Nov 16, 2018

Thơ dịch

Nguyễn Lãm Thắng - Dịch Thơ Ðường
Nguyễn Lãm Thắng * đăng lúc 09:36:13 PM, Oct 01, 2008 * Số lần xem: 2488
Nguyễn Lãm Thắng - Dịch Thơ Ðường
*

VƯƠNG BỘT
Đằng Vương Các

滕王閣

王勃

滕王高閣臨江渚﹐
佩玉鳴鸞罷歌舞。
畫棟朝飛南浦雲﹐
朱帘暮捲西山雨。
閑雲潭影日悠悠﹐
物換星移幾度秋。
閣中帝子今何在﹐
檻外長江空自流。

Đằng Vương Các

Vương Bột


Đằng Vương cao các lâm giang chử
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ
Họa đống triêu phi Nam phố vân
Châu liêm mộ quyển Tây sơn vũ
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du
Vật hoán tinh di kỷ độ thu
Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại Trường giang không tự lưu
Dịch thơ:
Đằng Vương các


Gác Đằng cao ngất bãi sông
Còn đâu tiếng ngọc, nhạc rung rộn ràng?
Mây mai vờn nóc phố Nam
Rèm châu chiều cuốn thấy ngàn Tây mưa
Đầm in mây lửng, ngày đưa
Sao dời vật đổi mấy mùa vèo trôi
Đằng Vương giờ khuất xa rồi!
Trường giang nước cứ chảy xuôi bên thềm.
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)


LẠC TÂN VƯƠNG
Dịch thủy tống biệt

易水送別
            
駱賓王

此地別燕丹,
壯士髮衝冠。
昔時人已沒,
今日水猶寒。

Dịch thủy tống biệt

Thử địa biệt Yên Đan
Tráng sĩ phát xung quan.
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thủy do hàn.

Dịch thơ:

Dịch thuỷ tống biệt

Chốn này biệt Thái tử Yên
Tóc tráng sĩ dựng ngược lên che đầu
Người xưa khuất bóng về đâu?
Mà nay nước cuộn một màu lạnh căm.
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)
Tại ngục vịnh thiền

Lạc Tân Vương


駱賓王

在獄詠蟬

西陸蟬聲唱,
南冠客思深。
不堪玄鬢影,
來對白頭吟。
露重飛難進,
風多響易沉。
無人信高潔,
誰為表予心。

Tại ngục vịnh thiền

Tây lục thiền thanh xướng
Nam quan khách tứ thâm 
Bất kham huyền mấn ảnh
Lai đối bạch đầu ngâm 
Lộ trọng phi nan tiến ,
Phong đa hưởng dị trầm
Vô nhân tín cao khiết
Thùy vi biểu dư tâm

Tại ngục vịnh thiền

Ngày thu vẳng tiếng ve kêu
Trong tù, khách nhớ quê nghèo lắm thay!
Bất kham cái bóng cánh gầy
Ngâm nga trước mái tóc này bạc phơ
Sương rơi nặng, cánh vật vờ
Gió xua mạnh, lấp tiếng tơ rã rời
Thanh cao, ai biết trên đời
Ai chia sẻ nỗi bùi ngùi lòng ai!
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)

DƯƠNG QUÝNH
Tòng quân hành

Dương Quýnh


从军行

杨炯

烽火照西京,
心中自不平。
牙璋辞凤阙,
铁骑绕龙城。
雪暗凋旗画,
风多杂鼓声。
宁为百夫长,
胜作一书生。

Tòng quân hành

Dương Quýnh

Phong hoả chiếu Tây kinh
Tâm trung tự bất bình
Nha chương từ Phượng khuyết
Thiết kỵ nhiễu Long thành
Tuyết ám điêu kỳ sắc
Phong đa tạp cổ thanh
Ninh vi bách phu trưởng
Thắng tác nhất thư sinh
Tòng quân hành

Lửa hiệu rọi Tây Kinh
Lòng riêng dậy bất bình
Ấn ngà rời Phượng khuyết
Ngựa sắt rối Long thành
Màu cờ hoen tuyết phủ
Gió gào chen trống canh
Thà đứng đầu trăm lính
Hơn làm chàng thư sinh.
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)


TRẦN TỬ NGANG
Đăng U Châu Đài Ca

Trần Tử Ngang



七言古詩

陳子昂

登幽州臺歌

前不見古人,
後不見來者;
念天地之悠悠,
獨愴然而涕下。

Đăng U Châu Đài Ca

Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc sảng nhiên nhi thế hạ


Đăng U Châu đài ca

Trước… không thấy bóng cổ nhân
Sau… thì chửa thấy người lần chân qua
Đất trời dằng dặc bao la
Xót lòng riêng, mà lệ sa trăm chiều.
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)


Cảm Ngộ

Trần Tử Ngang



Cảm Ngộ

Lan nhược tự xuân hạ
Thiên uất hà thanh thanh
U độc không lâm sắc
Chu nhuy mạo tử hành
Trì trì bạch nhật vãn
Niệu niệ thu phong sinh
Tuế hoa tận dao lạc
Phưong ý cánh hà thành.

