Nov 22, 2014

Đường thi Trung Quốc

Bạch đầu ngâm - Nguyên tác: Lý Bạch
Lý Bạch (701 - 762) * đăng lúc 12:20:51 AM, Mar 28, 2013 * Số lần xem: 5424
Hình ảnh
#1




白头吟

李白

锦水东北流,波荡双鸳鸯。雄巢汉宫树,雌弄秦草芳。
宁同万死碎绮翼,不忍云间两分张。此时阿娇正娇妒,
独坐长门愁日暮。但愿君恩顾妾深,岂惜黄金买词赋。
相如作赋得黄金,丈夫好新多异心。一朝将聘茂陵女,
文君因赠白头吟。东流不作西归水,落花辞条羞故林。
兔丝固无情,随风任倾倒。谁使女萝枝,而来强萦抱。
两草犹一心,人心不如草。莫卷龙须席,从他生网丝。
且留琥珀枕,或有梦来时。覆水再收岂满杯,弃妾已
去难重回。古来得意不相负,只今惟见青陵台。

Bạch đầu ngâm

Cẩm thủy đông băc lưu
Ba đãng song uyên ương
Hùng sào Hán cung thụ
Thư lộng Tần thảo phương
Ninh đồng vạn tử toái ỷ dực
Bất nhẫn vân gian lưỡng phân trương
Thử thời A Kiều chính kiều đồ
Độc toạ trường môn sầu nhật mộ
Đản nguyệt quân ân cố thiếp thâm
Khởi tích hoàng kim mãi từ phú
Tương Như tác phú đắc hoàng kim
Trượng phu hiếu tân đa dị tâm
Nhất triêu tương sính Mậu Lăng nữ
Văn quân nhân tặng Bạch đầu ngâm
Đông lưu bất tác tây quy thuỷ
Lạc hoa từ điều tu cố lâm
Thố ti cố vô tình
Tuỳ phong nhiệm khuynh đảo
Thuỳ sử nữ la chi
Nhi lai cưỡng oanh bão
Lưỡng thảo do nhất tâm
Nhân tâm bất như thảo
Mạc quyển long tu tịch
Tòng tha sinh võng ty
Thả lưu hổ phách chẩm
Hoặc hữu mộng lai thì
Phúc thuỷ tái thu khởi mãn bôi
Khí thiếp dĩ khứ nan trùng hồi
Cổ lai đắc ý bất tương phụ
Chỉ kim duy kiến Thanh Lăng đài...

--Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu--

Sông Cẩm về đông bắc
Uyên ương giữa sóng vần
Trống đậu cây cung Hán
Mái chơi hương cỏ Tần
Nát cánh thà cùng muôn vạn chết
Trên mây chẳng chịu rẽ lìa thân
A Kiều thủa ấy cơn ghen nổi
Ngồi lặng Trường Môn sầu bóng tối
Những ước ơn vua lại đoái thương
Từ phú nghìn vàng nào tiếc hối !
Tương Như làm phú thưởng nghìn vàng
Đàn ông ưa mới dễ thay ngang
Một sớm Mậu Lăng toan cưới thiếp
Khúc "Bạch đầu ngâm" Văn Quân tặng
Về đông, nước hẳn chẳng về tây
Lìa cành hoa rụng thẹn rừng hoang
Thố ti vốn vô tình
Nghiêng ngả theo làn gió
Ai xui cành nữ la
Đến vòng quanh gắn bó
Hai cỏ một lòng chung
Long người thua cỏ ấy
Chiếu long tu chớ cuốn!
Mạng nhện mặc dăng đầy!
Giữ gìn gối hổ phách
Có lúc mộng về đây
Vớt lui nước đổ có đầy chăng?
Bỏ vợ mà đi, đi dứt phăng
Đắc ý xưa nay không phụ rẫy
Bây giờ chỉ thấy gác Thanh Lăng!

