Aug 22, 2019

Tập thơ

Chinh Phụ Ngâm / Bản Đặng Trần Côn / Bản Đoàn Thị Điểm-Phan Huy Ích
Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748) * đăng lúc 09:02:53 PM, Mar 09, 2015 * Số lần xem: 2576
Hình ảnh
#1
#2

 

Chinh Phụ Ngâm

 

 

Bản Đặng Trần Côn

Bản dịch theo nguyên thể

Bản Đoàn Thị Điểm-Phan Huy Ích

I Loạn Thời

 

 

 

Thiên địa phong trần

Hồng nhan đa truân

Du du bỉ thương hề thuỳ tạo nhân.

 

 

4.Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt

Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân

Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch

Bán dạ phi hịch truyền tướng quân

Thanh bình tam bách niên thiên hạ

Tùng thử nhung y thuộc vũ thần

 

 

10. Sứ tinh thiên môn thôi hiểu phát

Hành nhân trọng pháp khinh ly biệt

Cung tiễn hề tại yêu

Thê noa hề biệt khuyết

Liệp liệp tinh kỳ hề xuất tái sầu

Huyên huyên tiêu cổ hề từ gia oán

Hữu oán hề phân huề

Hữu sầu hề khế khoát

 

 

 

18. Lương nhân nhị thập Ngô môn hào

Đầu bút nghiên hề sự cung đao

Trực bả liên thành hiến minh thánh

Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêu

Trượng phu thiên lý chí mã cách

Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao

Tiện từ khuê khổn tùng chinh chiến

Tây phong minh tiên xuất Vị kiều

 

 

 

 

 

Đất trời gió bụi

Mà hồng nổi trôi

Nỗi đắng cay ai chuốc phận người !

 

 

Trăng lung lay nhịp hồi trống thúc

Lửa bay lên sém đỏ mây trời

Trên trướng gấm, quẳng ly, chống kiếm

Hịch nửa đêm truyền: hỡi ba quân

Thuở thanh bình ba trăm năm lẻ

Giáp nhung nay trao lại  võ thần

 

 

Nhấp nháy sao mai như giục bước

Quân đi lệnh trọng, giờ chia ly

Cung tên, hề, trên vai

Vợ con, hề, thôi đi

Nờm nợp bóng cờ sầu ra quan ải

Kèn trống inh tai, ai oán nỗi nhà

Dẫu oán, cũng chia tay

Dẫu buồn, rồi quyết biệt

 

 

 

Chàng mới đôi mươi nòi hào kiệt

Bút nghiên vứt bỏ, tay cung đao

Quyết hạ trăm thành dâng Minh thánh

Thề vung kiếm sắc chém giặc trời

Trượng phu nghìn dặm thân da ngựa

Thái sơn xem nhẹ tựa lông hồng

Giã nhà sải bước đi chinh chiến

Gió tây cầu Vị thét ngựa lồng

 

 

 

 

 

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm từng trên

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này

 

Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt

Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây

Chín tầng gươm báu trao tay

Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh

Nước thanh bình ba trăm năm cũ.

 Áo nhung trao quan vũ từ đây.

 

 

Sứ trời sớm giục đường mây,

Phép công là trọng, niềm tây sá nào.

Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn,

Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.

Bóng cờ tiếng trống xa xa,

Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.

 

 

 

 

 

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,

Xếp bút nghiên theo việc đao cung.

Thành liền mong tiến bệ rồng,

Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,

Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.

Giã nhà đeo bức chiến bào,

Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.

 

 

 

II Xuất chinh

 

26. Vị kiều đầu thanh thuỷ câu

Thanh thuỷ biên thanh thảo đồ

Tống quân xứ hề tâm du du

Quân đăng đồ hề thiếp hận bất như câu

Quân lâm lưu hề thiếp hận bất như chu

Thanh thanh hữu lưu thuỷ

Bất tẩy thiếp tâm sầu

Thanh thanh hữu phương thảo

bất vong thiếp tâm ưu

 

 

35. Ngữ phục ngữ hề chấp quân thủ

Bộ nhất bộ hề khiên quân nhu

Thiếp tâm tùy quân tự minh nguyệt

Quân tâm vạn lý Thiên Sơn tiễn

Trịch ly bôi hề vũ Long Tuyền

Hoành chinh sáo hề chỉ hổ huyệt

Vân tuỳ Giới Tử liệp Lâu Lan

Tiếu hướng Man Khê đàm Mã Viện

Quân xuyên trang phục hồng như hà

Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết

 

