Nov 18, 2019

Thơ mới hiện đại VN

Tống biệt hành và bài viết sự ra đời của Tống Biệt Hành (Lệ Ba Ngâm)
Thâm Tâm * đăng lúc 11:20:23 PM, Aug 16, 2008 * Số lần xem: 2172
Hình ảnh
Thâm Tâm
#1
Tống biệt hành (Thâm Tâm, Việt Nam)

Thể thơ: Thơ mới bảy chữ (thời kỳ: Hiện đại)

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng...

-Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say...

Mây thu đầu núi, giá lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hồn câm

THÂM TÂM 1940
(1940)


****

SỰ RA ĐỜI CỦA TỐNG BIỆT HÀNH

Ai là người gợi nguồn cảm hứng cho bài Tống biệt hành? Hay nói rõ hơn Thâm Tâm tiễn biệt người bạn nào? Tên là gì? Ở đâu?

Trong một dịp chúng tôi được biết người đó, nói một cách khác tìm ra nguồn gợi hứng của Tống biệt hành, và nhờ đó được biết toàn bộ bài Tống biệt hành

Một hôm đến chơi nhà thơ Trần Lê Văn. Anh Văn giới thiệu một ông cụ cao to, đầu bạc trắng, ngồi trong chiếc ghế bành ở phòng anh:

- Đầy là nhà thơ Lương Trúc, bạn thân của Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Bài Tống biệt hành là Thâm Tâm viết tặng cụ đây.

Tôi xoán vội lấy cụ Lương Trúc, tên thật Phạm Quang Hòa, từng phụ trách Sở Thông tin liên khu 10, thời kháng chiến chống Pháp

Lâu nay chúng ta chỉ biết Tống biệt hành trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân. Các bản in sau này của các nhà xuất bản khác cũng đều theo bản tuyển trên. Tôi nói:

– Thưa bác, sao bác không công bố bài Tống Biệt Hành đầy đủ cho mọi người cùng biết? Lại là một kỷ niệm về bác?”

Ông già Lương Trúc tủm tỉm:

- Có câu tục ngữ: Đừng thấy người sang…. Anh Thâm Tâm thì nổi tiếng, thiên hạ có thể hiểu lầm tôi…bắt quàng làm họ lắm. Gần đây ở Hà Nam Ninh có in tập thơ Xuân Tha Hương của Nguyễn Bính, trong đó có một bài đề tặng tôi, được viết cùng dịp với bài Thâm Tâm đấy. Cả hai bài thơ của Thâm Tâm và Nguyễn Bính đều nhắc đến hoàn cảnh riêng của tôi: có mẹ, có chị, có em. Hồi ấy đi hoạt động cách mạng là phải coi tình nhà nhẹ như không, và người nhà nên coi người đi là không có gì đáng kể.

Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượi say

Bài thơ của Thâm Tâm khi đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy có bỏ lời đề tặng, vì theo yêu cầu của tôi, cho đỡ phiền phức bị mật thám theo dõi (tôi nhớ vào số báo khoảng năm 1941). Ông Hoài Thanh khi tuyển vào Thi nhân Việt Nam không có khổ cuối cùng, và nói là rút ở tập Thơ Thâm Tâm chưa xuất bản

- Thưa bác, anh Thâm Tâm có ý kiến gì không?

- Hồi kháng chiến chống Pháp, có một bữa chúng tôi gặp nhau trên Việt Bắc. Lúc đó tôi phụ trách Sở Thông Tin Liên Khu 10. Chúng tôi ngồi hàn huyên cả một buổi chiều và buổi tối. Tôi cũng có đặt câu hỏi đó với Thâm Tâm, anh khề khà giọng rượu, nói, đại ý là còn quá trẻ, chưa có tiếng tăm gì, được tuyển vào tập Thi nhân Việt Nam là mừng lắm rồi, còn ý kiến chi nữa. Hôm sau, chúng tôi chia tay, và rồi sau này được tin anh hi sinh trong một cơn sốt rét ác tính ở rừng Việt Bắc.

Tôi nói:

- Ông Hoài Thanh và Hoài Chân khi làm Thi nhân Việt Nam có bỏ những lời đề tặng trong các bài thơ như các ông đã trình bày trong bài Nhỏ to… ở cuối tập. Ý tứ của các ông là chỉ chú trọng đén cái hay, cái tiêu biểu. Có thể ông Hoài Thanh có lý. Nhưng vì trách nhiệm của công việc khảo cứu và biên soạn cũng như lợi ích của việc làm văn học sử sau này, tôi xin phép bác cứ cho tôi công bố toàn bộ Tống biệt hành anh Thâm Tâm đã tặng bác.

