Aug 18, 2019

Cổ Thi Trung Quốc

Tiêu Trọng Khanh Thê - Đoạn I II III & IV
Khuyết Danh * đăng lúc 09:56:20 PM, Jul 14, 2017 * Số lần xem: 1717
Hình ảnh
#1

                        



Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ nhất đoạn 焦仲卿妻-第一段 • Vợ Tiêu Trọng Khanh - Đoạn 1

Thơ » Trung Quốc » Khuyết danh Trung Quốc » Nhạc phủ » Tương hoạ ca từ » Tiêu Trọng Khanh thê

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Hán

焦仲卿妻-第一段

孔雀東南飛,
五里一徘徊。
「十三能織素,
十四學裁衣,
十五彈箜篌,
十六誦詩書。
十七為君婦,
心中常苦悲。
君既為府吏,
守節情不移。
雞鳴入機織,
夜夜不得息。
三日斷五匹,
大人故嫌遲。
非為織作遲,
君家婦難為。
妄不堪驅使,
徒留無所施。
便可白公姥,
及時相遣歸。」

府吏得聞之,
堂上啟阿母:
「兒已薄祿相,
幸復得此婦。
結髮同枕席,
黃泉共為友。
共事二三年,
始爾未為久。
女行無偏斜,
何意致不厚?」
阿母謂府吏:
「何乃太區區!
此婦無禮節,
舉動自專由。
吾意久懷忿,
汝豈得自由?
東家有賢女,
自名秦羅敷。
可憐體無比,
阿母為汝求。
便可速遣之,
遣去慎莫留!」
府吏長跪告,
伏惟啟阿母:
「今若遣此婦,
終老不復取!」
阿母得聞之,
槌床便大怒:
「小子無所畏,
何敢助婦語!
吾已失恩義,
會不相從許!」

 
Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ nhất đoạn

Khổng tước đông nam phi,
Ngũ lý nhất bồi hồi.
“Thập tam năng chức tố,
Thập tứ học tài y,
Thập ngũ đàn không hầu,
Thập lục tụng Thi, Thư.
Thập thất vi quân phụ,
Tâm trung thường khổ bi.
Quân ký vi phủ lại,
Thủ tiết tình bất di.
Kê minh nhập cơ chức,
Dạ dạ bất đắc tức.
Tam nhật đoạn ngũ thất,
Đại nhân cố hiềm trì.
Phi vi chức tác trì,
Quân gia phụ nan vi.
Vọng bất kham khu sứ,
Đồ lưu vô sở thi.
Tiện khả bạch công mụ,
Cập thì tương khiển quy.”

Phủ lại đắc văn chi,
Đường thượng khởi a mẫu:
“Nhi dĩ bạc lộc tướng,
Hạnh phục đắc thử phụ.
Kết phát đồng chẩm tịch,
Hoàng tuyền cộng vi hữu.
Cộng sự nhị tam niên,
Thuỷ nhĩ vị vi cửu.
Nữ hạnh vô thiên tà,
Hà ý trí bất hậu?”
A mẫu vị phủ lại:
“Hà nãi thái khu khu!
Thử phụ vô lễ tiết,
Cử động tự chuyên do.
Ngô ý cửu hoài phẫn,
Nhữ khởi đắc tự do?
Đông gia hữu hiền nữ,
Tự danh Tần La Phu.
Khả liên thể vô tỷ,
A mẫu vi nhữ cầu.
Tiện khả tốc khiển chi,
Khiển khứ thận mạc lưu!”
Phủ lại trường quỵ cáo,
Phục duy khởi a mẫu:
“Kim nhược khiển thử phụ,
Chung lão bất phục thủ!”
A mẫu đắc văn chi,
Chuỳ sàng tiện đại nộ:
“Tiểu tử vô sở uý,
Hà cảm trợ phụ ngữ!
Ngô dĩ thất ân nghĩa,
Hội bất tương tòng hứa!”

 

Bài ca này đầu tiên được thấy trong "Ngọc đài tân vịnh" do Từ Lăng 徐陵 người nước Trần ở Nam triều biên soạn, đề là "Cổ thi vi Tiêu Trọng Khanh thê tác" 古詩為焦仲卿妻作 (Bài cổ thi làm thay vợ Tiêu Trọng Khanh), lời tự viết: "Hán mạt Kiến An trung, Lư Giang phủ tiểu lại Trọng Khanh thê Lưu thị, vị Trọng Khanh mẫu sở khiển, tự thệ bất giá. Kỳ gia bức chi, nãi một thuỷ nhi tử. Khanh văn chi, diệc tự ải ư đình thụ. Thời nhân thương chi, vi thi vân nhĩ" 漢末建安中,廬江府小吏仲卿妻劉氏,為仲卿母所遣,自誓不嫁。其家逼之,乃沒水而死。卿聞之,亦自縊於庭樹。時人傷之,為詩云爾 (Năm Kiến An đời Hán mạt, tiểu lại phủ Lư Giang là Trọng Khanh có vợ họ Lưu, vì bị mẹ Trọng Khanh đuổi, thề không tái giá. Bị nhà bức ép, nhảy xuống nước tự vẫn. Khanh nghe tin, cũng tự thắt cổ ở cây trước sân. Có người thời đó thương tâm, làm thơ thuật lại).