--Bản dịch của Hoa Sơn--

Giòng sông Cẩm xuôi về đông bắc
Sóng nghìn trùng xô nát uyên ương
Trên cành trống đậu Hán cung
Cỏ thơm chim mái chơi rong đất Tần
Thà được chết vạn lần đau khổ
Chẳng muốn rời nhau giữa trời mây
A Kiều một thuở ghen cay
Trường Môn một bóng tháng phai năm sầu.
Nàng ao ước mong hầu Thánh Thượng
Từ phú kia ngân lượng tiếc chi!
Tương Như đất Thục văn tài
Viết từ phú được nghìn thoi bạc vàng
Người chuộng mới lòng hay thay đổi
Sáng ngày toan cưới gái Mậu Lăng
Văn Quân tặng Bạch đầu ngâm
Về đông nước chảy chẳng tìm về tây
Hoa lìa ngọn thẹn cây rừng cũ
Thố ti hoa vốn tự vô tình
Ngã theo ngọn gió mặc nhiên
Nữ la quấn quýt kết duyên mặn nồng
Loài hoa ấy tâm đầu ý hiệp
Lòng con người sánh kịp cỏ ư?
Đừng thu mảnh chiếu Long Tu
Mặc cho tơ nhện giăng mờ khắp nơi
Hãy giữ lại gối đầu hổ phách
Lở mai kia gợi giấc mơ đời
Nước kia đổ hết đi rồi!
Làm sao có thể vớt đầy được chăng?
Chàng đã bỏ đi người vợ cũ
Thật khó lòng về ở cùng nhau
Xưa nay thệ ước bạc đầu
Bây giờ chỉ thấy bóng lầu Thanh Lăng

--Bản dịch của Nguyễn Tâm Hàn--

Dòng Cẩm Thủy chảy về miền đông bắc
Cặp uyên ương theo sóng vỗ dạt sô
Chú trống kìa . . . cây cung Hán nhởn nhơ
Đất Tần đấy. . . mái vui mùi thơm cỏ
Dù thân nát vẫn bên nhau không bỏ
Chết cũng đành chẳng ly biệt giữa mây
Gương A Kiều cơn ghen thuở nào đây
Rồi ủ rũ nơi Trường Môn héo hắt
Chỉ mong được đấng quân vương để mắt
Từ phú nào đâu nuối tiếc bạc vàng
Xưa Tương Như làm phú được giầu sang
Nên danh phận mưu thay lòng đổi dạ
Gái Mâu Lăng tính ngày đêm chung chạ
Khiến Văn Quân tặng bài phú Bạch Đầu
Đông hoặc tây, nước chảy một dòng sâu
Hoa rơi rụng thẹn cùng rừng núi cũ
Như thô ti theo gió đùa nghiêng ngả
Cành nữ la vẫn ngày tháng quấn quanh
Loài dây leo cũng còn vẹn ý tình
Sao nhân thế lại không bằng cây cỏ
Đừng cuốn lại. . . chiếu long tu để đó
Hãy mặc cho những tơ nhện giăng đầy
Cứ để yên gối hổ phách chớ thay
Biết đâu đó đêm ru ta tình mộng
Nước đã đỗ hốt vào sao đầy cóng
Đã chia lìa, xum họp phải dễ đâu
Trên đời này đắc ý chẳng phụ nhau
Qua ngày tháng đài Thanh Lăng còn đấy