45. Kiêu mã hề loan linh

Chinh cổ hề nhân hành

Tu du trung hề đối diện

Khoảnh khắc lý hề phân trình

Phân trình hề hà lương

Bồi hồi hề lộ bàng

Lộ bàng nhất vọng hề bái ương ương

 

 

52. Tiền xa hề Bắc Tế Liễu,

Hậu kỵ hề Tây Trường Dương

Kỵ xa tương ủng quân lâm tái

Dương liễu na tri thiếp đoạn trường

Khứ khứ lạc mai thanh tiệm viễn

Hành hành chinh bái sắc hà mang

Vọng vân khứ hề lang biệt thiếp

Vọng sơn quy hề thiếp tư lang.

 

 

60. Lang khứ trình hề mông vũ ngoại

Thiếp quy xứ hề tạc dạ phòng

Quy khứ lưỡng hồi cố

Vân thanh hề sơn thương

Lang cố thiếp hề Hàm Dương

Thiếp cố lang hề Tiêu Tương

Tiêu Tương yên trở Hàm Dương thụ

Hàm Dương thụ cách Tiêu Tương giang

Tương cố bất tương kiến

Thanh thanh mạch thượng tang

Mạch thượng tang

mạch thượng tang

Thiếp ý quân tâm thuỳ đoản trường

 

II  Xuất chinh

 

Ngòi đầu cầu nước xanh trong

Ven nước xanh, cỏ xanh mọc

Tiễn chàng đi lòng ađu dằn dặc

Chàng lên đường, hề, thiếp sao không là ngựa

Chàng xuống sông, hề, thiếp sao chẳng là thuyền

Nước xanh xanh cứ chảy

Trôi sao nổi muộn phiền

Cỏ xanh xanh cứ mọc

Nguôi sao nổi muộn phiền

 

 

Câu nhắn nhe, hề, tay cầm tay

Bước, bước đi, lại níu áo chàng

Lòng thiếp rõi theo như trăng sáng

Dạ chàng muôn dặm chốn Thiên san

Rượu tiễn một ly tay vung kiếm

Chỉ vào hang hổ, ngọn giáo ngang

Theo gương tráng khách lùng giặc dữ

Mắt bóng non sông việc nước bàn

Áo chàng rực đỏ pha sắc ráng

Ngựa lông tuyết trắng vó quan san

 

Nhạc ngựa, hề, đã trổi

Trống xuất chinh, người đi

Còn phút này, đối mặt

Thêm một quãng, đường chia

Đường chia, đường ngăn sông

Ven đường, mắt rõi trông

Bóng cờ thấp thoáng, hề, xa mênh mông

 

Quân trước, nay ngoài Tế liễu

Kỵ sau, còn nẻo Trường dương

Xe dong ngựa ruổi chàng qua ải

Dương liễu nào hay thiếp đoạn trường

Sáo văng vẳng tiếng nhành mai rụng

Phất phơ cờ xí sắc mông lung

Mây bay xa khuất chàng xa thiếp

Núi dựng ghềnh cao thiếp nhớ chàng

 

 

Nẻo chàng đi mưa rơi tầm tã

Nơi thiếp về đêm giá phòng xưa

Đi - về - cùng nghoảnh lại

Nhìn núi biếc mây đưa

Chàng ngóng thiếp nơi Hàm Dương

Thiếp mong chàng chốn Tiêu Tương

Tiêu Tương mù khói Hàm Dương khuất

Hàm Dương cách trở sóng Tiêu Tương

Cùng ngoảnh lại, chẳng thấy

Chỉ xanh xanh, ngàn dâu

Ngàn dâu xanh

ngàn dâu xanh

Ý thiếp, lòng chàng,  hỏi ai đau

 

 

 

Ngoài đầu cầu nước trong như lọc,

Đường bên cầu cỏ mọc còn non.

Đưa chàng lòng dằng dặc buồn,

Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.

Nước có chảy mà phiền chẳng rửa,

Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây .

 

 

 

 

 

Nhủ rồi nhủ lại cầm tay,

Bước đi một bước dây dây lại dừng.

Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,

Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San.

Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,

Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.

Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử,

Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba.

Áo chàng đỏ tựa ráng pha,

Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

 

Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,

Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.

Hà Lương chia rẽ đường này,

Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi.

 

 

 

 

 

Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu,

Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương.

Quân đưa chàng ruổi lên đường,

Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng.

Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng,

Hàng cờ bay trong bóng phất phơ.

Dấu chàng theo lớp mây đưa,

Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.

 

 

Chàng thì đi cõi xa mưa gió,

Thiếp thì về buồng cũ gối chăn.

 Đoái trông theo đã cách ngăn,

Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh.

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,

Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.

Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.

Ngàn dâu xanh ngắt một màu,

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.

 

III Bi Cụ

72. Tự tùng biệt hậu phong sa lũng

Minh nguyệt tri quân hà xứ túc

Cổ lai chinh chiến trường

Vạn lý vô nhân ốc

Phong ngao ngao hề đả đắc nhân nhan tiều

Thuỷ thâm thâm hề khiếp đắc mã đề súc

Thú phu chẩm cổ ngọa Long sa

Chiến sĩ bão yên miên hổ lục

 

80. Kim triêu Hán há Bạch Đăng thành

Minh nhật Hồ khuy Thanh Hải khúc

Thanh Hải khúc thanh sơn cao phục đê

Thanh sơn tiền thanh khê đoạn phục tục

Thanh sơn thượng tuyết mông đầu

Thanh khê hạ thuỷ một phúc

Khả liên đa thiểu thiết y nhân

Tư quy đương thử sầu nhan xúc

Cẩm trướng quân vương tri dã vô

Gian nan thuỳ vị họa chinh phu

 

90. Liệu tưởng lương nhân kinh lịch xứ

Tiêu Quan giác hãn hải ngung.

Sương thôn vũ điếm

Hổ lạc xà khu

Phong xan lộ túc

Tuyết hĩnh băng tu

Đăng cao vọng vân sắc

An phục bất sinh sầu

 

98. Tự tùng biệt hậu Ðông Nam kiếu

Đông Nam tri quân chiến hà đạo

Cổ lai chinh chiến nhân

Tính mệnh khinh như thảo

Phong nhận hạ ôn ôn hiệp khoáng chủ ân thâm

Thời khắc trung lịch lịch hoành qua tráng sĩ yểu

 

Kỳ sơn cựu trủng nguyệt mang mang

Phì thuỷ tân phần phong niểu niểu

Phong niểu niểu không xuy tử sĩ hồn

Nguyệt mang mang tằng chiếu chinh phu mạo

Chinh phu mạo hề thuỳ đan thanh

Tử sĩ hồn hề thuỳ ai điếu

Khả liên tranh đấu cựu giang sơn

Hành nhân quá thử tình đa thiểu

 

112. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hoàn

Ban Siêu quy thời mấn dĩ ban

Liệu tưởng lương nhân trì sính ngoại

Tam xích kiếm nhất nhung yên

Thu phong sa thảo

Minh nguyệt quan sơn

Mã đầu minh đích

Thành thượng duyên can

Công danh bách mang lý

Lao khổ vị ưng nhàn

 

 

Từ ấy chàng ra miền gió cát

Đêm nay trăng xuống ngủ nơi nao

Xưa nay đường chinh chiến

Vạn dặm không bóng nhà

Ào ào gió rát mặt dầu mày dãi

Hun hút vực ghềnh ngựa nản chân bon

Trống trận gối đầu bờ cát trắng

Ôm yên ngủ cạnh nấm mồ xanh

 

Sáng nay binh Hán xuống Bạch-thành

Ngày tới quân Hồ rình Thanh-hải

Đèo Thanh-hải núi cao rồi thấp

Trước núi xanh, khe vừa đứt lại liền

Trên núi xanh, tuyết ngập đầu

Dưới khe xanh, nước ngập bụng

Thương ai mang giáp nặng còng lưng

Nhớ vợ con mặt rầu mày rĩ

Trướng gấm Vua cao nào có biết

Gian nan cám cảnh phận  chinh phu

 

Thiếp tưởng đặt chân nơi chàng bước

Góc Hãn  hải, hẻm Tiêu  quan

Làng sương,  quán ướt

Khe rắn, hang beo

Ăn uống phong sương

Tuyết băng râu bám

Lên cao nhìn mây xuống

Lòng thiếp luống xót thương

 