"Nhạc phủ thi tập" xếp bài này vào "Tạp khúc ca từ", đề là "Tiêu Trọng Khanh thê" 焦仲卿妻. Hậu nhân thường dùng câu đầu làm đề nên còn gọi là "Khổng tước đông nam phi" 孔雀東南飛.

Căn cứ vào một số phong tục và địa danh dùng trong bài thơ, như "thanh lư" được dùng trong hôn lễ chỉ có ở Bắc triều, và "Giao, Quảng" thì Quảng châu chỉ có từ đời Tam quốc, nên có thuyết cho rằng bài thơ này được viết sau năm Kiến An (196-219). Tuy nhiên, căn cứ vào phong cách toàn bài, đa số đều công nhận rằng đây là một bài dân ca đời Hán, trong quá trình lưu truyền không thể tránh khỏi bị thay đổi hoặc thêm thắt. Bài dài 1775 chữ, được chia làm bốn đoạn, là bài thơ tự sự đỉnh cao nhất cả về nghệ thuật lẫn tư tưởng trong nhạc phủ đời Hán.

Đoạn 1 kể về cuộc sống của Lan Chi khi làm dâu nhà họ Tiêu đến khi bị đuổi.

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Khổng tước đông nam bay,
Năm dặm lại bồi hồi.
“Mười ba biết dệt lụa,
Mười bốn học cắt may.
Mười lăm gảy không hầu,
Mười sáu đọc Thi, Thư.
Mười bảy về làm vợ,
Tâm sầu khổ ai bi.
Chàng thân làm phủ lại,
Thủ tiết lòng bất di.
Gà gáy ngồi dệt vải,
Đêm đêm vẫn miệt mài.
Ba ngày năm thước lụa,
Mẹ trách chẳng nhanh tay.
Nào phải thiếp dệt chậm,
Dâu nhà chàng khó thay.
Thiếp không cam sai khiến,
Ở lại làm gì đây.
Tiện cớ thưa với mẹ,
Đuổi về, đành đi ngay.”

Phủ lại vừa nghe hết,
Lên gặp mẹ giãi bày:
“Tướng của con ít lộc,
Có vợ hiền thật may.
Kết tóc cùng chăn gối,
Suối vàng chẳng chia tay.
Hai, ba năm chung sống,
Chưa thể nói là dài.
Phẩm hạnh không thiên lệch,
Sao đối xử bạc thay?”
Mẹ trả lời phủ lại:
“Ngươi nào biết gì đây!
Vợ mày vô lễ tiết,
Tự chuyên việc nhỏ to.
Từ lâu ta đã giận,
Ngươi há được tự do?
Mé đông có hiền nữ,
Tên là Tần La Phu.
Đáng yêu ai sánh được,
Ta vì ngươi đến cầu.
Nhân tiện nên sớm đuổi,
Nhất định chẳng thể lưu!”
Phủ lại quỳ gối mãi,
Cúi rạp trước mẹ thưa:
“Nếu nay mà đuổi vợ,
Đến già chẳng lấy ai!”
Mẹ nghe lời thưa thốt,
Vỗ sập giận dâng đầy:
“Tiểu tử không biết sợ,
Sao dám nói lời này!
Ta ân tình đã tuyệt,
Quyết không thể chiều mày!”


Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ nhị đoạn 焦仲卿妻-第二段 • Vợ Tiêu Trọng Khanh - Đoạn 2

Thơ » Trung Quốc » Khuyết danh Trung Quốc » Nhạc phủ » Tương hoạ ca từ » Tiêu Trọng Khanh thê

焦仲卿妻-第二段

府吏默無聲,
再拜還入戶。
舉言謂新婦,
哽咽不能語:
「我自不驅卿,
逼迫有阿母。
卿但暫還家,
吾今且報府。
不久當歸還,
還必相迎取。
以此下心意,
慎勿違吾語。」
新婦謂府吏:
「勿復重紛紜!
往昔初陽歲,
謝家來貴門。
奉事循公姥,
進止敢自專?
晝夜勤作息,
伶俜縈苦辛。
謂言無罪過,
供養卒大恩。
仍更被驅遣,
何言複來還?
妄有繡腰襦,
葳蕤自生光。
紅羅復斗帳,
四角垂香囊。
箱帘六七十,
綠碧青絲繩。
物物各自異,
種種在其中。
人賤物亦鄙,
不足迎後人。
留待作遺施,
於今無會因。
時時為安慰,
久久莫相忘。」

雞鳴外欲曙,
新婦起嚴妝。
著我繡裌裙,
事事四五通:
足下躡絲履,
頭上玳瑁光。
腰若流紈素,
耳著明月璫。
指如削蔥根,
口如含朱丹。
纖纖作細步,
精妙世無雙。
上堂謝阿母,
母聽去不止。
「昔作女兒時,
生小出野裏,
本自無教訓,
兼愧貴家子。
受母錢帛多,
不堪母驅使。
今日還家去,
念母勞家裏。」
卻與小姑別,
淚落連珠子:
「新婦初來時,
小姑始扶床,
今日被驅遣,
小姑如我長。
勤心養公姥,
好自相扶將。
初七及下九,
嬉戲莫相忘。」
出門登車去,
涕落百餘行。