Dịch thơ:

Cảm Ngộ
Xuân đã tàn, hè đến
Lan, nhược thêm biếc xanh
Một mình gom sắc núi
Cành tím, hoa thắm xinh

Chậm chân ngày trắng xế
Gió về hiu hắt thu
Tuổi hoa theo mùa rụng
Dấu ý thơm… được ru?
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)

TRƯƠNG CỬU LINH
Tự quân chi xuất hĩ

Trương Cửu Linh

自君之出矣

張九齡

自君之出矣
不復理殘機
思君如月滿
夜夜減光輝

Tự quân chi xuất hĩ

Trương Cửu Linh

Tự quân chi xuất hĩ ,
Bất phục lý tàn ky .
Tư quân như nguyệt mãn , (1)
Dạ dạ giảm quang huy .

(1) Có bản ghi là “mãn nguyệt”

Tự quân chi xuất hỹ

Chàng ra đi từ ngày…
Thiếp quên ngồi khung cửi
Nhớ chàng như trăng đầy
Mờ dần theo mỗi tối.
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)

HẠ TRI CHƯƠNG

Hồi hương ngẫu thư (kỳ nhất)


賀知章
回鄉偶書

少小離家老大回,
鄉音無改鬢毛衰;
兒童相見不相識,
笑問客從何處來。

Hồi hương ngẫu thư (kỳ nhất)

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi
Hương âm vô cãi, mấn mao thôi
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiếu vấn, khách tòng hà xứ lai

Hồi hương ngẫu thư (bài 1)


Đi… còn bé, về… già nua
Giọng quê không đổi, tóc thưa bạc màu
Trẻ nhìn, không hỏi một câu
Còn cười bảo: “Khách nơi nào đến chơi?!”

Hồi hương ngẫu thư (kỳ nhị)

Hạ Tri Chương

回鄉偶書其二
賀知章

離別家鄉歲月多,
近來人事少消磨。
惟有門前鏡湖水,
春風不改舊時波。

Hồi hương ngẫu thư kỳ nhị

Hạ Tri Chương

Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa ,
Cận lai nhân sự thiểu tiêu ma .
Duy hữu môn tiền Kính hồ thủy ,
Xuân phong bất cải cựu thời ba .

Dịch thơ:
Bài 2:

Bài dịch 1:
Xa cách quê nhà bao tháng năm
Gần đây người cũ khuyết đôi phần
Chỉ còn hồ Kính in thềm cửa
Làn sóng xưa đùa với gió xuân.

Bài dịch 2:
Quê nhà cách biệt bao thu
Người xưa mòn nửa, bây giờ tìm đâu?
Còn chăng hồ Kính mặt chau
Gió xuân chẳng đổi được màu sóng xưa.
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)



VI THỪA KHÁNH
Nam hành biệt đệ

Vi Thừa Khánh

南行別弟

韋承慶

澹澹長江水,
悠悠遠客情。
落花相與恨,
到地一無聲。

Nam hành biệt đệ

Vi Thừa Khánh

Đạm đạm Trường Giang thuỷ
Du du viễn khách tình
Lạc hoa tương dữ hận
Đáo địa nhất vô thanh.

Nam hành biệt đệ

Nước biếc Trường giang chảy lặng lờ
Người xa, man mác sóng tình xô
Rẽ đôi mối hận… hoa sầu rụng
Chạm đất âm thầm… không tiếng tơ.
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)

TỪ AN TRINH
Văn lân gia lý tranh

聞鄰家理箏
徐安貞

北斗橫天夜欲闌,
愁人倚月思無端。
忽聞畫閣秦箏逸,
知是鄰家趙女彈。
曲成虛憶青蛾斂,
調急遙憐玉指寒。
銀鎖重關聽未闢,
不如眠去夢中看。

Văn lân gia lý tranh

Từ An Trinh

Bắc đẩu hoành thiên dạ dục lan,
Sầu nhân ỷ nguyệt tứ vô đoan.
Hốt văn họa các Tần tranh dật,
Tri thị lân gia Triệu nữ đàn.
Khúc thành hư ức thanh nga liễm,
Điệu cấp dao lân ngọc chỉ hàn.
Ngân thược trùng quan, thính vị tịch,
Bất như miên khứ mộng trung khan.