Từ độ chàng xuôi miền quan ải

Đông nam chinh chiến biết nơi đâu

Xưa nay thân người lính

Mạng rẻ như cỏ sâu

Gan góc gồng mình phải đâu vì thâm ơn Chúa

Loang loáng luỡi dao vung phận tráng sĩ mỏng

                                                               manh

Núi Kỳ trăng cũ mờ nhân ảnh

Sông  Phì  mả đắp gió chưa xanh

Hắt hiu gió lay động hồn tử sĩ

Dằng dặc trăng soi buốt mặt chinh phu

Mặt chinh phu, ai tô lại

Hồn tử sĩ, ai viếng thăm

Binh lửa nát nhầu giang sơn cũ

Người qua kẻ xót hỏi bao lăm

 

Chinh chiến xưa nay về mấy kẻ

Có về chắc tóc trắng như tơ

Chàng còn rong ruổi xa xa lắc

Gươm ba thước, ngựa lưng yên

Gió thu cỏ giạt

Trăng rõi ải xa

Tên vèo đầu ngựa

Thành vượt sào cao

Công danh dường khốn khó

Lao khổ để rồi sao ?

 

 

Chàng từ đi vào nơi gió cát,

Đêm trăng này nghỉ mát phương nao.

Xưa nay chiến địa dường bao,

Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu.

Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn,

Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon.

Ôm yên gối trống đã chồn,

Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.

 

Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại,

Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua.

Hình khe, thế núi gần xa,

Dứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.

Sương đầu núi buổi chiều như giội,

Nước lòng khe nẻo suối còn sâu .

Thương người áo giáp bấy lâu,

Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.

Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ,

Mặt chinh phu ai vẽ cho nên.

 

Tưởng chàng giong ruổi mấy niên,

Chẳng nơi hãn hải thì miền Tiêu Quan.

Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ,

Lại lạnh lùng những chỗ sương phong.

Lên cao trông thức mây lồng

Lòng nào là chẳng động lòng bi thương!

 

 

 

Chàng từ sang Đông Nam khơi nẻo,

Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu.

Những người chinh chiến bấy lâu,

Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.

 

Nức hơi mạnh, ơn dày từ trước,

Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu.

Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo,

Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.

 

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,

Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.

Chinh phu tử sĩ mấy người,

Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.

 

 

Dấu binh lửa, nước non như cũ,

Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.

Phận trai già ruổi chiến trường,

Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về.

Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ,

Ba thước gươm, một cỗ nhung yên.

Xông pha gió bãi trăng ngàn,

Tên reo đầu ngựa, giáo dan mặt thành.

Áng công danh trăm đường rộn rã,

Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi .

 

 

IV Hoài tưởng

122.Lao dữ nhàn thuỳ dữ ngôn

Quân tại thiên nhai, thiếp ỷ môn

Ỷ môn cố thiếp kim sinh phận

Thiên nhai khởi quân bình sinh hồn

Tự tín tương tuỳ ngư thuỷ bạn

Na kham tương cách thuỷ vân thôn

Thiếp thân bất tưởng vi chinh phụ

Quân thân khởi học vi vương tôn

 Hà sự giang Nam dữ giang Bắc

Linh nhân sầu hiểu cánh sầu hôn

Nhất cá thị phong lưu thiếu niên khách

Nhất cá thị thâm khuê thiếu niên hôn

Khả kham lưỡng niên thiếu

Thiên lý các hàn huyên

 

136. Ức tích dữ quân tương biệt thời

Liễu điều do vị chuyển hoàng ly

Vấn quân hà nhật quy

Quân ước đỗ quyên đề

 Đỗ quyên dĩ trục hoàng ly lão

Thanh Liễu lâu tiền ngữ ý nhi

Ức tích dữ quân tương biệt trung

Tuyết mai do vị thức Ðông phong,

Vấn quân hà nhật quy

Quân chỉ đào hoa hồng

Đào hoa dĩ bạn Ðông phong khứ

Lão mai giang thượng hựu phù dung

 

148. Dữ ngã ước hà sở

Nãi ước Lũng Tây sầm

Nhật trung hề bất lai

Trụy diệp đâu ngã trâm

Trữ lập không thế khấp

Hoang thôn huyên ngọ cầm

Dữ ngã ước hà sở

Nãi ước Hán Dương kiều

Nhật vãn hề bất lai

Cốc phong xuy ngã bào

Trữ lập không thế khấp

Hàn giang khởi mộ trào

 