府吏馬在前,
新婦車在後,
隱隱何甸甸,
俱會大道口。
下馬入車中,
低頭共耳語:
「誓不相隔卿,
且暫還家去,
吾今且赴府。
不久當還歸,
誓天不相負。」
新婦謂府吏:
「感君區區懷。
君既若見錄,
不久望君來。
君當作磐石,
妄當作蒲葦。
蒲葦紉如絲,
磐石無轉移。
我有親父兄,
性行暴如雷,
恐不任我意,
逆以煎我懷。」
舉手長勞勞,
二情同依依。

 
Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ nhị đoạn

Phủ lại mặc vô thanh,
Tái bái hoàn nhập hộ.
Cử ngôn vị tân phụ,
Ngạnh yết bất năng ngữ:
“Ngã tự bất khu khanh,
Bức bách hữu a mẫu.
Khanh đãn tạm hoàn gia,
Ngô kim thả báo phủ.
Bất cửu đương quy hoàn,
Hoàn tất tương nghênh thủ.
Dĩ thử hạ tâm ý,
Thận vật vi ngô ngữ.”
Tân phụ vị phủ lại:
“Vật phục trùng phân vân!
Vãng tích sơ dương tuế,
Tạ gia lai quý môn.
Phụng sự tuần công mụ,
Tiến chỉ cảm tự chuyên?
Trú dạ cần tác tức,
Linh sính oanh khổ tân.
Vị ngôn vô tội quá,
Cung dưỡng tốt đại ân.
Nhưng cánh bị khu khiển,
Hà ngôn phục lai hoàn?
Vọng hữu tú yêu nhu,
Uy nhuy tự sinh quang.
Hồng la phức đấu trướng,
Tứ giác thuỳ hương nang.
Tương liêm lục thất thập,
Lục bích thanh ty thằng.
Vật vật các tự dị,
Chủng chủng tại kỳ trung.
Nhân tiện vật diệc bỉ,
Bất túc nghênh hậu nhân.
Lưu đãi tác di thi,
Ư kim vô hội nhân.
Thì thì vị an uỷ,
Cửu cửu mạc tương vong.”

Kê minh ngoại dục thự,
Tân phụ khởi nghiêm trang.
Trước ngã tú giáp quần,
Sự sự tứ ngũ thông:
Túc hạ nhiếp ty lý,
Đầu thượng đại mội quang.
Yêu nhược lưu hoàn tố,
Nhĩ trước minh nguyệt đương.
Chỉ như tước thông căn,
Khẩu như hàm chu đan.
Tiêm tiêm tác tế bộ,
Tinh diệu thế vô song.
Thượng đường tạ a mẫu,
Mẫu thính khứ bất chỉ.
“Tích tác nữ nhi thì,
Sinh tiểu xuất dã lý,
Bản tự vô giáo huấn,
Kiêm quý quý gia tử.
Thụ mẫu tiền bạch đa,
Bất kham mẫu khu sử.
Kim nhật hoàn gia khứ,
Niệm mẫu lao gia lý.”
Khước dữ tiểu cô biệt,
Lệ lạc liên châu tử:
“Tân phụ sơ lai thì,
Tiểu cô thuỷ phù sàng,
Kim nhật bị khu khiển,
Tiểu cô như ngã trường.
Cần tâm dưỡng công mụ,
Hảo tự tương phù tương.
Sơ thất cập hạ cửu,
Hy hí mạc tương vong.”
Xuất môn đăng xa khứ,
Thế lạc bách dư hàng.

Phủ lại mã tại tiền,
Tân phụ xa tại hậu,
Ẩn ẩn hà điện điện,
Câu hội đại đạo khẩu.
Hạ mã nhập xa trung,
Đê đầu cộng nhĩ ngữ:
“Thệ bất tương cách khanh,
Thả tạm hoàn gia khứ,
Ngô kim thả phó phủ.
Bất cửu đương hoàn quy,
Thệ thiên bất tương phụ.”
Tân phụ vị phủ lại:
“Cảm quân khu khu hoài.
Quân ký nhược kiến lục,
Bất cửu vọng quân lai.
Quân đương tác bàn thạch,
Vọng đương tác bồ vi.
Bồ vi nhận như ty,
Bàn thạch vô chuyển di.
Ngã hữu thân phụ huynh,
Tính hạnh bạo như lôi,
Khủng bất nhiệm ngã ý,
Nghịch dĩ tiên ngã hoài.”
Cử thủ trường lao lao,
Nhị tình đồng y y.

 
Đoạn 2 kể việc Lan Chi bị đuổi và cảnh chia tay với Trọng Khanh.