Văn gia lân lý tranh

Bắc đẩu ngang trời, đêm cạn hơn
Tựa trăng nghĩ vẩn, dạ xao buồn
Chợt nghe gác vẽ đàn Tần vọng
Đã biết lầu bên gái Triệu buông
Khúc vẹn, tưởng mày chau nét liễu
Điệu nhanh, e ngón buốt tê hồn
Lắng nghe, khoá bạc sao chưa mở?
Thử ngủ! trong mơ gặp mặt không?
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)
*


TRƯƠNG HÚC
Đào hoa khê

張旭

桃花谿

隱隱飛橋隔野煙,
石磯西畔問漁船;
桃花盡日隨流水,
洞在清谿何處邊?

Đào hoa khê

Ẩn ẩn phi kiều cách dã yên,
Thạch ky tây bạn vấn ngư thuyền
Đào hoa tận nhật tùy lưu thủy
Động tại thanh khê hà xứ biên

Đào hoa khê

Cầu treo thấp thoáng khói đồng
Bên ghềnh Tây, hỏi ngư ông đâu rồi?
Suốt ngày nước chảy hoa trôi
Suối trong dấu động ở nơi mé nào?
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)


TRƯƠNG NHƯỢC HƯ
Xuân giang hoa nguyệt dạ

春江花月夜

张若虚

  春江潮水连海平,海上明月共潮生。
  滟滟随波千万里,何处春江无月明。
  江流宛转绕芳甸,月照花林皆似霰。
  空里流霜不觉飞,汀上白沙看不见。
  江天一色无纤尘,皎皎空中孤月轮。
  江畔何人初见月,江月何年初照人。
  人生代代无穷已,江月年年只相似。
  不知江月待何人,但见长江送流水。
  白云一片去悠悠,青枫浦上不胜愁。
  谁家今夜扁舟子,何处相思明月楼。
  可怜楼上月裴回,应照离人妆镜台。
  玉户帘中卷不去,捣衣砧上拂还来。
  此时相望不相闻,愿逐月华流照君。
  鸿雁长飞光不度,鱼龙潜跃水成文。
  昨夜闲潭梦落花,可怜春半不还家。
  江水流春去欲尽,江潭落月复西斜。
  斜月沉沉藏海雾,碣石潇湘无限路。
  不知乘月几人归,落月摇情满江树。


Xuân giang hoa nguyệt dạ

Xuân giang triều thủy liên hải bình,
Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh.
Diễm diễm tùy ba thiên vạn lý,
Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh.

Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện,
Nguyệt chiếu hoa lâm giai như tiển.
Không lý lưu sương bất giác phi,
Đính thượng bạch sa khan bất kiến.

Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần,
Hạo hạo không trung cô nguyệt luân.
Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt ?
Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân ?

Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,
Giang nguyệt niên niên vọng tương tự.
Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân,
Đãn kiến trường giang tống lưu thủy.

Bạch vân nhất phiến khứ du du,
Thanh phong giang thượng bất thăng sầu.
Thùy gia kim dạ biên chu tử,
Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu ?

Khả liên lâu thượng nguyệt bồi hồi,
Ưng chiếu ly nhân trang kính đài.
Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ,
Đảo y châm thượng phất hoàn lai.

Thử thời tương vọng bất tương văn,
Nguyệt trục nguyệt hoa lưu chiếu quân.
Hồng nhạn trường phi quang bất độ,
Ngư long tiềm dược thủy thành văn.

Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa,
Khả liên xuân bán bất hoàn gia.
Giang thủy lưu xuân khứ dục tận,
Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà.

Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ,
Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ.
Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân qui,
Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ.