160. Tích niên ký tín khuyến quân hồi

Kim niên ký tín khuyến quân lai

Tín lai nhân vị lai

Dương hoa linh lạc uỷ thương đài

Thương đài thương đài hựu thương đài

Nhất bộ nhàn đình bách cảm thôi

Tích niên hồi thư đính thiếp kỳ

Kim niên hồi thư đính thiếp quy

Thư quy nhân vị quy

Sa song tịch mịch chuyển tà huy

Tà huy tà huy hựu tà huy

Thập ước giai kỳ cửu độ vi

 

 

Nỗi đớn đau, kể ai hay

Thiếp ngồi tựa cửa, chàng chân mây

Tựa cửa thiếp chờ, cam phận thiếp

Chàng cuối chân mây, hẳn kiếp này

Kiếp này ư, lẽ phải bên nhau, cá với nước

Phận này à, sao giờ cách trở, nước lìa mây

Thiếp xưa nào tưởng thân chinh phụ

Chàng nào lại ngỡ phận bèo mây

Nay kẻ đầu nam  người  cuối bắc

Sáng đến chiều theo, nhớ đuổi buồn

Một bên, đây khách trượng phu niên thiếu

Một bên, đây thục nữ chốn khuê môn

Kham sao đây, đôi trẻ

Ấm lạnh, cách ngàn trùng.

 

Nhớ xưa bên chàng giờ chia tay

Cành liễu chưa vang tiếng chim hót

Hỏi chàng ngày nào về?

Hẹn: ngày đỗ quyên kêu

Chim quyên nay đã vù bay mất

Liễu xanh đầu gác, én hót trêu

Nhớ xưa bên chàng giờ chia tay

Gió đông chưa vờn cành mai trắng

Hỏi chàng ngày nào về ?

Hẹn: hoa đào đơm bông

Hoa đào gió lạnh vù bay mất

Bơ thờ hoa súng nở ven sông

 

Nơi nao hẹn cùng thiếp

Hẹn cuối góc Lũng Tây

Trưa rồi, chàng chẳng tới

Đầu trâm lá rụng đầy

Thiếp đứng rơi nước mắt

Tiếng chim còn kêu trưa

Nơi nao hẹn cùng thiếp

Hẹn trên cầu Hán Dương

Ngày tàn chàng chẳng tới

Gió đùa vạt áo vương

Thiếp, hai hàng lệ xót

Sông lạnh nước triều buông

 

Năm xưa gửi tin nhắn chàng về

Năm nay lại tin mong chàng đến

Tin đến,  người không về

Hoa dương rơi rắc lối xanh rêu

Rêu xanh rêu xanh, lối xanh rêu

Một bước sân  tình ơi trăm mối

Năm xưa tin về nhắn thiếp đợi

Năm nay, tin báo thiếp ngày về

Tin về, người chẳng về

Rèm tơ xoay nghiêng tà bóng xế

Chiều tà, chiều tà, tà bóng xế

Mười lần tin hẹn, chín lần sai

 

 

Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai,

Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.

Trong cửa này đã đành phận thiếp,

Ngoài mây kia há kiếp chàng vay.

Những mong cá nước sum vầy,

Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.

Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,

Chàng há từng học lũ vương tôn.

Cớ sao cách trở nước non,

Khiến người thôi sớm thì hôm những sầu.

Khách phong lưu đương chừng niên thiếu,

Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên.

Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,

Quan sơn để cách, hàn huyên bao đành.

 

Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,

Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca.

Nay quyên đã giục, oanh già,

Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.

Thuở đăng đồ, mai chưa dạn gió

Hỏi ngày về, chỉ độ đào bông.

Nay đào đã quyện gió Đông,

Phù dung lại đã bên sông bơ sờ . 

 

 

 

 

 

Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy,

Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm.

Ngập ngừng, lá rụng cành trâm,

Thôn trưa nghe dậy tiếng cầm lao xao.

Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ,

Chiều lại tìm, nào thấy tiêu hao?

Ngập ngừng gió thổi chéo bào,

Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông.

 

 

 

 

 

Tin thường lại, người không thấy lại,

Gốc hoa tàn đã trải rêu xanh.