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Phủ lại đành im lặng,
Bái lạy trở về phòng.
Cất lời cùng vợ nói,
Nghẹn ngào mà chẳng xong:
“Đâu phải ta muốn bỏ,
Mẹ bức bách khó hòng.
Nàng về nhà lánh tạm,
Ta lên phủ việc công.
Ít lâu rồi trở lại,
Đón nàng trở về cùng.
Cẩn trọng, lời đừng trái,
Hãy cứ tạm an lòng.”
Vợ đáp lời phủ lại:
“Xin chớ đắn đo lâu!
Năm xưa tiết xuân tới,
Lìa nhà tới làm dâu.
Hầu hạ theo lời mẹ,
Đi đứng tự ý đâu?
Ngày đêm năng làm lụng,
Một mình giữa khổ đau.
Tự nhủ không tội lỗi,
Cung dưỡng đáp ơn sâu.
Nhưng vẫn bị xua đuổi,
Còn nói trở về sao?
Thiếp còn chiếc áo gấm,
Rạng rỡ sắc hoa thêu.
Màn lụa hồng hai lớp,
Túi thơm bốn góc treo.
Hộp gương sáu bảy chục,
Tơ thắt dải xanh màu.
Mỗi vật đều một khác,
Trong từng loại xếp đều.
Người hèn vật cũng mọn,
Không đáng tiếp người sau.
Đem cho ai cũng được,
Từ nay chẳng gặp nhau.
Lòng luôn luôn tự nhủ,
Khắc ghi đến bạc đầu.”

Gà gáy, trời sắp sáng,
Vợ sửa soạn gọn gàng.
Mặc quần lụa gấm kép,
Bốn năm việc sẵn sàng:
Chân xỏ hài tơ gấm,
Trâm đồi mồi giắt đầu.
Eo thon lụa trắng thắt,
Tai cài ngọc minh châu.
Ngón trắng như hành bóc,
Miệng đỏ tựa chu đan.
Rón rén đi từng bước,
Tinh tế khó ai bằng.
Lên nhà bái biệt mẹ,
Mẹ nghe chẳng cản ngăn.
“Ngày trước thời con gái,
Sinh trưởng nơi khó khăn.
Vốn ít được dạy dỗ,
Thẹn làm dâu nhà sang.
Mẹ đưa nhiều sính lễ,
Sai khiến lại chẳng kham.
Hôm nay về nhà cũ,
Chỉ lo mẹ nhọc thân.”
Cùng em chồng từ biệt,
Châu lệ cứ rơi tràn:
“Nhớ ngày xưa chị tới,
Em đứng tựa bên giường.
Ngày hôm nay bị đuổi,
Em đã lớn ngang bằng.
Nên lo phụng dưỡng mẹ,
Bản thân tự biết chăm.
Thất tịch cùng hạ cửu,
Vui chớ quên người thân.”
Ra cửa lên xe ngựa,
Dòng lệ chảy trăm hàng.

Ngựa phủ lại đi trước,
Xe người vợ theo sau.
Lộc cộc cùng lách cách,
Đường lớn đã ra đầu.
Xuống ngựa vào xe vợ,
Ghé tai rồi khẽ nhủ:
“Thề chẳng muốn xa đâu,
Nàng tạm về nhà ở,
Ta tới phủ ít lâu.
Sẽ đón nàng trở lại,
Quyết chẳng phụ lòng nhau.”
Vợ đáp lời phủ lại:
“Đa tạ được quan tâm.
Chàng nếu còn ghi nhớ,
Mong sớm trở lại tìm.
Chàng vững như đá tảng,
Thân thiếp như cỏ lau.
Cỏ như tơ dai dẻo,
Đá tảng vững bền lâu.
Nhưng thiếp có huynh trưởng,
Tính nóng như sấm sét.
E chẳng tin lời thiếp,
Làm trái gây khổ đau.”
Vẫy tay chào từ biệt,
Đôi tình cùng luyến lưu.


Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ tam đoạn 焦仲卿妻-第三段 • Vợ Tiêu Trọng Khanh - Đoạn 3

Thơ » Trung Quốc » Khuyết danh Trung Quốc » Nhạc phủ » Tương hoạ ca từ » Tiêu Trọng Khanh thê

焦仲卿妻-第三段

入門上家堂,
進退無顏儀。
阿母大拊掌:
「不圖子自歸!
十三教汝織,
十四能裁衣,
十五彈箜筷,
十六知禮儀,
十七遣汝嫁,
謂言無誓違。
汝今無罪過,
不迎而自歸?」
蘭芝慚阿母:
「兒實無罪過。」
阿母大悲摧。

還家十餘日,
縣令遣媒來。
云「有第三郎,
窈窕世無雙。
年始十八九,
便言多令才。」
阿母謂阿女:
「汝可去應之。」
阿女銜淚答:
「蘭芝初還時,
府吏見丁寧,
結誓不別離。
今日違情義,
恐此事非奇。
自可斷來信,
徐徐更謂之。」
阿母白媒人:
「貧賤有此女,
始適還家門。
不堪吏人婦,
豈合令郎君?
幸可廣問訊,
不得便相許。」

