Dec 06, 2019

Thơ mới hiện đại VN

Bài thơ Cảm hoài của Đặng Dung thể hiện nỗi đau người anh hùng chiến bại
Đặng Dung 鄧容 * đăng lúc 02:31:48 AM, Apr 19, 2015 * Số lần xem: 2960
Hình ảnh
#1

               
Đặng Dung (? – 1414) là tác giả bài thơ Thuật hoài nổi tiếng và là danh tướng nhà hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông quê người huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Theo Đại Nam Nhất Thống Chí - phần Nghệ An tỉnh thì: Tổ tiên Đặng Dung vốn người Hóa Châu, sau di cư đến làng Phù Lưu, huyện Thiên Lộc

Dưới triều nhà Hồ, ông giúp cha là Đặng Tất (? - 1409) cai quản đất Thuận Hóa. Sau khi quân Minh từ Trung Quốc tiến chiếm nước Việt (khi ấy có quốc hiệu là Đại Ngu), nhà Hồ sụp đổ, Đặng Dung cùng cha tham gia cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi, tức Giản Định Đế

Năm 1409, sau trận đại chiến ở Bô Cô (xã Hiếu Cổ, huyện Ý Yên, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay); vì nghe lời gièm pha của bọn hoạn quan là Nguyễn Quỹ, nói rằng Đặng Tất chuyên quyền, vua Giản Định Đế đem lòng ngờ vực đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung tức giận bỏ Trần Ngỗi, cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) rước Trần Quý Khoáng từ Thanh Hóa về đất Chi La (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), tôn lên ngôi vua (tức Trùng Quang Đế), và ông được giữ chức Đồng bình chương sự

Về sau, do nhu cầu cần phải hợp nhất hai lực lượng, các tướng của Trần Quý Khoáng do Nguyễn Súy cầm đầu đã tổ chức đánh úp vào Ngự Thiên, đem Trần Ngỗi về Chi La tôn làm Thượng Hoàng

Dù phải chiến đấu dưới quyền người đã giết cha mình, nhưng vì sự nghiệp chung ông đã “vượt lên trên tất cả, trước sau vẫn giữ vững phẩm cách đường đường của một vị tướng.” (Nguyễn Khắc Thuần, sách dẫn bên dưới, tr. 234). Từ đó ông trải qua rất nhiều trận giao chiến, nổi bật hơn cả là trận đánh vào tháng 9 năm Quý Tị (1413) ở khu vực Thái Gia (theo Minh Sử của Trương Đĩnh Ngọc thì trận đánh này xảy ra tại Ái Tử, nay thuộc huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Dẫn lại theo Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr. 235)

Đại Việt Sử Kí Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên chép:

“Đang khi đôi bên quân nam và quân bắc đang cầm cự nhau thì Đặng Dung bí mật dùng bộ binh và tượng binh mai phục, đúng nửa đêm thì bất ngờ đánh úp vào doanh trại của (Trương) Phụ. (Đặng) Dung đã nhảy lên thuyền của (Trương) Phụ và định bắt sống (Trương) Phụ nhưng lại không biết mặt để có thể nhận ra hắn, vì thế, (Trương) Phụ liền nhảy sang thuyền nhỏ chạy thoát. Quân Minh bị tan vỡ đến quá nữa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần hết, thế mà (Nguyễn) Súy không biết hợp lực để cùng đánh. (Trương) Phụ biết quân của (Đặng) Dung ít nên lập tức quay lại đánh. (Đặng) Dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan tác hết.” (theo Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Bản kỉ toàn thư, quyển 9, tờ 22-b). Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép tương tự và hạ bút viết lời tiếc rẻ: ''Trời nuông tha trương Phụ'' (Chính biên, quyển 12, tờ 39)

Nguyễn Khắc Thuần kể tiếp:

“Tháng 11 năm 1413, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống khi đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La để tính kế lâu dài. Vì liên tục lớn tiếng chửi mắng nên Nguyễn Cảnh Dị đã bị Trương Phụ hạ lệnh giết ngay. Còn Đặng Dung cùng Trần Quý Khoáng, Nguyễn Súy và một số tướng lãnh khác bị áp giải về Yên Kinh (Trung Quốc). Dọc đường, Trần Quý Khoáng nhảy xuống biển tự tử, Đặng Dung cũng lập tức nhảy xuống chết theo.” (Sách dẫn bên dưới, tr. 236)

