị chia cắt thành hai phần nam – bắc, mỗi phần lại bị cai trị bởi các triều đại ngắn ngủi. Chiến tranh và bất ổn xã hội đã diễn ra liên tục, nhưng đây cũng là thời điểm hưng thịnh của nghệ thuật, văn hóa và tôn giáo. Giai đoạn này được gọi là Nam – Bắc triều (420 – 581 sau Công nguyên).

Sau thời Nam – Bắc triều, triều đại nhà Tùy (581 – 618 sau Công nguyên) được dựng nên bởi vua Tùy Văn Đế, người đã thống nhất Trung Hoa lần đầu tiên sau hơn một thế kỷ phân chia nam bắc.

Vua Tùy có một số quan thân cận trung thành hỗ trợ việc nước. Một trong số đó là Yang Shangxi (sống vào khoảng 533 – 590 sau Công nguyên).

Yang nhận thấy một số khó khăn trong việc quản lý đất nước. Có quá nhiều châu huyện và quan lại cấp châu huyện, do phân chia khu vực hành chính để lại từ triều đại trước. Vì vậy, hầu hết các quan chức chỉ chịu trách nhiệm ở một khu vực nhỏ, hoặc không có thực quyền và không hữu ích.

Tình trạng này không chỉ gây ra gánh nặng chi phí cho triều đình, mà còn là trở ngại cho việc thực hiện công việc suôn sẻ. Yang cảm thấy rất lo lắng, vì vậy ông đã thảo một bản tấu trình lên nhà vua.

Yang viết: “Hiện này có quá nhiều huyện và quá nhiều quan lại, giống như có tới 9 người chỉ để chăn 10 con dê. Điều này khiến triều đình chịu nhiều chi phí và làm tốn thời gian thực hiện công việc.

“Việc giảm số lượng các huyện và quan lại là ưu tiên hàng đầu đối với quốc gia. Thần xin đề xuất duy trì các khu vực hành chính hợp lý, và cử những quan lại có năng lực tới những nơi thực sự cần. Đối với những vị trí phải giảm bớt, có thể cho họ những công việc khác.”

“Những thay đổi này sẽ làm giảm đáng kể chi phí cho triều đình và giúp điều hành công việc quốc gia hiệu quả hơn.”

Sau khi đọc bản tấu trình của Yang, Tùy Văn Đế đã sử dụng những lời tâm huyết của vị quan và thực hiện một loạt những cải cách tập trung, đưa đến kết quả rất khả quan.

Câu chuyện này nằm trong phần tiểu sử của Yang Shangxi trong cuốn “Tùy Thư” (1). Cụm từ “Thập dương cửu mục” trong bản tấu của ông lên vua Tùy sau này đã trở thành một thành ngữ.

Thành ngữ này có thể dịch theo nghĩa đen là “có 9 người chăn 10 con dê”, và dùng để miêu tả một tình huống trong đó có quá nhiều người ra lệnh và không đủ người thực hiện.

Nó cũng truyền đạt tầm quan trọng phải xây dựng hệ thống phân quyền rõ ràng, mạch lạc trong việc quản lý hoặc tổ chức, để không xảy ra sự nhầm lẫn hoặc không biết phải tuân thủ mệnh lệnh của ai, tránh xảy ra sự chồng chéo, gây lãng phí cho đất nước và phiền hà cho nhân dân.

Ghi chú: (1) Cuốn “Tùy Thư” là sách lịch sử của thời kỳ nhà Tùy. Sách được biên soạn bởi nhóm sử quan đời nhà Đường và hoàn thành vào năm 636 sau Công nguyên. Cuốn sách bao gồm 5 Đế kỷ, 30 Chí và 50 Liệt truyện.

Cận nghĩa: 僧多粥少[tăng đa chúc thiểu] (sư nhiều cháo ít)、人浮于事 [nhân phù vu sự ](nhiều người ít việc)

Có thể làm định ngữ, trạng ngữ,  chỉ quá nhiều lãnh đạo.

Tiếng Anh overstaffed < be ununiformly ordered>

 

(84) 天愁地惨[ thiên sầu địa thảm](trời sầu đất thảm)

Thành ngữ này có ý chỉ trời đất cảm thấy sầu khổ, thê thảm, hình dung cực kì bi thảm (thường dùng từ ngữ khí)

Xuất xứ từ tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa”  của nhà văn La Quán Trung, thời Minh, hồi 104: “Đang đêm, thiên sầu địa thảm, mặt trăng vụt tắt, Khổng Minh đột nhiên về trời.”

Có thể  làm vị  ngữ, định ngữ, dùng nhiều làm từ  ngữ khí.

Cận nghĩa:天昏地暗 [thiên hôn địa ám] (trời đất u ám)

 

 

(85) [mã đáo thành công]

Chúng ta thường chúc nhau [mã đáo thành công]

để mong người kia có được thành công trong công việc sắp tới.

Nhưng nguồn gốc thật sự của câu nói trên là gì, các bạn cùng tìm hiểu qua 2 điển tích dưới đây.

