Nov 15, 2019

Đường thi Trung Quốc

Đằng Vương các tự - 滕王閣序
Vương Bột - 王勃 (649 - 675) * đăng lúc 07:03:42 AM, Feb 11, 2011 * Số lần xem: 6878
Hình ảnh
Dang Vuong Cat Tu
#1

Thể thơ: Thể loại bài từ (thời kỳ: Sơ Đường)

滕王閣序

南昌故郡,洪都新府。
星分翼軫,地接衡廬。
襟三江而帶五湖,控蠻荊而引甌越。
物華天寶,龍光射牛鬥之墟;
人傑地靈,徐稚下陳蕃之榻。
雄州霧列,俊采星馳,
臺隍枕夷夏之交,賓主盡東南之美。
都督閻公之雅望,綮戟遙臨;
宇文新州之懿范,襜帷暫駐。
十旬休暇,勝友如雲;
千里逢迎,高朋滿座。
騰蛟起鳳,孟學士之詞宗;
紫電青霜,王將軍之武庫。
家君作宰,路出名區;
童子何知,躬逢勝餞。

時維九月,序屬三秋。
潦水盡而寒潭清,煙光凝而暮山紫。
儼驂騑於上路,訪風景于崇阿。
臨帝子之長洲,得仙人之舊館。
層臺聳翠,上出重霄;
飛閣流丹,下臨無地。
鶴汀鳧渚,窮島嶼之縈回;
桂殿蘭宮,列岡巒之體勢。
披繡闥,俯雕甍,
山原曠其盈視,川澤盱其駭矚。
閭閻撲地,鍾鳴鼎食之家;
舸艦迷津,青雀黃龍之軸。
虹銷雨霽,彩徹雲衢。
落霞與孤鶩齊飛,秋水共長天一色。
漁舟唱晚,響窮彭蠡之濱;
雁陣驚寒,聲斷衡陽之浦。

遙襟俯暢,逸興遄飛。
爽籟發而清風生,纖歌凝而白雲遏。
淇園綠竹,氣淩彭澤之樽;
鄴水朱華,光照臨川之筆。
四美具,二難并。
窮睇眄于中天,極娛遊於暇日。
天高地迥,覺宇宙之無窮;
興盡悲來,識盈虛之有數。
望長安于日下,指吳會於雲間。
地勢極而南溟深,天柱高而北辰遠。
關山難越,誰悲失路之人?
萍水相逢,盡是他鄉之客。
懷帝閽而不見,奉宣室以何年?

嗟乎!
時運不濟,命途多舛。
馮唐易老,李廣難封。
屈賈誼于長沙,非無聖主;
竄梁鴻于海曲,豈乏明時。
所賴君子安貧,達人知命。
老當益壯,寧知白首之心?
窮且益堅,不墜青雲之志。
酌貪泉而覺爽,處涸轍以猶歡。
北海雖賒,扶搖可接;
東隅已逝,桑榆非晚。
孟嘗高潔,空懷報國之心;
阮籍倡狂,豈效窮途之哭!

勃三尺微命,一介書生。
無路請纓,等終軍之弱冠;
有懷投筆,慕宗愨之長風。
舍簪笏於百齡,奉晨昏於萬里。
非謝家之寶樹,接孟氏之芳鄰。
他日趨庭,叨陪鯉對;
今晨捧袂,喜托龍門。
楊意不逢,撫淩雲而自惜;
鍾期既遇,奏流水以何慚?

嗚呼!
勝地不常,盛筵難再。
蘭亭已矣,梓澤丘墟。
臨別贈言,幸承恩於偉餞;
登高作賦,是所望於群公。
敢竭鄙誠,恭疏短引。
一言均賦,四韻俱成。
請灑潘江,各傾陸海雲爾。

滕王高閣臨江渚,
佩玉鳴鸞罷歌舞。
畫棟朝飛南浦雲,
珠帘暮捲西山雨。
閒雲潭影日悠悠,
物換星移幾度秋。
閣中帝子今何在?
檻外長江空自流。
Đằng Vương các tự

Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ.
Tinh phân Dực Chẩn, địa tiếp Hành Lư.
Khâm tam giang nhi đới ngũ hồ, khống Man Kinh nhi dẫn Âu Việt.
Vật hoa thiên bảo, long quang xạ Ngưu Đẩu chi khư;
Nhân kiệt địa linh, Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp.
Hùng châu vụ liệt, tuấn thái tinh trì,
Đài hoàng chẩm Di Hạ chi giao, tân chủ tận đông nam chi mỹ.
Đô đốc Diêm công chi nhã vọng, khể kích dao lâm;
Vũ Văn tân châu chi ý phạm, xiêm duy tạm trú.
Thập tuần hưu hạ, thắng hữu như vân;
Thiên lý phùng nghinh, cao bằng mãn toạ.
Đằng giao khởi phụng, Mạnh học sĩ chi từ tông;
Tử điện thanh sương, Vương tướng quân chi võ khố.
Gia quân tác tể, lộ xuất danh khu;
Đồng tử hà tri, cung phùng thắng tiễn.

Thời duy cửu nguyệt, tự thuộc tam thu.
Lạo thuỷ tận nhi hàn đàm thanh, yên quang ngưng nhi mộ sơn tử.
Nghiễm tham phi ư thượng lộ, phỏng phong cảnh vu sùng a.
Lâm đế tử chi Trường Châu, đắc tiên nhân chi cựu quán.
Tằng đài tủng thuý, thượng xuất trùng tiêu;
Phi các lưu đan, hạ lâm vô địa.
Hạc đinh phù chử, cùng đảo tự chi oanh hồi;
Quế điện lan cung, liệt cương loan chi thể thế.
Phi tú thát, phủ điêu manh,
Sơn nguyên khoáng kỳ doanh thị, xuyên trạch hu kỳ hãi chúc.
Lư diêm phác địa, chung minh đỉnh thực chi gia;
Khả hạm mê tân, thanh tước hoàng long chi trục.
Hồng tiêu vũ tễ, thái triệt vân cù.
Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.
Ngư chu xướng vãn, hưởng cùng Bành Lễ chi tân;
Nhạn trận kinh hàn, thanh đoạn Hành Dương chi phố.

Dao khâm phủ sướng, dật hứng thuyên phi.
Sảng lại phát nhi thanh phong sinh, tiêm ca ngưng nhi bạch vân át.
Kỳ Viên lục trúc, khí lăng Bành Trạch chi tôn;
Nghiệp thuỷ châu hoa, quang chiếu Lâm Xuyên chi bút.
Tứ mỹ cụ, nhị nan tinh.
Cùng thê miện vu trung thiên, cực ngu du ư hạ nhật.
Thiên cao địa huýnh, giác vũ trụ chi vô cùng;
Hứng tận bi lai, thức doanh hư chi hữu số.
Vọng Trường An vu nhật hạ, chỉ Ngô Hội ư vân gian.
Địa thế cực nhi nam minh thâm, thiên trụ cao nhi bắc thần viễn.
Quan san nan việt, thuỳ bi thất lộ chi nhân ?
Bình thuỷ tương phùng, tận thị tha hương chi khách.
Hoài đế hôn nhi bất kiến, phụng Tuyên thất dĩ hà niên ?

Ta hồ!
Thời vận bất tế, mệnh đồ đa suyễn.
Phùng Đường dị lão, Lý Quảng nan phong.
Khuất Giả Nghị vu Trường Sa, phi vô thánh chủ;
Thoán Lương Hồng vu Hải Khúc, khởi phạp minh thời.
Sở lại quân tử an bần, đạt nhân tri mệnh.
Lão đương ích tráng, ninh tri bạch thủ chi tâm ?
Cùng thả ích kiên, bất truỵ thanh vân chi chí.
Chước Tham tuyền nhi giác sảng, xử hạc triệt dĩ do hoan.
Bắc hải tuy xa, phù dao khả tiếp;
Đông ngung dĩ thệ, tang du phi vãn.
Mạnh Thường cao khiết, không hoài báo quốc chi tâm;
Nguyễn Tịch xướng cuồng, khởi hiệu cùng đồ chi khốc!