Trần Trọng Kim cũng cho biết tương tự:

“Từ khi thua trận ấy rồi, Trần Quý Khoách thế yếu quá không thể chống với quân giặc được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi. Chẳng được bao lâu Trần Quý Khoáng, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Nguyễn Súy đều bị bắt, và phải giải về Yên Kinh cả. Đi đến giữa đường, Quý Khoách nhảy xuống bể tự tử, bọn ông Đặng Dung cũng tử tiết cả. Ông Đặng Dung có làm bài thơ Thuật hoài, mà ngày nay còn có nhiều người vẫn truyền tụng

Cha con ông Đặng Dung đều hết lòng giúp nước phò vua, tuy không thành công được, nhưng cái lòng trung liệt của nhà họ Đặng cũng đủ làm cho người đời sau tưởng nhớ đến, bởi vậy hiện nay còn có đền thờ ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh...” (nxb Tân Việt, Sài Gòn, tr. 197)

THUẬT HOÀI

Là bài thơ tự sự của Đặng Dung khi ông đem quân giúp vua Trùng Quang Đế, nhưng do lòng người ly tán, quân binh ít ỏi, lương thực thiếu thốn nên cuối cùng đã thất bại. Bài thơ thể hiện ý chí sắt đá của một người anh hùng nhưng không may là không gặp thời thế, công việc chưa xong thì tuổi đã già

Bài Thuật hoài được viết bằng chữ Hán theo thể thất ngôn luật

Nguyên tác:

感懷

世事悠悠奈老何

無窮天地入酣歌

時來屠釣成功易

運去英 雄飲恨多

致主有懷扶地軸

洗兵無路挽天河

國讎未報頭先白

幾度龍泉戴月磨

Phiên âm Hán-Việt:

THUẬT HOÀI

Thế sự du du nại lão hà

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

Thời lai đồ điếu thành công dị

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa

Trí chủ hữu hoài phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma

Dịch nghĩa:

Việc đời dằng dặc mà ta đã già, biết làm thế nào

Trời đất mênh mông đắm trong cuộc rượu hát ca

Khi gặp thời, người làm nghề hàng thịt, kẻ câu cá cũng dễ thành công

Lúc lỡ vận, bậc anh hùng đành phải nuốt hận nhiều

Giúp chúa, những mong xoay trục đất lại

Rửa vũ khí không có lối kéo tuột sông Ngân xuống

Thù nước chưa trả được mà mái tóc đạ bạc sớm

Bao phen mang gươm báu mài dưới bóng trăng

Bản dịch của Tản Đà:

Việc đời man mác, tuổi già thôi

Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi

Gặp gỡ thời cơ may những kẻ

Tan tành sự thế luống cay ai

Phò vua bụng những mong xoay đất

Gột giáp sông kia khó vạch trời

Đầu bạc giang san thù chửa trả

Long tuyền mấy độ bóng trăng soi

Bản dịch của Phan Kế Bính:

Việc đời bối rối tuổi già vay

Trời đất vô cùng một cuộc say

Bần tiện gặp thời lên cũng dễ

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay

Vai khiêng trái đất mong phò chúa

Giáp gột sông trời khó vạch mây

Thù trả chưa xong đầu đã bạc

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày

Bản dịch của Phan Võ:

Việc thế lôi thôi tuổi tác này

Mênh mông trời đất hát và say

Gặp thời đồ điếu thừa nên việc

Lỡ vận anh hùng luống nuốt cay

Giúp chúa những lăm giằng cốt đất

Rửa đòng không thể vén sông mây

Quốc thù chưa trả già sao vội

Dưới nguyệt mài gươm đã bấy chầy

Bản dịch của Ngô Văn Phú:

(Tinh hoa và Nhân tài đất Việt

NXB Hội Nhà Văn-Hà nội 2008)