媒人去數日,
尋遣丞請還,
說「有蘭家女,
承籍有宦官。」
云「有第五郎,
嬌逸未有婚,
遣丞為媒人。
主簿通語言。」
直說「太守家,
有此令郎君。
既欲結大義,
故遣來貴門。」
阿母謝媒人:
「女子先有誓,
老姥豈敢言?」
阿兄得聞之,
悵然心中煩。
舉言謂阿妹:
「作計何不量!
先嫁得府吏,
後嫁得郎君。
否泰如天地,
足以榮汝身。
不嫁義郎體,
其往欲何云?」
蘭芝仰頭答:
「理實如兄言。
謝家事夫婿,
中道還兄門。
處分適兄意,
那得自任專?
雖與府吏要,
渠會永無緣!
登即相許和,
便可作婚姻。」

媒人下床去,
諾諾復爾爾。
還部白府君:
「下官奉使命,
言談大有緣。」
府君得聞之,
心中大歡喜。
視厤復開書,
便利此月內:
「六合正相應,
良吉三十日。
今已二十七,
卿可去成婚。」
交語速裝束,
絡繹如浮雲。
青雀白鵠舫,
四角龍子幡。
婀娜隨風轉,
金車玉作輪。
躑躅青驄馬,
流蘇金鏤鞍。
齎錢三百萬,
皆用青絲穿。
雜綵三百匹,
交廣市鮭珍。
從人四五百,
鬱鬱登郡門。

 
Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ tam đoạn

Nhập môn thượng gia đường,
Tiến thoái vô nhan nghi.
A mẫu đại phụ chưởng:
“Bất đồ tử tự quy!
Thập tam giáo nhữ chức,
Thập tứ năng tài y,
Thập ngũ đàn không khoái,
Thập lục tri lễ nghi,
Thập thất khiển nhữ giá,
Vị ngôn vô thệ vi.
Nhữ kim vô tội quá,
Bất nghênh nhi tự quy?”
Lan Chi tàm a mẫu:
“Nhi thực vô tội quá.”
A mẫu đại bi tồi.

Hoàn gia thập dư nhật,
Huyện lệnh khiển môi lai.
Vân “Hữu đệ tam lang,
Yểu điệu thế vô song.
Niên thuỷ thập bát cửu,
Tiện ngôn đa linh tài.”
A mẫu vị a nữ:
“Nhữ khả khứ ứng chi.”
A nữ hàm lệ đáp:
“Lan Chi sơ hoàn thì,
Phủ lại kiến đinh ninh,
Kết thệ bất biệt ly.
Kim nhật vi tình nghĩa,
Khủng thử sự phi kỳ.
Tự khả đoạn lai tín,
Từ từ cánh vị chi.”
A mẫu bạch môi nhân:
“Bần tiện hữu thử nữ,
Thuỷ thích hoàn gia môn.
Bất kham lại nhân phụ,
Khởi hợp lệnh lang quân?
Hạnh khả quảng vấn tấn,
Bất đắc tiện tương hứa.”

Môi nhân khứ sổ nhật,
Tầm khiển Thừa thỉnh hoàn,
Thuyết “Hữu Lan gia nữ,
Thừa tịch hữu hoạn quan.”
Vân “Hữu đệ ngũ lang,
Kiều dật vị hữu hôn.
Khiển Thừa vi môi nhân,
Chủ bạ thông ngữ ngôn.”
Trực thuyết “Thái thú gia,
Hữu thử lệnh lang quân.
Ký dục kết đại nghĩa,
Cố khiển lai quý môn.”
A mẫu tạ môi nhân:
“Nữ tử tiên hữu thệ,
Lão mụ khởi cảm ngôn?”
A huynh đắc văn chi,
Trướng nhiên tâm trung phiền.
Cử ngôn vị a muội:
“Tác kế hà bất lường!
Tiên giá đắc phủ lại,
Hậu giá đắc lang quân.
Bĩ thái như thiên địa,
Túc dĩ vinh nhữ thân.
Bất giá nghĩa lang thể,
Kỳ vãng dục hà vân?”
Lan Chi ngưỡng đầu đáp:
“Lý thực như huynh ngôn.
Tạ gia sự phu tế,
Trung đạo hoàn huynh môn.
Xử phân thích huynh ý,
Na đắc tự nhiệm chuyên?
Tuy dữ phủ lại yếu,
Cừ hội vĩnh vô duyên!
Đăng tức tương hứa hoà,
Tiện khả tác hôn nhân.”

Môi nhân hạ sàng khứ,
Nặc nặc phục nhĩ nhĩ.
Hoàn bộ bạch phủ quân:
“Hạ quan phụng sứ mệnh,
Ngôn đàm đại hữu duyên.”
Phủ quân đắc văn chi,
Tâm trung đại hoan hỉ.
Thị lịch phục khai thư,
Tiện lợi thử nguyệt nội:
“Lục hợp chính tương ứng,
Lương cát tam thập nhật.
Kim dĩ nhị thập thất,
Khanh khả khứ thành hôn.”
Giao ngữ tốc trang thúc,
Lạc dịch như phù vân.
Thanh tước bạch hộc phảng,
Tứ giác long tử phiên.
A na tuỳ phong chuyển,
Kim xa ngọc tác luân.
Trịch trục thanh thông mã,
Lưu tô kim lũ yên.
Tê tiền tam bách vạn,
Giai dụng thanh ty xuyên.
Tạp thái tam bách thất,
Giao quảng thị khuê trân.
Tòng nhân tứ ngũ bách,
Uất uất đăng quận môn.