Bột tam xích vi mệnh, nhất giới thư sinh.
Vô lộ thỉnh anh, đẳng Chung Quân chi nhược quán;
Hữu hoài đầu bút, mộ Tông Xác chi trường phong.
Xả trâm hốt ư bách linh, phụng thần hôn ư vạn lý.
Phi Tạ gia chi bảo thụ, tiếp Mạnh thị chi phương lân.
Tha nhật xu đình, thao bồi Lý đối;
Kim thần phủng duệ, hỉ thác Long môn.
Dương Ý bất phùng, phủ Lăng vân nhi tự tích;
Chung Kỳ ký ngộ, tấu lưu thuỷ dĩ hà tàm ?

Ô hô!
Thắng địa bất thường, thịnh diên nan tái.
Lan Đình dĩ hĩ, Tử Trạch khâu khư.
Lâm biệt tặng ngôn, hạnh thừa ân ư vĩ tiễn;
Đăng cao tác phú, thị sở vọng ư quần công.
Cảm kiệt bỉ thành, cung sơ đoản dẫn.
Nhất ngôn quân phú, tứ vận câu thành.
Thỉnh sái Phan giang, các khuynh lục hải vân nhĩ.

Đằng Vương cao các lâm giang chử,
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ.
Hoạ đống triêu phi Nam Phố vân,
Châu liêm mộ quyển Tây Sơn vũ.
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di kỷ độ thu.
Các trung đế tử kim hà tại ?
Hạm ngoại trường giang không tự lưu.
----


Bài tự về gác Đằng Vương (Người dịch: Trần Trọng San)

(Đây là) quận cũ Nam Xương; phủ mới Hồng Đô.
Sao chia ngôi Dực, ngôi Chẩn; đất nối núi Hành, núi Lư.
Như cổ áo của ba sông, vòng đai của năm hồ; khuất phục đất Man Kinh, tiếp dẫn miền Âu Việt.
Vẻ rực rỡ của vật chính là đồ quý báu của trời; ánh sáng vằn rồng chiếu lên khu vực sao Đẩu sao Ngưu.
Bậc hào kiệt nơi người do khí linh tú của đất mà có; nhà cao sĩ Từ Trĩ hạ chiếc giường treo của Trần Phồn.
Chốn hùng châu như sương mù giải giăng; nguời anh tuấn như ngôi sao rong ruổi.
Đài, hào nằm gối lên giao giới vùng Di, Hạ; khách, chủ đều là những vẻ đẹp miền đông, nam.
Tiếng tăm tốt của đô đốc Diêm Bá Tự cùng với những khải kích đi đến miền xa.
Quan thái thú Vũ Văn Quân, là mô phạm của châu mới, tạm dừng xe tại chốn này.
Mười tuần nhàn rỗi, bạn tốt như mây.
Ngàn dặm đón chào, bạn hiền đầy chỗ.
Giao long vượt cao, phụng hoàng nổi dậy, đó là tài hoa của Mạnh học sĩ, ông tổ của từ chương.
Tia chớp tía, hạt sương trong, đó là tiết tháo của Vương tướng quân, nhà cai quản võ khố.
Nhân gia quân làm quan tể tại Giao Châu, tôi đi thăm miền nổi tiếng đó.
Kẻ đồng tử này đâu biết có việc chi, hân hạnh gặp buổi tiệc linh đình.

Lúc này đương là tháng chín, thuộc về ba thu.
Nước rãnh cạn, đầm lạch trong; ánh khói đọng, núi chiều tia.
Trông ngựa xe trên đường cái; hỏi phong cảnh nơi gò cao.
Đến miền Trường Châu của đế tử; tìm được quán cũ của người tiên.
Núi non cao biếc, nhô khỏi lớp mây; bóng gác bay, màu son chày, dưới không sát đất.
Bến hạc, bãi phù quanh co đến tận đảo cồn; điện quế, cung lan bày ra cái thể thế của núi non.
Mở rộng cửa tô; cúi xem cột chạm.
Đồng núi trông rộng khắp; sông đầm nhìn hãi kinh.
Cửa ngõ giăng mặt đất, đó là những nhà rung chuông, bày vạc.
Thuyền bè chật bến sông, trục vẽ chim sẻ xanh, rồng vàng.
Cầu vồng tan, cơn mưa tạnh; vẻ rực sáng, suốt đường mây.
Ráng chiều rơi xuống, cùng cái cò đơn chiếc đều bay; làn nước sông thu với bầu trời kéo dài một sắc.
Thuyền câu hát ban chiều, tiếng vang đến bến Bành Lễ.
Bầy nhạn kinh giá rét, tiếng kêu dứt bờ Hành Dương.