NỖI LÒNG

Dằn dặt chuyện đời biết tính sao

Say cùng trời đất hát nghêu ngao

Gặp thời kẻ mọn nên công dễ

Vận lỡ anh hùng hận mấy tao

Giúp chúa những mong giành đất cõi

Tẩy binh khôn dễ kéo trời cao

Quốc thù chưa trả đầu phơ tóc

Trăng sáng mài gươm mới độ nào

                         

                         ****************************

Đặng Dung, Bậc Anh Hùng Lỡ Vận và bài thơ "Cảm Hoài"
 Vô Ngã PHẠM KHẮC HÀM

      
   Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma
(Bao lần mài thanh gươm Long Tuyền dưới ánh trăng)
Nét vẽ Ngọc Dũng - Tài liệu của tạp chí Khởi Hành

Khi quân Tầu lấy cớ "phù Trần diệt Hồ" sang cướp nước ta, con cháu nhà Trần đã dựng cờ khởi nghĩa chống lại. Nhưng vận nước chưa tới nên cuối cùng cuộc khởi nghĩa thất bại. Khi bị bắt giải về Tầu, các lãnh tụ kháng chiến đều tự sát, nêu gương muôn thuở anh hùng. Trong các vị ấy, có một nhân vật phi thường, đó là Đặng Dung.


 

Nguyên ông này là con cửa tướng Đặng Tất, một bộ tướng của Giản Định Đế, sinh quán tại Tả Thiên Lộc, huyện Phi Lộc, (huyện Can Lộc tỉnh Nghệ An ngày nay).

Vì giận Giản Định Đế [1407-1409] đã nghe lời gièm pha mà giết oan cha mình nên Đặng Dung đã bỏ ông ta mà tôn Trần Đế Quí Khoáng lên làm vua, và được phong làm Đồng Bình Chương Sự.


 

Trong năm năm kháng chiến, nhiều lần trực tiếp đánh nhau với quân Tầu. Một đêm vào tháng 9, năm 1413, ông cầm đầu một toán quân quyết tử, đánh úp trại của tướng giặc là Trương Phụ, phá thuyền bè, khí giới và nhẩy lên thuyền định bắt sống viên tướng Tầu. Nhưng vì trời tối, nên hắn trốn thoát được.

Lấy một chống mười, nghĩa quân bị tiêu diệt dần dần. Cuối cùng, quân hết, tướng chết, ông bị giặc bắt giải về Yên Kinh.

Trên đường đi, ông đã tự sát.


 

Là một võ tướng sống giữa sa trường, ông chỉ để lại một tác phẩm, nhưng lại là một tuyệt tác văn chương, thiên thu bất hủ, đó là bài Cảm hoài.


 

Phiên âm:

 

CẢM HOÀI

 

Thế sự du du nại lão hà,

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.

Thời lai đồ điếu thành công dị,

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

Trí chúa hữu hoài, phù địa trục,

Tẩy binh vô lộ, vãn thiên hà.

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,

Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

      ĐẶNG DUNG

         感懷
世  事  悠  悠  奈  老  何
無  窮  天  地  入  酣  歌
時  來  屠  釣  成  功  易
運  去  英  雄  飲  恨  多
致  主  有  懷  扶  地  軸
洗  兵  無  路  挽  天  河
國  讎  未  報  頭  先  白
幾  度  龍  泉  戴  月  磨

 

Nhắc lại bối cảnh lịch sử của bài thơ CẢM HOÀI

 

Họ Hồ mất nước [1407], Giản Định Đế nhà Trần liền khởi nghĩa ở Thuận Hoá, nhân dân hưởng ứng rất đông. Đang đánh cho quân Tầu tan tác thì Giản Định Đế cũng u mê và dại dột như cha, đã giết hại cột trụ của kháng chiến là Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất [1409]. Nghĩa quân bèn bỏ ông để phò Trần Đế Quí Khoáng lên ngôi hiệu là Trùng Quang. Cuộc kháng chiến mất hẳn sức mạnh.