Rêu xanh mấy lớp chung quanh,

Sân đi một bước, trăm tình ngẩn ngơ.

 

 

 

 

Thư thường tới, người không thấy tới,

Bức rèm thưa lần dãi bóng dương.

Bóng dương mấy buổi xuyên ngang,

Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai.

 

 

V Cô lánh

172.Thí tương khứ nhật tùng đầu sổ

Bất giác hà tiền dĩ tam chú

Tối khổ thị liên niên tử tái nhân

Tối khổ thị thiên lý hoàng hoa thú

Hoàng hoa thú thuỳ vô đường thượng thân

Tử tái nhân thuỳ vô khuê trung phụ

Hữu thân an khả tạm tương ly

Hữu phụ an năng cửu tương phụ

 

Quân hữu lão thân mấn như sương

Quân hữu nhi lang niên thả nhụ

Lão thân hề ỷ môn

Nhi lang hề đãi bộ

Cung thân xan hề thiếp vi nam

Khóa tử thư hề thiếp vi phụ

Cung thân khóa tử thử nhất thân

Thương thiếp tư quân kim kỷ độ

Tư quân tạc nhật hề dĩ quá

Tư quân kim niên hề hựu mộ

Quân yêm lưu nhị niên tam niên cánh tứ niên

Thiếp tình hoài bách lũ thiên lũ hoàn vạn lũ

An đắc tại quân biên

Tố thiếp trung trường khổ

 

 

 

194.Thiếp hữu Hán cung thoa

Tằng thị giá thời tương tống lai

Bằng thuỳ ký quân tử

Biểu thiếp tương tư hoài

Thiếp hữu Tần lâu kính

Tằng dữ lang sơ tương đối ảnh

Bằng thùy ký quân tử

Chiếu thiếp kim cô lánh

Thiếp hữu câu chỉ ngân

Thủ trung thời tương thân

Bằng thuỳ ký quân tử

Vi vật ngụ ân cần

Thiếp hữu tao đầu ngọc

Anh nhi niên sở lộng

Bằng thuỳ ký quân tử

Tha hương hạnh trân trọng

 

 

Ngày qua tháng lại mang cộng sổ

Giật mình, sen đã ba lần nở

Dăm năm khốn khổ nơi dồn quân

Nghìn dặm gian nan thân lính thú

Đồn Tử Tái, mẹ cha ai chẳng có

Lính Hoàng Hoa, vợ trẻ ai lại không

Mẹ cha xa cách, niềm day dứt

Vợ con ly biệt, nỗi đau lòng

 

Mẹ chàng đây tóc sương trắng điểm

Con chàng đây trứng nước còn  thơ

Mẹ đợi ngồi tựa cửa

Con miệng há cơm chờ

Thiếp thay chàng mẹ già phụng dưỡng

Thiếp thay chàng dậy dỗ con  thơ

Nuôi mẹ dậy con thân một chiếc

Biết ai xót phận những nương nhờ

Đợi chàng năm trước, năm đi mất

Chờ chàng năm nay, năm dần trôi

Chàng còn xa,

                       hai năm, ba năm đến bốn năm

Thiếp lòng vò,

               trăm mối, nghìn vòng, trăm vạn mối

Làm sao đến bên chàng

Nỗi đau này thiếp tỏ ?

 

Thiếp có thoa cung Hán

Kỷ vật chàng đưa ngày lấy nhau

Nhờ ai đem đến gửi

Để tỏ chút lòng đau

Thiếp có gương lầu Tần

Ngày xưa cùng chàng mình soi chung

Nhờ ai đem đến gửi

Nhắc thân này đơn chiếc

Thiếp có chiếc nhẫn bạc

Ngày ngày đeo trên tay

Nhờ ai đem đến gửi

Ân cần nhắc chàng hay

Thiếp còn chiếc trâm bạc

Thuở bé làm đồ chơi

Gửi để chàng giữ lấy

Cách mặt dạ khôn nguôi

 

 

Thử tính lại diễn khơi ngày ấy,

Tiền sen này đã nẩy là ba.

Xót người lần lữa ải xa,

Xót người nương chốn hoàng hoa dặm dài.

 

 

 

 

 

Tình gia thất nào ai chẳng có,

Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương.  