Xuân giang hoa nguyệt dạ

Triều lên ngang mặt sông xuân
Biển đêm, trăng cũng sáng ngần sóng xô
Sóng xô lấp loáng xa mờ
Trăng xuân ăm ắp ngập bờ sông xanh
Cồn hương sông lượn vòng quanh
Rừng hoa trăng chiếu, hoa thành tuyết phơi.
Từng không sương tựa không trôi
Bãi sông trắng cát, ai người nhận ra?
Trời, sông trong suốt chan hòa
Trên không trăng sáng, chỉ là trăng thôi.
Ai nhìn trăng trước, trăng ơi!
Hỏi trăng rọi xuống kiếp người khi nao?
Người sinh mãi, đến khi nào?
Trăng năm năm, vẫn dạt dào trên sông
Trăng soi ai? Khó hiểu lòng
Sông dài chỉ thấy đưa dòng nước xuôi
Vẩn vơ mây trắng vờn trôi
Cây phong xanh, lá buồn rơi bên bờ
Đêm nay ai dạo thuyền thơ
Lầu trăng ai đó tương tư lặng ngồi
Thương vầng trăng cũng bồi hồi
Chiếu đài gương, rọi cảnh người biệt ly
Rèm châu cuốn, trăng nào đi
Lau đá đập áo, lầm lì trăng soi
Chung vầng trăng, lẻ chỗ ngồi
Nguyện theo trăng, chiếu sáng người viễn phương
Chở trăng, hồng nhạn khó tường
Cá rồng lặn nhảy chỉ vương sóng ngầm
Đêm qua mơ thấy hoa tàn
Thương người đi, nửa mùa xuân chưa về
Cũng đành nước cuốn xuân đi
Trăng tàn trên bãi, trăng về mái Tây
Trăng chìm mặt bể sương đầy
Dòng Tương, đỉnh Kiệt dạn dày thẳm không
Theo trăng mấy kẻ về cùng?
Trăng tàn, sóng gợn đến rùng mình cây.
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)

Tương Tiến Tửu

Lý Bạch


將進酒

李白

君不見黃河之水天上來,
奔流到海不復回。
又不見高堂明鏡悲白髮,
朝如青絲暮成雪。
人生得意須盡歡,
莫使金樽空對月。
天生我材必有用,
千金散盡還復來。
烹羊宰牛且為樂,
會須一飲三百杯。
岑夫子,丹丘生,
將進酒,君莫停。
與君歌一曲,
請君為我側耳聽。
鐘鼓饌玉不足貴,
但願長醉不願醒。
古來聖賢皆寂寞,
惟有飲者留其名。
陳王昔時宴平樂,
斗酒十千恣歡謔。
主人何為言少錢,
徑須沽取對君酌。
五花馬,千金裘,
呼兒將出換美酒,
與爾同銷萬古愁。

Tương Tiến Tửu

Lý Bạch

Quân bất kiến
Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi!
Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát,
Triêu như thanh ti mộ thành tuyết.
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt!
Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng,
Thiên kim tán tận hoàn phục lai.
Phanh dương tể ngưu thả vi lạc,
Hội tu nhất ẩm tam bách bôi.
Sầm phu tử,
Đan Khâu sinh.
Tương tiến tửu,
Quân mạc đình!
Dữ quân ca nhất khúc,
Thỉnh quân vị ngã trắc nhĩ thính.
Chung cổ soạn ngọc bát túc quý,
Đãn nguyện trường túy bất nguyện tỉnh!
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.
Trần Vương tích thời yến Bình Lạc,
Đẩu tửu thập thiên tứ hoan hước.
Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền,
Kính tu cô thủ đối quân chước.
Ngũ hoa mã,
Thiên kim cừu,
Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu,
Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu.

Dịch thơ:
Bạn chẳng thấy nước Hoàng hà từ trên trời tuôn xuống
Cuồn cuộn trôi nhanh ra bể chẳng quay về?
Lại chẳng thấy gương sáng lầu cao rọi mối sầu tóc trắng?
Buổi sớm xanh tơ, chiều như tuyết ơ hờ!

Khi đắc ý, người ơi! nên vui trọn
Đừng để chén vàng trơ cạn dưới trăng mơ
Trời sinh ra ta, tất không là vô dụng
Tiêu hết nghìn vàng, rồi lại có, không lo

Hãy vui lên! Dê đã mổ và trâu bò đã giết
Uống một mạch thôi, ba trăm chén mới hào!
Bác Sầm hỡi! anh Đan ơi! có biết
Rượu sắp dâng rồi! có dừng lại được đâu!

Đã vì bạn, ngại ngần chi? Ta cứ hát
Hãy vì ta, bạn hãy lắng tai nghe
Cỗ tiệc lớn, trống chuông rền, đâu đáng quý
Ta muốn say tuý luý, tỉnh mà chi?