 

Năm 1409, Giản Định Đế bi giặc bắt giải về Kim Lăng, vua Trùng Quang tiếp tục tháng chiến. Cuối cùng, quân chết, tướng tan, bị bắt giải về Tầu [1409-1413]; trên đường đi, vua tôi tuẫn tiết như những chân chính anh hùng [l414]. Bốn năm sau, Lê Lợi dựng cờ ở Lam Sơn [1418], lấy máu một loạt các tước Bá, tước Hầu của quân Tầu để rửa đất nước [1427].


 

Dịch Nghĩa:


 

Việc đời dằng dặc, (nhưng) già (rồi), biết làm sao?

Trời đất vô cùng nhập vào trong tiếng hát say.

Gặp thời, làm đồ tể, đi câu, thành công cũng dễ,

Vận hết, anh hùng nuốt hận nhiều.

Hết lòng với chúa, có hoài bão đỡ trục trái đất,

Muốn rửa giáp binh nhưng vô phương kéo lại sông Ngân.

Quốc thù chưa báo đầu bạc trước,

Bao lần đội ánh trăng mài kiếm


 

Lời Bàn:

 

Có thể coi bài thơ này như là một bài thơ tuyệt mệnh, làm trước khi tác giả sa vào tay giặc [năm 1413]. Bài thơ nói lý do tại sao cuộc phục quốc lại thất bại.

Trải năm trăm năm, bài thơ đã làm rung động biết bao nhiêu thế hệ vì cái cảm khái bi hùng của nó. Lã Tử Tấn đời Lê đã phê bình ngắn gọn: "Phi hào kiệt chi sĩ, bất năng."(Không là hào kiệt trong đám kẻ sĩ, không làm được).


 

SĨ là học giả mà cũng là người quân tử, hào kiệt là người có tài năng xuất chúng, nên phê bình tác giả là "bậc hào kiệt trong đám kẻ SĨ" là đã ca tụng hết lời. Mà đúng vậy: Tác giả là một chiến sĩ gan cùng mình, võ công xuất chúng, cho nên ban đêm mới dám một mình một kiếm xông vào giữa trại giặc để bắt Trương Phụ là chủ soái quân thù. Nhưng trời chưa tựa lòng người thì đành phải chịu.


 

Đánh giá bài thơ là "chỉ có bậc anh hùng xuất chúng trong đám kẻ sĩ mới làm nổi"cũng không phải là quá lời. Thực thế, văn học sử cận đại có những bài thơ cảm khái của các tướng lãnh Cần Vương, hoặc bi phẫn của những nhà cách mạng bất đắc chí, nhưng không có bài nào làm ta cảm xúc như bài này. Đặc biệt là hai câu phá đề quá đẹp đã khơi trong lòng ta một cảm giác u hoài mênh mông. Một bầu trời đẹp và buồn hiu hắt thoáng hiện như trong một giấc mơ.

Ta hãy đọc lại bài thơ.


 

Câu [1]:

Thế sự du du, nại lão hà?


 

Thế sự du du - thế sự ở đây không phải là sự kiện lạnh lùng của lịch sử mà là sự việc cảm nhận bằng trái tim. Du du, nói về sự vật, có nghĩa là dài dằng dặc, xa thăm thẳm; nói về tình cảm, có nghĩa là buồn mênh mông, nhớ thương vời vợi... Vậy thế sự du du có nghĩa là việc đời ngổn ngang trăm mối, dằng dặc không cùng, mà cũng có nghĩa là xót xa day dứt.


 

Từ ngữ "thế sự du du" mang một âm hưởng mênh mông nên làm dấy lên trong tiềm thức một cảm giác u hoài khó tả, nhưng nó đã diễn tả một cách chính xác tâm sự rối bời, đau xót của một mãnh tướng bị dồn vào bước đường cùng.

Nại lão hà: (già rồi, biết làm sao?)

Tiếng thở dài của một chiến sĩ gục ngã nghe buồn hơn tiếng khóc.


 

Câu [2]:

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.