 
Đoạn 3 kể từ khi Lan Chi về nhà đến khi bị anh mình ép gả cho nhà quan Thái thú.

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Qua cửa, tiến vào nhà,
Đi đứng luống ngẩn ngơ.
Mẹ vỗ tay lớn hỏi:
“Không ngờ con tự về!
Mười ba dạy dệt vải,
Mười bốn học cắt may.
Mười lăm đàn không hầu,
Mười sáu biết lễ nghi.
Mười bảy đem đi gả,
Dặn chớ làm gì sai.
Nay nếu không có tội,
Chẳng đón sao về đây?”
Lan Chi xấu hổ đáp:
“Con thực là vô tội.”
Mẹ nghe xót lắm thay.

Về nhà mươi ngày lẻ,
Huyện lệnh cho mối qua.
Nói “Nhà có cậu ba,
Khôi ngô không đâu sánh.
Tuổi mới mười tám, chín,
Nhiều tài, giỏi nói năng.”
Mẹ bèn hỏi con gái:
“Con thấy có ưng chăng?”
Con gái rưng lệ đáp:
“Lan Chi lúc mới về,
Phủ lại đinh ninh dặn,
Mãi mãi chẳng phân ly.
Nay phụ tình nghĩa ấy,
Thực nào có tốt chi.
Bây giờ xin từ chối,
Thư thả đến mai kia.”
Mẹ đáp người đưa mối:
“Con gái kẻ nghèo này,
Mới bị đuổi về đây.
Đã không kham phủ lại,
Nào hợp với lang quân?
May mắn được thăm hỏi,
Nhưng chẳng dám kết thân.”

Mối đi vừa mấy buổi,
Huyện thừa được lệnh về.
Nói “Con gái họ Lan,
Dòng dõi có hoạn quan.”
Lại “Nhà có cậu năm,
Tuấn tú chưa lấy ai.
Sai ta làm mai mối,
Chủ bạ đã truyền lời.”
Nói thẳng “Nhà Thái thú,
Có chàng công tử này.
Mong được kết nghĩa lớn,
Nên sai tôi tới đây.”
Người mẹ đáp quan mối:
“Con gái đã thề thốt,
Mẹ già biết nói sao?”
Huynh trưởng vừa nghe được,
Lòng cáu giận buồn rầu.
Mở lời cùng em gái:
“Quyết vậy chớ tính lâu!
Trước gả cho phủ lại,
Sau gả cho lang quân.
Rủi may như trời đất,
Vinh hoa sướng một thân.
Không gả cho chàng đó,
Sau này muốn được chăng?”
Lan Chi ngẩng đầu đáp:
“Lý thực như lời anh!
Đã gả cho nhà khác,
Quay trở lại giữa đường.
Quyết định tuỳ anh vậy,
Nào dám tự liệu lường?
Cùng phủ lại hẹn ước,
Nay còn gặp được chăng!
Hãy đáp ngay người mối,
Có thể làm hôn nhân.”

Quan mối từ sập xuống,
Dạ dạ lại vâng vâng.
Về phủ tâu Thái thú:
“Hạ quan phụng sứ mệnh,
Kết được mối tơ hồng.”
Thái thú vừa nghe được,
Lòng hết đỗi vui mừng.
Mở lịch xem ngày tốt,
Tiện nhất trong tháng này:
“Lục hợp cùng tương ứng,
Ba mươi đại cát đây.
Nay đã là hăm bảy,
Ngươi chuẩn bị vừa hay.”
Truyền ngay sắm lễ lạt,
La liệt xếp như mây.
Thuyền sẻ xanh, hộc trắng,
Cờ bốn góc rồng bay.
Phấp phới theo gió lộng,
Xe vàng bánh ngọc quay.
Ngựa trắng xanh đủng đỉnh,
Yên rủ óng tua dài.
Tiền lộc ba trăm vạn,
Tơ xanh nối liền dây.
Lụa màu ba trăm tấm,
Thức quý sắm cho đầy.
Bốn năm trăm người nối,
Ra cửa một hàng dài.


Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ tứ đoạn 焦仲卿妻-第四段 • Vợ Tiêu Trọng Khanh - Đoạn 4

Thơ » Trung Quốc » Khuyết danh Trung Quốc » Nhạc phủ » Tương hoạ ca từ » Tiêu Trọng Khanh thê

焦仲卿妻-第四段

阿母謂阿女:
「適得府君書,
明日來迎汝。
何不作衣裳?
莫令事不舉!」
阿女默無聲,
手巾掩口啼,
淚落便如瀉。
移我琉璃榻,
出置前窗下。
左手持刀尺,
右手執綾羅。
朝成繡夾裙,
晚成單羅衫。
晻晻日欲暝,
愁思出門啼。