Các bậc Thánh hiền xưa đều vắng ngắt
Duy chỉ còn kẻ uống rượu mới lưu danh
Thời trước Trần Vương yến cung Bình Lạc
Một đấu rượu vạn đồng, mặc sức uống thâu canh

Này chủ nhân ơi! Tiền làm sao thiếu được?
Mua rượu mau! Để nâng chén cùng nhau
Ngựa ngũ sắc, áo lông cừu quý giá
Đổi rượu đi con! ta phá vạn cổ sầu!
Nguyễn Lãm Thắng (dịch)

CAO THÍCH
Yên Ca hành

高適

燕歌行並序

開元二十六年,客有從御史大夫張公出塞而還者, 作燕歌行以示適,感征戍之事,因而和焉。

漢家煙塵在東北, 漢將辭家破殘賊。
男兒本自重橫行, 天子非常賜顏色。
摐金伐鼓下榆關, 旌旆逶迤碣石間。
校尉羽書飛瀚海, 單于獵火照狼山。
山川蕭條極邊土, 胡騎憑陵雜風雨。
戰士軍前半死生, 美人帳下猶歌舞。
大漠窮秋塞草衰, 孤城落日鬥兵稀。
身當恩遇常輕敵, 力盡關山未解圍。
鐵衣遠戍辛勤久, 玉筋應啼別離後。
少婦城南欲斷腸, 征人薊北空回首。
邊庭飄颻那可度? 絕域蒼茫更何有?
殺氣三時作陣雲, 寒聲一夜傳刁斗。
相看白刃血紛紛, 死節從來豈顧勳。
君不見沙場征戰苦? 至今猶憶李將軍。

Yên ca hành

Hán gia yên trần tại đông bắc,
Hán tướng từ gia phá tàn tặc.
Nam nhi bản tự trọng hoành hành,
Thiên tử phi thường tứ nhan sắc.
Song kim phạt cổ hạ Du Quan,
Tinh kỳ uy di Kiệt Thạch gian.
Hiệu úy vũ thư phi hãn hải,
Thiền Vu lạp hỏa chiếu Lang Sơn.
Sơn xuyên tiêu điều cực biên thổ,
Hồ kỵ bằng lăng tạp phong vũ.
Chiến sĩ quân tiền bán tử sinh,
Mỹ nhân trướng hạ do ca vũ.
Đại mạc cùng thu tái thảo suy,
Cô thành lạc nhật đấu binh hy.
Thân đương ân ngộ thường khinh địch,
Lực tận quan sơn vị giải vi.
Thiết y viễn thú tân cần cửu,
Ngọc trợ ưng đề biệt ly hậu.
Thiếu phụ thành nam dục đoạn trường,
Chinh nhân Kế Bắc không hồi thủ.
Biên đình phiêu dao na khả độ,
Tuyệt vực thương mang cánh hà hữu.
Sát khí tam thời tác trận vân,
Hàn thanh nhất dạ truyền điêu đẩu.
Tương khan bạch nhận tuyết phân phân,
Tử tiết tòng lai khởi cố huân !
Quân bất kiến sa trường chinh chiến khổ,
Chí kim do ức Lý tướng quân.

Dịch thơ:
Yên ca hành

Đông Bắc Hán nổi cơn lửa loạn
Tướng xa nhà dẹp nạn đao binh
Nam nhi trọng chí tung hoành
Cho thiên tử cũng nể danh phi thường

Khua chiêng trống, Du Quan xuống dẹp
Cờ lượn quanh núi Kiệt trập trùng
Lệnh quân giữa trận bão bùng
Lửa Thiền Vu, sáng một vùng núi Lang

Cảnh xơ xác ngập tràn biên trấn
Kỵ binh Hồ lướt trận gió mưa
Trận tiền sống chết như đùa
Mỹ nhân dưới trướng muốt mùa múa ca

Chốn sa mạc thu nhòa chân cỏ
Thành trơ vơ, bóng thỏ buồn lây
Chịu ơn, khinh lũ giặc choai
Sức tàn, chưa giải vòng vây quan hà

Khoác áo sắt, đường xa bao khổ
Sau biệt ly, lệ rỏ tuôn dòng
Thành Nam thiếu phụ mong chồng
Chinh phu đất Kế mỏi trông tin nhà

Chốn biên đình càng xa hiu hắt
Cõi mênh mông, se sắt buồn thay!
Ba mùa tử khí thành mây
Lạnh lùng tiếng mỏ đêm dài cầm canh

Nhìn lưỡi kiếm bên thành phủ tuyết
Xưa nay ai, tử tiết ghi công?
Sa trường gian khổ, thấy không?
Đến nay còn nhớ anh hùng Lý xưa.

Nguyễn Lãm Thắng (dịch)



***
*

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.