 

"Trời đất vô cùng nhập vào trong tiếng hát say," câu thơ mở ra một khoảng trời đất mang mang vô tận. Hình ảnh đẹp quá nhưng nắm bắt ý nghĩa chính xác thì thực là khó khăn! Thế nào là "Trời đất nhập vào trong tiếng hát say?" Nhập vào có nghĩa là hoà hợp làm một, hợp nhất với, hay nói một cách cụ thể, là phần tinh thần cao siêu hợp nhất với phần thể chất thô sơ, ví dụ như trong câu: "Thần linh nhập vào xác đồng." Vậy "Trời đất nhập vào trong tiếng hát say" có thể hiểu một cách đơn giản là: "Trong tiếng hát say có cả một trời đất bao la." Ý nghĩa như vậy rất rõ ràng, nhưng "trời đất bao la" có liên hệ gì tới những sự đau thương của tác giả?


 

Hình như không có liên hệ nào cả, ngoài tính chất mênh mông của sự đau thương. Thực thế, nhà thơ đã mất quá nhiều, mất nước, mất hy vọng, mất chiến hữu, nỗi đau của ông mênh mông như trời đất. Cái mênh mông ấy phổ vào trong tiếng hát say, tác động vào tiềm thức người đọc, gây nên một cảm giác mang mang khó tả, như có một ngọn gió lạnh ở bên kia thế giới thổi về.


 

Thực ra, một bài thơ hay, một bản nhạc làm rung cảm hay một bức tranh vẽ nhập thần, thường chỉ nên lấy tâm mà thưởng thức, không nên dùng lý trí mà phân tích. Vì cái đẹp cũng như khói như sương, nhìn thấy đấy, nhưng nắm bắt thì nó sẽ lọt qua kẽ tay. Ở đây cũng vậy. Hồn của câu thơ là hồn của tác giả. Có ai nắm được linh hồn đâu?


 

Nhà thơ bản chất là một ông tướng, cô đơn trong nỗi đau mênh mông, nên ông than vãn với trời với đất. Nên cũng có thể nói là trời đất đã nhập vào tiếng hát cuồng say...


 

Cái thần của bài thơ cô đọng trong hai câu đầu, những câu sau, [3,4,5,6,7] chỉ giải thích và làm sáng tỏ hai câu ấy. Thực thế, trong


 

Cáu [3-4]:

Thời lai, đồ điếu thành công dị,

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.


 

nhà thơ nhận định thành bại chỉ là do vận nước, không phải vì có tài hay bất tài.


 

Câu [5-6}:

Trí chúa, hữu hoài phù địa trục,

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.


 

nói về hoài bão của đời mình: phò vua [trí chúa], cứu quốc [phù địa trục], muốn đưa nhân dân đến thanh bình [tẩy binh], nhưng không có cách xoay lại càn khôn: Vô lộ vãn thiên hà.


 

Câu [7] là lời than thở về sự thất bại đau đớn nhất trong đời:


 

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,


 

Nhưng câu chót [8] chấm dứt bài thơ tuyệt mệnh lại làm ta sửng sốt vì cái vị trí tuyệt kỳ của nó. Đó là một sự quyết tâm sắt thép:


 

Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

 

(Bao lần mài lưỡi Long Tuyền dưới trăng)

Nghĩa là tuyệt mệnh nhưng đâu có tuyệt vọng!


 

Nên trong lời than vẫn ngời lên ánh thép. Bài thơ có hậu là ở chỗ đó! Có hậu không phải cho bản thân tác giả mà cho hậu vận của đất nước! Đây chính là sự kỳ diệu của thi ca.


 

Đúng vậy, mười lăm năm sau nghĩa quân Lam Sơn đã rửa lưỡi Long Tuyền bằng máu của An Viễn hầu Liễu Thăng, Bảo Định bá Lương Mình, Binh Bộ thượng thư Lý Khánh cùng hàng chục danh tướng khác của triều Minh.


 

Người viết bài này xin phỏng dịch:


 

VÔ NGÃ phóng dịch


 

Việc đời mờ mịt,

Già rồi, tính sao đây?

Trong tiếng hát say,

Chứa cả một bầu trời đau xót.


 

Thời tới, mổ heo xây nghiệp lớn,

Vận cùng, cái-thế cũng xuôi tay!


 

Ta muốn nâng trái đất,

Xoay lại địa cầu,

Dựng lại nước,

Nhưng hỡi ơi!

Khôn xoay nổi cơ trời.