府吏聞此變,
因求假暫歸。
未至二三里,
摧藏馬悲哀。
新婦識馬聲,
躡履相逢迎。
悵然遙相望,
知是故人來。
舉手拍馬鞍,
嗟嘆使心傷:
「自君別我後,
人事不可量。
果不如先愿,
又非君所詳。
我有親父母,
逼迫兼弟兄。
以我應他人,
君還何所望!」
府吏謂新婦:
「賀卿得高遷!
磐石方且厚,
可以卒千年。
蒲葦一時紉,
便作旦夕間。
卿當日勝貴,
吾獨向黃泉。」
新婦謂府吏:
「何意出此言!
同是被逼迫,
君爾妾亦然。
黃泉下相見,
勿違今日言!」
執手分道去,
各各還家門。
生人作死別,
恨恨那可論!
念與世間辭,
千萬不復全。

府吏還家去,
上堂拜阿母:
「今日大風寒,
寒風摧樹木,
嚴霜結庭蘭。
兒今日冥冥,
令母在後單。
故作不良計,
勿復怨鬼神!
命如南山石,
四體康且直。」
阿母得聞之,
零淚應聲落:
「汝是大家子,
仕宦於臺閣。
慎勿為婦死,
貴賤情何薄?
東家有賢女,
窈窕艷城郭。
阿母為汝求,
便復在旦夕。」
府吏再拜還,
長嘆空房中,
作計乃爾立。
轉頭向戶裏,
漸見愁煎迫。

其日牛馬嘶,
新婦入青廬。
庵庵黃昏後,
寂寂人定初。
「我命絕今日,
魂去尸長留。」
攬裙脫絲履,
舉身赴清池。
府吏聞此事,
心知長別離。
徘徊庭樹下,
自挂東南枝。

兩家求合葬,
合葬華山傍。
東西植松柏,
左右種梧桐。
枝枝相覆蓋,
葉葉相交通。
中有雙飛鳥,
自名為鴛鴦,
仰頭相向鳴,
夜夜達五更。
行人駐足聽,
寡婦起彷徨。
多謝後世人,
戒之慎勿忘。

 
Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ tứ đoạn

A mẫu vị a nữ:
“Thích đắc phủ quân thư,
Minh nhật lai nghênh nhữ.
Hà bất tác y thường?
Mạc linh sự bất cử!”
A nữ mặc vô thanh,
Thủ cân yểm khẩu đề,
Lệ lạc tiện như tả.
Di ngã lưu ly tháp,
Xuất trí tiền song hạ.
Tả thủ trì đao xích,
Hữu thủ chấp lăng la.
Triêu thành tú giáp quần,
Vãn thành đơn la sam.
Ám ám nhật dục minh,
Sầu tư xuất môn đề.

Phủ lại văn thử biến,
Nhân cầu giá tạm quy.
Vị chí nhị tam lý,
Tồi tàng mã bi ai.
Tân phụ thức mã thanh,
Nhiếp lý tương phùng nghênh.
Trướng nhiên dao tương vọng,
Tri thị cố nhân lai.
Cử thủ phách mã yên,
Ta thán sử tâm thương:
“Tự quân biệt ngã hậu,
Nhân sự bất khả lường.
Quả bất như tiên nguyện,
Hựu phi quân sở tường.
Ngã hữu thân phụ mẫu,
Bức bách kiêm đệ huynh.
Dĩ ngã ứng tha nhân,
Quân hoàn hà sở vọng!”
Phủ lại vị tân phụ:
“Hạ khanh đắc cao thiên!
Bàn thạch phương thả hậu,
Khả dĩ tốt thiên niên.
Bồ vi nhất thì nhận,
Tiện tác đán tịch gian.
Khanh đương nhật thắng quý,
Ngô độc hướng hoàng tuyền.”
Tân phụ vị phủ lại:
“Hà ý xuất thử ngôn!
Đồng thị bị bức bách,
Quân nhĩ thiếp diệc nhiên.
Hoàng tuyền hạ tương kiến,
Vật vi kim nhật ngôn!”
Chấp thủ phân đạo khứ,
Các các hoàn gia môn.
Sinh nhân tác tử biệt,
Hận hận na khả luân (luận)!
Niệm dữ thế gian từ,
Thiên vạn bất phục toàn.

Phủ lại hoàn gia khứ,
Thượng đường bái a mẫu:
“Kim nhật đại phong hàn,
Hàn phong tồi thụ mộc,
Nghiêm sương kết đình lan.
Nhi kim nhật minh minh,
Linh mẫu tại hậu đơn.
Cố tác bất lương kế,
Vật phục oán quỷ thần!
Mệnh như Nam sơn thạch,
Tứ thể khang thả trực.”
A mẫu đắc văn chi,
Linh lệ ứng thanh lạc:
“Nhữ thị đại gia tử,
Sĩ hoạn ư đài các.
Thận vật vị phụ tử,
Quý tiện tình hà bạc?
Đông gia hữu hiền nữ,
Yểu điệu diễm thành quách.
A mẫu vị nhữ cầu,
Tiện phục tại đán tịch.”
Phủ lại tái bái hoàn,
Trường thán không phòng trung,
Tác kế nãi nhĩ lập.
Chuyển đầu hướng hộ lý,
Tiệm kiến sầu tiên bách.