Thành ngữ “Mã đáo thành công” được dùng để ám chỉ sự thành công nhanh chóng.

1. Truyền thuyết thứ nhất

Năm thứ hai triều đại nhà Tần (221-206 trước công nguyên), Tần Thủy Hoàng hay tin về một Hòn đá Thần có hoa văn tinh mỹ trên núi Vinh Thành. Tương truyền rằng đây là hòn đá còn sót lại khi Thần Nữ Oa vá trời và nó có thể giúp nhà vua duy trì ổn định quyền lực.

Tần Thủy Hoàng lập tức ra lệnh xây dựng một con đường đi đến chỗ Hòn đá Thần. Sau đó, ông xuất lĩnh thiên binh vạn mã hướng về Hòn đá này; đến nơi, ông cung kính lễ bái Hòn đá một lúc lâu.

Quả nhiên sau đó sự sự như ý, thiên hạ thái bình. Tần Thủy Hoàng rất vui mừng, yêu cầu bá quan làm thơ ca ngợi. Lúc đó có một vị tên là ‘Từ Phúc lão tiên sinh’ đã viết:

Vạn mã thiên quân ngự trì đạo

Thủy Hoàng bái thạch đắc thành công

Tạm dịch:

Ngàn vạn binh lính người ngựa dong ruổi

Thủy Hoàng lễ bái hòn đá được thành công

Vào triều Nguyên (1279-1368 sau công nguyên), đại tác gia Quan Hán Khanh trong tác phẩm Ngũ Hầu Yến, đã dựa vào điển cố trên mà sáng tạo nên thành ngữ “Mã đáo thành công”.

Dần dần theo khẩu truyền, thành ngữ này hiện nay được dùng để ám chỉ sự thành công nhanh chóng.

2. Truyền thuyết thứ hai

Thời cổ đại, khi giao chiến, kị binh có vai trò quan trọng, quyết định thắng bại trên chiến trường. Khi kị binh đến thì chiến thắng.

Mã đáo thành công (Dịch nghĩa: Ngựa đến liền thành công) thể hiện sự quan trọng của ngựa trên chiến trường, về sau câu này để chỉ công việc thuân lợi, xuôi chèo mát mái. Mọi người thường nói: Kỳ Khai Đắc Thắng Mã Đáo Thành Công – .

Tranh mã đáo thành công lấy hình tượng 8 con ngựa. Tương truyền đây là tám con ngựa đánh xe đưa Chu Mục Vương , vua thứ năm của nhà Chu Trung Quốc, đi tuần thú khắp nơi. Tám con ngựa, từ sắc lông được đặt tên lần lượt là : Xích Ký, Ðạo Ly, Bạch Nghĩa, Du Luân, Sơn Tử, Cừ Hoàng, Hoa Lưu và Lục Nhĩ.

Chu Mục Vương (1001 TCN – 947TCN) hoặc (976TCN – 922 TCN) theo các nghiên cứu khác nhau là vua thứ năm của nhà Chu, ông sử dụng hiền tài làm cho nhà Chu trở nên hưng thịnh, do đó ông được coi là minh quân, tám con ngựa của ông cũng thành một điển tích nổi tiếng.

Ý nghĩa

Ngựa xuất hiện trong tranh như là biểu tượng của sự mau chóng và thành đạt. Ngựa là hình ảnh của sự trung thành, kiên nhẫn, sự may mắn mang tài lộc. Ngựa phi nước đại còn gọi là lộc mã đem lại nguồn tài lộc, sự phát đạt trong kinh doanh.

Bức tranh có chủ đề phổ biến nhất là Mã Đáo Thành Công thể hiện một bầy ngựa có tám con đang phi nước đại gió bụi mịt mù. Sở dĩ bức tranh có tám con ngựa bởi vì số 8 “Bát” đọc theo Hán cùng một âm với chữ “Phát” là phát đạt. Ngựa phi trong gió cũng có ý là con ngựa đó khỏe mạnh.

Dùng cho những người hay đi xa, chuyến đi thành công tốt đẹp. Bình thường tám con ngựa chạy về, ý là tám con đều cùng một chí hướng, đó là ý nghĩa nguyên thủy của các tranh thời xưa: “mạnh dạn dồn hết nhiệt huyết, tiến về một hướng để đạt mục đích”. Ngày nay, tranh “Mã đáo thành công” được vẽ thêm chi tiết khác bình thường.

                                         (Theo Đại Kỷ Nguyên bản tiếng Anh)

Cận nghĩa với thành ngữ này là: 旗开得胜 [kì khai đắc thắng] (chiến thắng ngay từ trận đầu)水到渠成 [thủy đáo cừ thành] (trăng đến rằm thì trăng tròn)

Trái nghĩa với thành ngữ này là: 屡战屡败 [lũ chiến lũ bại] (屡:nhiều lần; nhiều lần đánh bại nhiều lần thất bại)

Cách dùng: Từ với nghĩa khen  ngợi, làm vị ngữ, tân ngữ, định ngữ.



 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.