 

Quốc thù chưa trả đầu đã bạc,

Luỡi Long Tuyền bao năm mài dưới nguyệt,

Phó sao đành,

Cho con nước trôi xuôi.


 

VIÊN LINH dịch


 

Sự thế lan man thốt tuổi già

Đất trời mù mịt thấm men ca.

Gặp thời kẻ chợ1 thành công dễ

Lỡ vận anh hùng nuốt hận qua.

Giúp nước từng mong xoay mạch đất

Giải binh không kế kéo Thiên Hà.2

Quốc thù chưa trả đầu xanh bạc

Gươm báu3 mài trăng đã mấy thu.


 

1. Kẻ chợ là dịch bóng hai chữ đồ, điếu. Đồ: mổ thịt. Đíếu: câu cá. (Theo Tản Đà, Phàn Khoái trước là"thằng bán thịt," Hàn Tín là "thằng đi câu,") vậy ở đây Đặng Dung có ý nói Phàn Khoái, Hàn Tín gặp thời nên thành công kbông khó khăn gì. (Chú thích của dịch giả bài thơ.)


 

2. Đỗ Phủ có câu: "An Đắc tráng sĩ văn thiên hà, tẩy tận giáp binh trường bất dụng," nghĩa là "Mong sao được người tráng sĩ kéo sông Ngân trên trời xuống để rửa hết các đồ giáp binh, không bao giờ dùng đến nữa." (Chú thích của Hư Chu, trong Văn Đàn Bảo Giám, dịch giả bài thơ sao lục.)


 

3. Gươm báu: nguyên bản 1à Long Tuyền. Trương Hoa đời Tấn đêm đêm thấy giữa sao Đẩu và sao Ngưu có vệt hào quang màu đỏ, bèn mời nhà thiên văn Lôi Hoán tới hỏi vì sao? Hoán nói đó là do cái tinh khí của bảo kiếm ở đất Phong Thành xông lên. Hoa cho Hoán đến làm quan cai trị Phong Thành, mục đích là tìm lấy bảo kiếm. Hoán lần dấu vết, đào được dưới nền nhà ngục một cái hòm đá chôn sâu bốn trượng, mở ra thì thấy bên trong có hai thanh gươm báu, một thanh có khắc hai chữ Long Tuyền, một thanh có khắc hai chữ Thái A. Từ đó vệt hào quang màu đỏ trên trời biến mất. (Chú thích của dịch giả bài thơ.)


 

[Bài trên đây là một Tiết trong đại tác phẩm Văn Thơ Lý Trần của nhà thơ, nhà biên khảo Phạm Khắc Hàm, cuốn đầu sẽ do Khởi hành xuất bản vào cuối năm 2008.]


 

Phạm Khắc Hàm
Tạp chí Khởi Hành số 140 tháng 6.2008, trang 12

 

Lý Đông A và bài thơ Vết Bô Cô về Cha con Đặng Dung
 LÝ ĐÔNG A

 

Vết Bô Cô


 

Bài Vết Bô Cô in trong tập Đạo Trường Ngâm, do Lý Đông A sáng tác năm 1944.

 

Người anh hùng cứu quốc đứng lên hô,

Quyết đem thân sống chết với quân Ngô.

Tiếng Cần Vương vừa hầm hè bến Mộ,

Sóng ba quân đà cuồn cuộn non Bô.


 

Đây non Bô sừng sững bến Huyền Hà,

Biết bao vàng với máu đất đem pha,

Bao sĩ tử hồn oan ngậm cây cỏ,

Vì quân Ngô giày xéo nước non nhà.


 

Lòng phẫn hận một đêm sấm sét hô,

Trong ngoài kênh dàn dụa máu quân Ngô.

Oai Tuyên Đức bạt theo hồn Trương Phụ.

Đầy thành mà sụp đổ dưới non Bô.


 

Thành đâu xây sừng sững bến Huyền Hà,

Sắc dòng thu lẫn sắc lúa mùa pha,

Công Nguyễn, Đặng giống nòi ai biết cả.

Bà A Đào thành ấy ruộng riêng nhà.