Đọc thêm

Tư Mã Tương Như là nhà viết từ, nhà âm nhạc nổi tiếng thời Tây Hán Trung Quốc cách đây hơn 2000 năm, vì ngưỡng mộ đức độ làm người của Lận Tương Như nước Triệu thời Chiến quốc, cho nên tự đặt tên cho mình là "Tương Như", ông nuôi ý trí phải làm việc lớn oanh liệt cho đất nước. Gia cảnh Tư Mã Tương Như nghèo khó, thời Hán Cảnh đế, ông theo đuổi Lương Vương, viết những bài và từ gảy đàn ngay trên đất Lương, cho nên cuộc sống trở nên dư dật hơn. Lương Vương rất tâm đắc với tài ba của Tương Như, liền ban cho ông cây đàn cổ quý hiếm mang tên Lục Kỳ. Khổ nỗi là Lương vương đoản thọ, sau khi Lương Vương qua đời, thì Tư Mã Tương Như cũng mất đi chỗ dựa, thế là ông đành phải lang thang đó đây, cuối cùng đến ở nhờ nhà người bạn thân của mình tên là Vương Cát một huyện nhỏ biên giới tứ Xuyên, sống quãng ngày ăn nhờ ở vạ.

Ở đó có một già giàu tên là Trác Vương Tôn, ông có cô con gái tên là Trác Văn Quân mới 17 tuổi, Văn Quân xinh đẹp phi thường, không những giỏi chơi đàn, mà còn có tài làm thơ nữa. Ông Vương Tân vốn định gả con gái Trác Văn Quân cho Nhất Hoàng Tôn, không ngờ lễ cưới chưa thành Hoàng Tôn đã mất sớm, thế là Văn Tôn liền góa bụa ở nhà cha.
Một hôm, Trác Vương Tôn mời Vương Cát đến nhà ăn cơṃ, Tư Mã Tương Như cũng được mời đến dự theo bạn mình. Trong bữa tiệc, việc làm những bài từ và gảy đàn để góp vui cho bầu không khí là không thể thiếu được. Được biết con gái ông Trác Vương Tôn tài sắc vẹn toàn, Tư Mã Tương Như liền gảy bản nhạc "Phượng cầu Hoàng". Từ lâu Trác Văn Quân đã ngưỡng mộ tài ba của Tư Mã Tương Như, nàng bèn núp sau mành nghe trộm, từ tiếng đàn thướt tha đắm đuối, nàng đã lãnh hội được tình tứ của Tư Mã Tương Như, thế rồi từ đó hai người yêu nhau thắm thiết, nhưng lại bị ông Trác Vương Tôn phản đối kịch liệt, không còn cách nào khác, hai người liền cùng nhau bỏ trốn đến Thành đô quê hương Tư Mã Tương Như. Do điều kiện sinh hoạt rất khó khăn, Văn Quân liền lấy đồ trang sức của mình mang theo đi cầm cố, hai người mở một quán rượu, Văn Quân đích thân đứng bán ngoài cửa hàng, còn Tương Như thì đi làm công. Tin này đến tai cha Trác Vương Tôn, vì sĩ diện nên ông liền cho trăm người hầu đến nhà con gái mình, rồi cho tiền vàng bạc triệu, lại thêm rất nhiều của hồi môn, từ đó đời sống của hai người trở nên giầu có an nhàn, có thể uống rượu làm thơ, đàn hát suốt ngày.

Sau thời Hán Cảnh Đế, Hán Vũ Đế lên ngôi, sau khi xem tác phẩm của Tư Mã Tương Như, Vũ Đế lấy làm thích thú, bèn triệu gặp ông. Tư Mã Tương Như sáng tác bài "Thượng Lâm Phổ" bằng tài trí của mình, ca ngợi quang cảnh hoành tráng khi nhà vua săn bắn. Hán Vũ Đế ưa được kể công cho nên lấy làm khoái trí, liền phong Tư Mã Tương Như làm chức Lang Quan. Thế là, Tư Mã Tương Như rất đắc trí hài lòng ở lại Tràng An, còn Trác Văn Quân thì vẫn ở Thành Đô cô đơn lẻ loi sống trong căn nhà trống rỗng lạnh lẽo, kiên tâm đợi chồng trở về.