Khúc ngâm xa xôi sảng khoái; hứng thú phiêu dật bay nhanh.
Tiếng vui phát sinh, gió mát nổi dậy; ca nhẹ lắng chìm, mây trắng lưu lại.
Tre lục vườn Kỳ, khí lan chén rượu Bành Trạch.
Sắc đỏ sông Nghiệp, ánh soi ngọn bút Lâm Xuyên.
Sẵn bốn điều hay; đủ hai bậc tốt.
Ngắm trông khắp cả khoảng trời; vui chơi hết ngày nhàn rỗi.
Trời cao, đất xa, biết vũ trụ rộng vô cùng.
Hứng hết, buồn về, hiểu đầy vơi là có số.
Trông Trường An dưới mặt trời; trỏ Ngô Hội trong khoảng mây.
Thế đất tận cùng, biển Nam sâu thẳm; cột trời cao ngất, sao Bắc xa xôi.
Quan san khó vượt, nào ai sót thương người lạc lối ?
Bèo nước gặp nhau, hết thảy đều là khách tha hương.
Tưởng nhớ chốn cửa vua, không trông thấy được; phụng chiếu nơi Tuyên Thất, chẳng biết năm nào.

Than ôi!
Thời vận chẳng bình thường; đường đời nhiều ngang trái.
Phùng Đường dễ thành già cả; Lý Quảng khó được phong hầu.
Giả Nghị bị khuất nơi Trường Sa, chẳng phải không vua hiền thánh.
Lương Hồng phái náu miền Hải Khúc, đâu có thiếu thời quang minh.
Nhờ được: người quân tử vui cảnh nghèo; bậc đạt nhân biết rõ mệnh.
Tuổi già càng phải mạnh hơn, nên hiểu lòng ông đầu bạc.
Lúc cùng hãy nên thêm vững, không rớt chí đường mây xanh.
Uống nước suối Tham, lòng vẫn sáng; ở nơi cùng khổ, bụng còn vui.
Biển bắc tuy xa xôi, nhưng cưỡi gió có thể đi tới.
Đã để trôi qua lúc mặt trời mọc ở phương đông, nhưng khi bóng lặn khóm tang du, phải đâu đã muộn.
Mạnh Thường thanh cao, vẫn mang tấm lòng báo quốc.
Nguyễn Tịch rồ dại, há bắt chước tiếng khóc đường cùng.

Bột này là đứa nhỏ cao ba thước, một gã học trò.
Không có đường xin dải dây dài, như tuổi niên thiếu của Chung Quân.
Nhưng có hoài bão vứt cây bút, yêu mến cơn gió dài của Tông Xác.
Bỏ rơi trâm hốt ở trăm năm; theo việc thần hôn ngoài vạn dặm.
Tuy không phải là cây báu nhà họ Tạ; nhưng được ở gần hàng xóm tốt của họ Mạnh.
Ngày sau, tôi sẽ rảo bước trước sân, lạm phụ thêm lời đối đáp của ông Lý.
Sớm nay, nâng tay áo, vui mừng được gửi gắm họ tên tại cổng rồng.
Không còn được gặp Dương Ý, nên đọc thiên lăng vân mà tự tiếc.
Nhưng đã gặp Chung Kỳ, thì tấu khúc lưu thuỷ có hổ thẹn gì.

Than ôi!
Chốn danh thắng chẳng thường tồn tại; bữa tiệc lớn khó gặp hai lần.
Lan Đình còn đâu nữa, Tử Trạch thành gò hoang.
Hân hạnh được thừa ân Diêm công trong bữa tiệc vĩ đại này, tôi viết lời tặng khi lâm biệt.
Còn như lên cao làm phú, đó là việc mong mỏi nơi các ông.
Xin dốc lòng thành quê kệch; cung kính làm bài tự ngắn.
Trước ngỏ một lời, sau bày tình ý; đồng thời bốn vận đều xong.
Mời rảy nước sông Phan, cùng làm cho nghiêng mây trong đất liền lẫn mây ngoài biển vậy.