Hoàng Tiến – Bản đầy đủ của Tống Biệt hành
(báo NDCN số 23 tháng 7 – 1981)

NGƯỜI BIÊN SOẠN: Theo Hoàng Tiến ở bài viết trên, bản đầy đủ của Tống Biệt Hành còn có một khổ thơ cuối cùng là:


Mây thu đầu núi giá lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đã đổ thầm
Ngừng ở ven trời nghe tiếng khóc
Tiếng đời xô động, tiếng lòng câm



(trích “Thâm Tâm, cuộc đời ngắn, tiếng thơ dài” Hoài Việt biên soạn. NXB Trẻ 2003)

***

Ghi thêm về Thâm Tâm và T.T.KH

Mã Giang Lân

40 năm nay, nhà thơ Thâm Tâm đã là "người trong cõi nhớ". Bạn bè đồng nghiệp của ông như Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, Trần Độ, Tô Hoài... đã nhớ và kể lại cuộc đời hoạt động và sáng tác văn thơ của ông với một tình cảm chân thành trân trọng.

Thế nhưng nói đến Thâm Tâm, nhiều người nghĩ ngay đến T.T.Kh. T.T.Kh. là ai? Là người yêu của Thâm Tâm? T.T.Kh. chính là Thâm Tâm? Giữa T.T.Kh. và Thâm Tâm vào những năm 1937-1940 với những bài thơ tình tuyệt vời đã làm cho tên tuổi nhà thơ và nữ sĩ ấy vang vọng mãi trên thi đàn.

Những năm sau này, những đợt sóng, những luồng dư luận khác nhau về nghi vấn văn chương này vẫn dội lên. Một trong những chứng nhân quan trọng để làm rõ vấn đề là Thâm Tâm thì nhà thơ đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1950... Ở Sài Gòn trước đây, nhất là năm 1970 người ta không ngớt tung ra những huyền thoại về Thâm Tâm và T.T.Kh. Vũ Bằng là người giỏi bịa chuyện đã làm rùm beng một dạo để tỏ mình là người từng trải, là người hiểu biết. Và trong những dịp ấy nhiều người cũng nhảy ra "ăn theo, bởi vì họ chỉ biết qua nghe, rồi nhặt nhạnh, thêm bớt, viết thành bài làm sang. Báo chí Sài Gòn lúc đó còn công bố thêm nhiều bài thơ giả cũng ký tên là T.T.Kh.

Hai năm nay, khi tập thơ Thâm Tâm ra đời, sự mến mộ của người đọc đối với nhà thơ được khẳng định thêm. Và lại xuất hiện trên báo chí những bài thơ viết say sưa đến quá nhiệt tình. Anh Hoàng Tiến viết liền hai bài. Một bài thơ đăng trên Nhân dân chủ nhật (số 23 tháng 7-1989) kể về T.T.Kh. Anh còn nói bài thơ Các anh in trong tập thơ Thâm Tâm là trích một bài đăng ở Người Hà Nội (2-9-1989) để cung cấp bản đầy đủ Tống biệt hành của Thâm Tâm. Tư liệu anh có là từ nguồn nghe. Hai lần ở hai bài anh đều nói anh "may mắn" được gặp, được nghe cụ Lương Trúc, nhà thơ, bạn Thâm Tâm kể. Anh Hoàng Tiến nói: "Vì trách nhiệm của công việc khảo cứu và biên soạn, cũng như lợi ích của việc làm văn học sử sau này nên anh xin phép nhà thơ Lương Trúc cho công bố toàn bộ bài Tống biệt hành của Thâm Tâm. Đấy là một việc cần thiết và bổ ích (nếu như nghiêm túc, khoa học), chỉ tiếc một điều bằng lối văn lộng ngữ Hoàng Tiến đã đưa ra những nghi ngờ, những điều không có căn cứ. Vậy theo đó mà viết văn học sử, mà khảo cứu thì giấy mực đâu in cho xuể.

Trước khi nói về T.T.Kh, tôi xin có mấy đính chính ở một bài viết ngắn của Hoàng Tiến khi công bố bài Tống biệt hành.

Tập thơ Thâm Tâm do Nhà xuất bản Văn học in năm 1987 sao anh nói là Nhà xuất bản Giáo dục?

Giữa năm 1950 Thâm Tâm đi chiến dịch, làm báo mặt trận và hy sinh ở gần biên giới vì cơn bệnh tai ác, anh chỉ ghi nơi hy sinh: "Ở rừng Việt Bắc".

Đúng là bài Tống biệt hành có một khổ cuối nữa mà Thi nhân Việt Nam cũng như Thơ Thâm Tâm không đưa vào. Khổ thơ đó như sau:

Mây thu đầu núi, gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hờn căm.

Còn khổ thơ mà anh cung cấp cho bạn đọc là:

Mây thu đầu núi gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đã đổ thầm
Ngừng ở ven trời nghe tiếng khóc
Tiếng đời xô động tiếng lòng căm.