Sau khi đến Tràng An lâu ngày, khi về Thành Đô, thấy dung nhan của Trác Văn Quân trở nên già đi, Tương Như nảy sinh ra ý nghĩ lấy vợ lẽ. Trác Văn Quân biết tin, trong lòng rối bời, liền viết bài thơ Bạch đầu ngâm, lại thêm một bài " Giã biệt thư", bài thơ có đoạn: "Mong được tấm lòng anh, bạc đầu không chia cách". Đọc bài thơ đầy thương cảm của vợ, Tư Mã Tương Như hết sức cảm động, nhớ lại quãng năm tháng hai vợ chồng sống ân ái với nhau, ông liền xóa bỏ ý định lấy vợ lẽ, rồi trở về quê cũ với Trác Văn Quân, từ đó hai vợ chồng chung sống với nhau cho đến khi từ giã cói đời. Bài thơ "Bạc đầu ngâm" của Trác Văn Quân tình sâu nghĩa nặng, rung động lòng người, và lưu truyền cho đến tận ngày nay


--Bản dịch của Nguyễn phước Hậu--

Dòng sông Cẩm chảy về đông bắc
Xô cặp uyên ương lớp sóng đào
Mái lộng cỏ Tần thơm phảng phất
Trống trên cung Hán đỉnh cây cao.
Thà cung chết vạn lần đau đớn
Hơn ở trong mây rẻ cánh nhau.
Còn nhớ A Kiều ghen thuở nọ
Trường môn chiều xuống lặng ngồi sầu
Ngắm trăng lòng ước hầu bên chúa.
Xưa phú từ mua cuộc sống giàu
Làm phú Tương Như sung túc hẳn
Đàn ông chuộng mới đổi thay mau.
Mậu Lăng một sớm tâm tình hợp
Nhỏ lệ Văn Quân phú Bạch đầu
Nước chẳng về đông, tây cuộn mãi
Lá lìa cành rụng chốn rừng sâu.
Cỏ thố ti vô tình
Cuốn mình theo chiều gió
Cùng với nữ la cành
Quấn quanh dù bão tố
Hai cỏ một tâm tình
Lòng người thua cây cỏ.
Chiếu long tu trải đó
Cho tơ nhện giăng mành.
Giữ gìn gối hổ phách
Về lại thuở mơ lành.
Thôi đành ! nước đỗ hốt đầy sao?
Phụ thiếp đuổi đi, khó lại nào.
Tự cổ được thời, không hợp vợ
Đến nay chỉ thấy gác Thanh sầu.

-- Bản dịch của Viên Thu --

Bạch đầu ngâm

Sông Cẩm xuôi đông bắc,
Uyên ương sóng dạt dần.
Trống an cây khuyết Hán,
Mái lượn cỏ hương Tần.
Vạn lúc chết cùng không rẽ cánh,
Giữa mây xin sẽ chẳng đôi đường.
A Kiều thuở ấy ghen quay quắt,
Ngồi rũ Trường môn tối vấn vương.
Lòng ước hoàng ân hoài chiếu cố,
Ngàn vàng hoán đổi giá từ chương.
Tương Như giỏi phú vàng châu lắm,
Tâm dạ trượng phu biến khó lường.
Một sớm người ưng thêm thiếp mới,
Văn Quân nghe, xướng Bạch đầu ngâm:
" Nước xuôi chảy, chẳng về nguồn cũ,
Hoa rụng buồn, còn thẹn núi thâm.
Hoa thố ty vô tình,
Lả lơi theo gió lạ.
Ai xui cành nữ la,
Quấn quít cùng chung dạ.
Loài cỏ còn tâm kết,
Lòng người lại kém xa.
Chiếu long tu chớ cuộn,
Tơ mạng nhện cho mờ.
Hổ phách gối đầu giữ,
Xin đời có lúc mơ.
Hốt đầy nước đổ,ai mơ tưởng,
Ruồng bỏ vợ xưa,thiếp bẽ bàng.
Chung thủy lâu nay đều đáng trọng,
Ngàn năm còn đó bóng Thanh lăng".

nguon Hoasontrang
 
 
 
 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.