Mẹ già phơ phất mái sương,

Con thơ măng sữa, vả đương phù trì.

Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,

Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,

Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân.

Nay một thân nuôi già dạy trẻ,

Nỗi quan hoài mang mể biết bao!

Nhớ chàng trải mấy sương sao,

Xuân từng đổi mới, Đông nào còn dư . 

Kể năm đã ba tư cách diễn,

Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang.

Ước gì gần gũi tấc gang,

Giải niềm cay đắng để chàng tỏ hay.

 

Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá,

Gương lầu Tần dấu đã soi chung.

Cậy ai mà gửi tới cùng,

Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư.

Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía,

Ngọc cài đầu thuở bé vui chơi.

Cậy ai mà gửi tới nơi,

Để chàng trân trọng dấu người tương thân.

 

 

VI Vọng tưởng

210. Tích niên âm tín hữu lai thì

Kim niên âm hy tín diệc hy

Kiến nhạn uổng nhiên tư tái bạch

Văn sương mạn tự chế miên y

Tây phong dục ký vô hồng tiện

Thiên ngoại liên y tuyết vũ thuỳ

Tuyết hàn y hề hổ trướng

Vũ lãnh y hề lang vi

Hàn lãnh ban ban khổ

Thiên ngoại khả liên y

 

220. Cẩm tự đề thi phong cánh triển

Kim tiền vấn bốc tín hoàn nghi

Kỷ độ hoàng hôn thời trùng hiên nhân độc lập

Kỷ hồi minh nguyệt dạ đơn chẩm mấn tà khi

Bất quan trầm dữ hàm hôn hôn nhân tự tuý

Bất quan ngu dữ nọa mộng mộng ý như si

Trâm tà uỷ đoả bồng vô nại

Quần thối nhu yêu sấu bất chi

Trú trầm trầm ngọ viện hành như truỵ

Tịch tiêu tiêu tương liêm quyển hựu thuỳ

Liêm ngoại khuy nhật xuất chi đầu vô thước báo

Liêm trung tọa dạ lai tâm sự chỉ đăng tri

Đăng tri nhược vô tri

Thiếp bi chỉ tự bi

 

 

Năm xưa tin chàng còn lúc về

Năm nay tin chàng ngày bằn bặt

Nhạn bay cánh vẫy thư chẳng buộc

Sương rơi, đã sắp sẵn chăn bông

Gió nổi, tin qua, chim hồng vắng

Thương chàng tuyết giá chốn xa xăm

Tuyết lạnh, chàng nơi trướng hổ

Mưa sa, chàng chốn màn lang

Giá buốt, ôi cơ khổ

Cõi xa thiếp xót chàng

 

Chữ gấm thơ đề, phong  rồi mở

Tiền gieo, bói quẻ, vẫn trăm ngờ

Mấy độ hôn hoàng, bên hiên một mình tơ tưởng

Dăm đêm sáng trăng, gối lệch tóc thả bơ thờ

Chẳng đắm, cũng  chẳng say, cứ li bì như ngủ

Đâu nào ngu nào nhác, vẫn ngây dại như mơ

Trâm lệch tóc xô, cài   chẳng đặng

Lưng  gầy  quần lỏng giữ sao  cho !

Đằng đẵng ngày, nhà trống đi chực ngã

Dằng dặc đêm, rèm tre  cuốn  rồi buông

Nhìn ra ngoài, nắng lên nhưng đâu chim Thước

Ngồi trong rèm, đêm về thủ thỉ ngọn đèn  suông

Đèn biết, như chẳng biết

Mình biết, một mình  buồn

 

Trải mấy Xuân, tin đi tin lại,

Tới Xuân này tin hãy vắng không.

Thấy nhạn, luống tưởng thư phong 

Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng.

Gió Tây nổi không đường hồng tiện,

Xót cõi ngoài tuyết quyện mưa sa.

Màn mưa trướng tuyết xông pha 

Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.

 

 

 

Đề chữ gấm, phong thôi lại mở,

Gieo bói tiền tin dở còn ngờ.

Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,

Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai .

Há như ai, hồn say bóng lẫn,

Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.

Trâm cài, xiêm thắt thẹn thùng,

Lệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo.

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

Ngoài rèm Thước chẳng mách tin,

Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?

Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Buồn rầu nói chẳng nên lời,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.