 

Bà A Đào muôn năm công vẫn còn,

Máu Trưng Vương gái Việt hồn sắt son,

Kiếm nương tử, mưu anh thư nào khác,

Giết quân thù lặn lội vì nước non.


 

Sử sách viết nhiều về hai cha con anh hùng Đặng Tất và Đặng Dung, những công thần của nhà Trần và cũng là những anh hùng chống quân Minh. Đặng Tất là người từng chém được quan nhà Minh là Binh bộ Thượng thư Lư Tuấn và Đô ty Lữ Nghị, còn Mộc Thạch may mắn chạy thoát.

Bài sau đây trích từ sách Đại Nam Nhất Thống chí do Quốc Sử quán Triều Nguyễn biên soạn.

Bài thơ dịch bài Cảm hoài [hay Thuật hoài] trong bộ sách trên là một bài dịch chuẩn xác và hay.


 

Đặng Tất: nguyên người Hóa Châu, sau dời đến ở huyện Can Lộc, cuối đời Trần làm đại tri châu Hóa Châu. Bấy giờ Giản Định Đế nhà Trần lên ngôi ở Mô Độ Trường Yên, bị tướng Minh Trương Phụ phá hành dinh phải chạy đến Nghệ An; ông nghe tin giết quan lại nhà Minh và đem quân đến hội, dâng con gái vào hậu cung. Giản Định Đế phong ông tước quốc công, cùng nhau lo việc khôi phục. Tất đánh bắt được tướng đầu hàng quân Minh là Phạm Thế Căng ở cửa biển Nhật lệ, rồi điều quân các lộ Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa tiến ra đánh Đông Đô. Đi đến đâu thì quan lại cùng hào kiệt các nơi đều hưởng ứng vui theo, đánh tan được quân Minh ở bến đò Bô Cô, chém được quan Minh là Binh bộ thượng thư Lưu Tuấn và Đô ty Lữ Nghị. Mộc Thạnh thì chạy thoát được. Từ đấy quân uy vang dậy. Sau hoạn quan Nguyễn Quỹ gièm là Đặng Tất chuyên quyền, Giản Định Đế đem lòng ngờ vực, ông bèn bị giết.


 

Đặng Dung: con Đặng Tất, giận vì cha phải chết oan, đem quân Thuận Hóa về Thanh Hóa, rước Trần Quý Khoáng đến Nghệ An lập làm vua, đổi niên hiệu là Trùng Quang. Quý Khoáng cho ông làm đồng bình chương sự. Trương Phụ cướp Nghệ An, vua Trùng Quang chạy vào Hóa Châu. Phụ phạm thành Hóa Châu, đánh nhau to ở kênh Thái Già; hai quân đương cầm cự nhau, Dung ban đêm đánh úp dinh của Phụ, nhảy lên thuyền Phụ muốn bắt sống, nhưng không biết rõ hình dạng thế nào, Phụ bèn nhảy sang thuyền nhỏ trốn thoát, quân Minh gần vỡ. Sáng hôm sau, Phụ thấy Dung ít quân lại đến đánh Dung vỡ, Dung bị Phụ bắt được giải sang Yên Kinh. Đi giữa đường, ông nhảy xuống sông tự tử. Có để lại bài thơ "Thuật hoài" rằng:


 

"Thế sự du du nại lão hà?

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca,

Thời lai đồ điếu thành công dị,

Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

Trí chúa hữu hoài, phù địa trục,

Tẩy binh vô lộ, vãn thiên hà.

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,

Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma".


 

nghĩa là:


 

Nỗi đời còn rối đã già sao!

Trời đất vô cùng, say hát ngao.

Gặp bước điếu đồ nên việc dễ,

Lỡ thời hào kiệt tủi thân nhiều.

Thờ vua trục đất ôm lòng đỡ;

Rửa kiếm sông Ngân kéo lối nao?

Thù nước chưa đền đầu đã bạc.

Long Tuyền dưới nguyệt luống mài dao.


 

Sau người ta lập đền thờ chung với cha là Đặng Tất ở thôn Tả Hạ, xã Can Lộc.


 

Lý Đông A
Tạp chí Khởi Hành số 140 tháng 6.2008, trang 12

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.