Tôi thì cho khổ thơ trên chính xác hơn vì đã in trên báo Tiểu thuyết thứ bảy năm 1940.

Bài Các anh trong tập Thơ Thâm Tâm chỉ có 16 câu (4 khổ) lấy trọn vẹn từ báo Tiểu thuyết thứ bảy ngày 4-5-1940 Hoàng Tiến nghe đâu mà bảo đó chỉ là trích đoạn. Chắc anh tin vào ai đó đã đưa in trên Văn nghệ và nói rằng đây là bài thơ của Thâm Tâm, không có đề, mà ở đây thực ra mở đầu là 8 câu trên và kết thúc là 8 câu sau của bài Các anh, còn ở giữa là 56 câu khác không ăn nhập gì với kết cấu toàn bài. Vẫn bài thơ dài này cộng cả 64 câu, ông Nguyễn Tấn Long trong Việt Nam thi nhân tiền chiến in ở Sài Gòn năm 1968 lại đặt tên là Gửi T.T.Kh. Có lẽ cũng nghe ai nói rồi ghi lại.

Trở lại câu hỏi T.T.Kh. là ai? Tôi xin mách: Thanh Châu chính là người khơi nguồn thiên tình hận này. Năm 1937 Tiểu thuyết thứ bảy đăng truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu kể lại mối tình ngang trái giữa chàng nghệ sĩ và thiếu nữ Mai Hạnh. Họ đã gặp nhau dưới hoa ti-gôn. Nàng sợ bố mẹ khổ tâm, sợ tai tiếng ở đời nên không dám bỏ nhà đi với người yêu - Nàng phải sống gượng ép với một người chồng. Ít ngày sau tòa soạn báo nhận được hai bài thơ Bài thơ thứ nhất và Hai sắc hoa ti-gôn của T.T.Kh. Khi hai bài thơ này được đăng, nhiều người nhận T.T.Kh. là người yêu của mình như Nguyễn Bính, J.Leiba, Thâm Tâm đã làm mấy bài thơ đáp lại tiếng lòng của thiếu nữ, giải bày tâm trạng đau đớn của mình. Trong nhiều bài thơ của Thâm Tâm thường thấy xuất hiện cái màu hoa, dáng hoa ti-gôn "như tim vỡ".

Trong bài T.T.Kh. là ai? Hoàng Tiến viết T.T.Kh. "về sống ở Thanh Hóa đã bốn năm nay, không biết bà còn hay mất", cụ Lương Trúc đã có dịp gặp đôi ba lần? Sự thật theo tôi, 50 năm nay đã rồi, T.T.Kh. đến nay vẫn còn là "ẩn số". Một hồn thơ đầy xúc cảm, một con người cao thượng nói lên nỗi đau đớn của mình một cách tuyệt vời mà lại âm thành, mai danh ẩn tích, để lại cho đời, cho giới mày râu cầm bút biết bao bàng hoàng thương cảm, mến phục.

Một điều cần chú ý: Trước kia bà Thâm Tâm sống và học ở Thanh Hóa, khi xây dựng gia đình với Thâm Tâm thì ở Hà Nội và những năm kháng chiến chống Pháp lại ở Thanh Hóa mãi đến năm 1950 khi nhà thơ hy sinh, bà mới cùng bé Nguyễn Tuấn Khoa, con trai duy nhất lặn lội ra Việt Bắc, bà Thâm Tâm hiện nay vẫn đang ở Hà Nội.

T.T.Kh. là ai? Là Trần Thị Khánh, là Thâm Tâm - Khánh là Tuấn Trình - Khánh (vì tên thật là Thâm Tâm là Nguyễn Tuấn Trình)... Theo Việt Nam thi nhân tiền chiến (Sài Gòn 1968) có người còn nói T.T.Kh. chính là Trần Thị Khánh, người em gái đồng tông với nhà thơ Tế Hanh ở Thanh Hóa vân vân và vân vân. Tôi có thể nêu lên rất nhiều những huyền thoại huyễn hoặc nữa xung quanh cái tên T.T.Kh. này.

T.T.Kh. là ai? Là một thiếu phụ, nhưng chưa bao giờ xuất đầu lộ diện. Chỉ lộ ra cái tên T.T.Kh. Cái tên Trần Thị Khánh cũng là do suy luận, đoán. Theo tôi mọi cái tên diễn dịch, khẳng định ở trên đều là của giả. Ngay cả hai bài thơ tiếp sau là Đan áo cho chồng và Bài thơ cuối cùng dù được ký tên là T.T.Kh. cũng rất có thể là của giả, bởi vì xét về ý tứ, nghệ thuật thơ cũng có những mâu thuẫn, những điểm đáng ngờ.

(VĂN NGHỆ số 13 tháng 3-90)

MP3-001 (track 001) -
_____________________________

"...Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ."

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.