Bên sông, đây gác Đằng Vương.
Múa ca đã tắt, ngọc vàng nào ai ?
Cột rồng Nam Phố mây bay.
Rèm châu mưa cuốn ngàn Tây, sớm chiều.
In đầm, mây vẩn vơ trôi.
Tang thương vật đổi, sao dời mấy thâu.
Đằng vương trong gác giờ đâu ?
Trường Giang nước vẫn chảy mau mé ngoài.

****

Dịch nghĩa :

* Con vua Đường Cao Tổ là Nguyên Anh được phong là Đằng Vương, xây cất gác này khi nhận chức thứ sử tại Hồng Châu. Năm Hàm Thuần thứ hai, thứ sử Hồng Châu là Diêm Bá Tự mở đại yến ở đây, sai con rể là Ngô Tử Chương chuẩn bị trước một bài tự để mang ra khoe với tân khách. Trong bữa tiệc, họ Diêm sai đem giấy bút ra mời khách làm văn, nhưng không ai dám nhận. Duy có Vương Bột không từ chối. Họ Diêm sai người ngó bài của Vương Bột. Khi được nghe đến câu "Lạc hà dữ cô vụ tề phi" thì thán phục, khen là thiên tài, bèn thỉnh cầu Vương Bột tiếp tục hoàn thành bài tự.