Kỳ nhật ngưu mã tê,
Tân phụ nhập thanh lư.
Am am hoàng hôn hậu,
Tịch tịch nhân định sơ.
“Ngã mệnh tuyệt kim nhật,
Hồn khứ thi trường lưu.”
Lãm quần thoát ty lý,
Cử thân phó thanh trì.
Phủ lại văn thử sự,
Tâm tri trường biệt ly.
Bồi hồi đình thụ hạ,
Tự quải đông nam chi.

Lưỡng gia cầu hợp táng,
Hợp táng Hoa Sơn bàng.
Đông tây thực tùng bách,
Tả hữu chủng ngô đồng.
Chi chi tương phúc cái,
Diệp diệp tương giao thông.
Trung hữu song phi điểu,
Tự danh vi uyên ương,
Ngưỡng đầu tương hướng minh,
Dạ dạ đạt ngũ canh.
Hành nhân trú túc thính,
Quả phụ khởi bàng hoàng.
Đa tạ hậu thế nhân,
Giới chi thận vật vong.

 
Đoạn 4 kể từ khi Lan Chi bị buộc tái giá đến khi nàng và Trọng Khanh tự tử.

Bản dịch của Điệp luyến hoa


Mẹ nhìn con gái hỏi:
“Mới nhận thư Thái thú,
Ngày mai tới đón con.
Sao không lo quần áo?
Đừng để chẳng chu toàn!”
Con gái không đáp lại,
Khăn tay ngăn tiếng khóc,
Lệ chảy nối thành dòng.
Giường lưu ly thấm ướt,
Tới bên cửa sổ phòng.
Tay trái cầm dao thước,
Tay phải cắt lụa trơn.
Sáng xong quần gấm kép,
Chiều thành áo tơ đơn.
Âm u trời dần tối,
Ra cổng rầu rĩ than.

Phủ lại nghe có chuyện,
Xin nghỉ phép về thăm.
Còn cách hai ba dặm,
Đau lòng ngựa hí rên.
Nhận ra tiếng ngựa quen,
Vợ nhón giày ra đón.
Từ xa trông buồn bã,
Đích thị là cố nhân.
Giơ tay vỗ yên ngựa,
Kêu than xiết thương tâm:
“Từ cùng chàng ly biệt,
Muôn sự khó tính thông.
Không như xưa nguyện ước,
Cũng chẳng giống chàng mong.
Phải nghe theo lời mẹ,
Bức bách cùng anh trai.
Đem thiếp gả người khác,
Chàng về mong gì đây!”
Phủ lại đáp lời vợ:
“Mừng nàng được cao bay!
Tảng đá vuông vững chắc,
Ngàn năm chẳng đổi thay.
Cỏ lau chỉ có lúc,
Sớm chiều hết dẻo dai.
Nay nàng thành quyền quý,
Suối vàng độc thân này!”
Vợ trả lời phủ lại:
“Chàng nói sao đắng cay!
Cùng là thân bức bách,
Quyết liều với chàng đây.
Dưới suối vàng gặp mặt,
Chớ trái lời hôm nay!”
Cầm tay đôi ngả rẽ,
Mỗi kẻ một lối về.
Người sống mà tử biệt,
Lòng hận biết sao bàn!
Nguyện từ chốn thế gian,
Vạn ngàn không trở lại.

Về đến nhà, phủ lại,
Lên nhà bái gặp mẹ:
“Trời hôm nay gió hàn,
Cây cối đều gãy sạch,
Sương nặng đẫm lan can.
Lòng con càng u ám,
Để mẹ lại một thân.
Cố gây việc không tốt,
Chẳng nên oán quỷ thần.
Mạng như đá núi Nam,
Thân thể còn vững chắc.”
Mẹ nghe được lời thưa,
Cất tiếng, lệ lác đác:
“Mày con nhà thế gia,
Thượng thư nơi đài các.
Chớ vì vợ quên mình,
Giàu nghèo, tình đâu bạc?
Mé đông có gái lành,
Đẹp khắp thành khôn sánh.
Vì con mẹ mối mai,
Sớm tối người sẽ đáp.”
Phủ lại vái về xong,
Vắn dài giữa phòng không,
Kế hoạch đà như vậy.
Quay đầu lên nhà lại,
Sầu uất cứ dâng đầy.

Hôm ấy trâu ngựa kêu,
Người vợ trong buồng thêu.
U ám trời xuống bóng,
Tịch mịch đêm về khuya.
“Mạng ta hôm nay hết,
Hồn đi để xác này.”
Vén quần tháo đôi giày,
Nhìn ao trong tự kết.
Phủ lại nghe sự việc,
Thấu hiểu, mãi xa nhau.
Cây bên đình bước tới,
Hướng cành đông nam treo.

Hai nhà xin cùng táng,
Chôn cất cạnh Hoa Sơn.
Đông tây trồng tùng bách,
Phải trái trồng ngô đồng.
Cành cành cùng che chở,
Lá lá cùng tiếp thông.
Giữa có đôi chim ở,
Gọi là chim uyên ương.
Ngẩng đầu nhìn nhau hót,
Đêm đêm hết năm canh.
Người qua dừng nghe tiếng,
Quả phụ lại bàng hoàng.
Đa tạ người hậu thế,
Răn thân, khắc ghi lòng.

Nguồn Thivien.net

.

 

   
 

 

 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.