Nay là phủ Nam Xương, tỉnh Giang Tây.
Tức Nam Xương. Vì nhà Tuỳ đặt Hồng Châu tại đây, nên có tên này.
Hai ngôi sao thuộc địa phận nước Sở. Đất Sở và Nam Xương xa cách nhau, nên dùng các tiếng này để nói sự xa xôi.
Tên hai ngọn núi. Hành Sơn ở phía tây nam, Lư Sơn ở phía bắc Nam Xương.
Ba con sông: Kinh Giang, Tùng Giang, Chiết Giang.
Năm hồ: Thái, Phan Dương, Thanh Thảo, Đan Dương, Động Đình.
Vì đất Kinh Sở thuộc về khu vực nam man, nên gọi là Man Kinh.
Tại Tào thành, có hai thanh kiếm tên là Can Tương và Mạc Gia. Đây nói ánh sáng của vằn con rồng khắc trên hai thanh kiếm đó.
Từ Trĩ người đất Dự Châu, đời Hán, là bậc cao sĩ đất Hồng Châu. Trần Phồn là thái thú đất Dự Chương. Trần Phồn có cái giường chỉ dành riêng tiếp đón Từ Trĩ, khi Từ Trĩ đi lại treo giường lên.
Một quận lớn.
Tức đất Kinh Sở và miền Trung Hạ.
Do thành ngữ "Đông kim, nam tiễn chi mỹ": vẻ đẹp của vàng phương đông, tên miền bắc.
Còn gọi là khải kích, cái kích có bọc lụa đỏ hay đen. Thời xưa khi các quan xuất hành, thường có các khải kích đi đằng trước.
Tức Vũ Văn Quân, vừa nhậm chức mục tại Phong Châu, nhân đi qua đây, có dự tiệc tại Đằng Vương các.
Ví với tài hoa của người.
Ví với tiết tháo của người.
Tức Mạnh Tuyền, một vị khách hữu danh trong bữa tiệc.
Không biết rõ tên.
Thời xưa, những nhà giàu sang thường bày đỉnh mà ăn và đánh chuông trong bữa ăn.
Tức là phố Phàn Dương.
Phía nam núi Hành Sơn, có ngọn tên là Hồi Nhạn Phong, những con chim nhạn không bay qua nổi ngọn núi này.
Tên đất thuộc tỉnh Hồ Bắc. Miền này có loại trúc đẹp, ví với cái đức của người quân tử.
Khi làm quan lệnh tại huyện Bành Trạch, Đào Tiềm thường bày tiệc rượu đãi khách.
Nghiệp thuỷ là nơi khởi nghiệp của họ Tào. Thơ Tào Thực có câu "Châu hoa mạo lục trì" (sắc đỏ phủ lên ao màu lục).
Vương Hy Chi đời Tấn có tài viết chữ, từng làm chức nội sử tại Lâm Xuyên.
Tức là lương thần, mỹ cảnh, thưởng tâm, lạc sự (trời tốt, cảnh đẹp, lòng mừng, việc vui).
Chỉ chủ và khách đều là người tốt.
Tức là thành huyện Ngô, tỉnh Giang Tô.
Theo Thần dị kinh, ở núi Côn Luân có cột đồng rất cao, nên gọi là cột trời.
Tức là chính điện của cung Vị Ương đời Hán, nơi Giả Nghị phụng chiếu trả lời về vấn đề nguồn gốc quỷ thần.
Người đất An Lâm, làm chức xa kỵ đô uý đời Hán Văn Đế.
Là một danh tướng đời Hán Võ Đế, nhưng không được phong hầu.
Người đời Hán Văn Đế, bị dèm pha, phái trích ra làm thái phó tại Trường Sa.
Người đời Nguỵ, lấy làm hổ thẹn vì phải tôn thờ những người quyền quý, nên trốn sang ẩn náu tại miền Hải Khúc thuộc nước Đông Ngô.
Cách Quảng Châu hai chục dặm, có một cái suối tên là Tham tuyền (suối tham). Các cố lão nói rằng nếu uống nước suối đó thì người liêm cũng thành ra tham. Đời Tấn, Ngô Ẩn làm thứ sử Quảng Châu, có thơ như sau: "Cổ nhân ngôn thử thuỷ, Nhất sáp hoài thiên kim. Thí sử Di Tề ẩm, Chung dương bất tịch tâm" (Người đời xưa nói rằng dòng nước này, uống một lần thì nghĩ đến ngàn vàng, giả sử các ông Bá Di, Thúc Tề có uống, rốt cuộc cũng không thay đổi lòng).
Dấu bánh xe khô cạn, ví với cảnh khốn cùng.
Làn gió mạnh thổi từ dưới lên trên.
Mạnh Thường tự là Bá Chu. Đời Hán Thuận Đế, làm chức thái thú tại Hợp Phố, tính tình rất cao khiết.
Người đời Tấn, phóng đãng, thích uống rượu.
Năm 22 tuổi, Chung Quân xin vua Hán ban cho dải dây dài để đi trói Nam Việt Vương đem về.
Người thời Nam Bắc triều, tự là Nguyên Cán. Lúc nhỏ người chú hỏi chí của Xác, Xác trả lời rằng "Nguyện thừa trường phong phá vạn lý lãng" (Muốn cưỡi cơn gió dài đẻ phá làn sóng muôn dặm).
Trâm và hốt là đồ dùng của các quan.
Tạ Nguyên được chú là An quý trọng. Nguyên nói rằng: "Ví như những cây ngọ chi lan, nên để cho mọc tại bậc thềm sàn". Người đời sau dùng câu này để nói về các con em tốt.
Bà Mạnh mẫu ba lần dời nhà để chọn hàng xóm tốt cho con là Mạnh Tử.
Sách Luận ngữ chép rằng: "Ông Lý (Ba Ngư) khi đi qua sân, có trả lời đức Khổng Tử về việc học Kinh thi, Kinh lễ". Ông Lý là con của Khổng Tử.
Lý Ưng là một bậc cao sĩ đời Hán. Những người được Lý Ưng tiếp, cho là được hân hạnh đến cổng rồng.
Tức Dương Đắc Ý, người tiến cử Tư mã Tương Như lên vua Hán Võ Đế.
Tên bài phú do Tư mã Tương Như làm ra.
Người nước Sở, thời Xuân Thu, giỏi thẩm định tiếng đàn.
Bá Nha gảy đàn, để chí vào dòng nước chảy. Chung Kỳ nói rằng: "Tiếng đàn dâng cao như nước sông".
Đình này ở phía tây nam huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, là nơi Vương Hy Chi đời Tấn thường hội họp bạn bè.
Tức là vườn Kim Cốc, nơi có quán rượu Thạch Sùng đời Tấn.
Tên đất, ở phía tây nam huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây.
Tên núi, còn có tên là Nam Xương Sơn, thuộc tỉnh Giang Tây.

Nguồn:
Hán văn-Trần Trọng San

 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.