Xuân đã đem mong nhớ trở về 

Câu thơ Nguyễn Bính, ý thường thôi. Lời e cũng thường thôi. Nhưng dư vang vô tận, xoáy sâu vào tâm tư khách xa quê, nhất là những kẻ không có ngày về. Xuân đã ... đau lòng một chữ đã. Xuân đã. Người chưa. Những lỡ làng và những bẽ bàng. 

Lần này, ở đây, Xuân đã đem mong nhớ trở về Vũ Hoàng Chương, người bạn thơ, bạn kịch cũ càng với Nguyễn Bính Lỡ Bước Sang Ngang. 

       Mùa xuân thương nhớ mùa Xuân. 

Nói đến thơ xuân Vũ Hoàng Chương, cái bồi hồi lẫn chút bùi ngùi. Có hay không có, mùa xuân trong thơ đấng trích tiên, đã tự giam thơ giam đời trong mươi chữ: 

       Xuân đời chưa kịp hưởng 
       Mây mùa thu đã sang ? 

Nhà thơ đã tự tình như thế, ở tuổi chưa đến ba mươi, trong tập thơ Mây. Người còn giăng tơ tâm sự 

       Xuân có sang mà hoa không tươi 
       ý ngát hoài chăng hề tuổi chớm ba mươi 
       Nằm say ngõ lạnh 
       Buồn nghe mưa rơi 
       Tuôn châu oà bật lên cười 
       Ta có là ta chăng hề Ai chớ là Ngươi 
       Chậu sành tiếng đập ngàn năm cũ 
       Hoạ điệu chiều nay xác rã rời 

Và từ đó, hay trước đó, với Vũ Hoàng Chương, tất cả những mùa Xuân đều là : 

       Hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay 

Ðã  có nhiều người nói, và nói có cơ sở là men rượu và khói thuốc đưa thơ Vũ Hoàng Chương ra khỏi không gian ; và thơ Ðường, thơ Tống, người đẹp Liêu Trai đưa thơ ông ra khỏi thời gian. Ðiều đó có thật, nhưng con người dù là người thơ, vẫn còn xương còn thịt chuyển động theo bốn mùa mưa nắng. Và cả bốn mùa đều in nét trong thơ Vũ Hoàng Chương. 
Tác phẩm đầu lòng Thơ Say in năm 1940 gồm những sáng tác buổi hoa niên, nhưng hoạ hoằn lắm mới ánh lên một nét tươi xuân. 

       Thuyền nhỏ sông lam yểu điệu về 
       Cỏ chen màu liễu biếc chân đê 
       Tình Xuân ai chở đầy khoang ấy 
       Hương sắc thanh bình ngập lối quê. 

       Nắng nhẹ mây hờ sương hơi hơi 
       Sương thưa nắng mỏng nhạc khoan lời 
       Dây đàn chầm chậm hôn lên phím 
       Muôn vạn cung Hồ lả lướt rơi 

Thơ Say gồm có nhiều phần : Say, Mùa, Yêu, Lỡ Làng ... Phần Mùa chỉ có hai bài thơ ngắn, bài Dịu Nhẹ tả cảnh mùa xuân trên đây, bài sau là Mùa Thu Ðã Về. Thơ Mùa đề tặng ‘em Vân’, người yêu trong mộng. Chủ đề Mùa  chứng tỏ nhà thơ coi trọng thời gian, nhưng loại thơ tứ thời bát tiết không nhiều, vì không nằm trong thi hứng Vũ Hoàng Chương. Bài thơ xuân Dịu Nhẹ hiếm hoi, nhưng vẫn mang phong cách đặc biệt Vũ Hoàng Chương. Dường như mãi đến 1952 ông mới có trọn vẹn một bài thơ Xuân khác, nhưng cỏ cây đã nhuốm màu Thiền. Bài Thoát Hình gồm 7 đoạn, một vần : 

       Rào rạt trong cây nhựa trắng ngần 
       Ðã nghe dồn cả tới đài xuân 
       Ðã nghe rào rạt từng cơn gió 
       Về mách tin hương với cõi trần 
       Muôn vạn tế bào đang huỷ thể 
       Vâng theo ý lớn nhịp xoay vần ... 

       ... Ta mở trang lòng nguyên vẹn mãi, 
       Chưa từng hoen ố vết trầm luân 
       Ðêm nay xuống một bài thơ trắng 
       Cầu nguyện cho đời nở ái Ân 

Sau này, nhất là từ 1963, Vũ Hoàng Chương sẽ sáng tác nhiều thơ về Ðạo Pháp, tuy nhiên nguồn thơ Ðạo đã róc rách từ trước đó. Ngoài ra, bài Thoát Hình còn mang thêm dấu ấn của khoa học và triết học, hai nguồn thi hứng sẽ phát triển sâu rộng hơn trong thơ Vũ Hoàng Chương về sau. 

* * * 

       Hương mùa-xuân-mất ngậm ngùi bay ... 

là một câu tiên tri. Di cư vào Nam, nhà thơ xem như thất lạc mùa xuân. 

Bài Nửa đêm Trừ Tịch làm 1955 ; mùa xuân đầu tiên xa xứ : 

       Mười năm qua, đến bây giờ 
       Nhìn nhau thấy cả giấc mơ thưở nào .. 
       (...) 
       Xuân về nhớ thưở ngát chiêm bao 
       Giòng nước trôi xuôi chợt nghẹn ngào 
       Lạc lõng vàng son màu lữ thứ 
       Cành mai gượng ánh mặt hoa đào 

       Mười phần xuân có gầy hao 
       Tấm lòng xuân vẫn dạt dào như xưa 
       Mấy phen biếc đón hồng đưa 
       Dẫu rằng xong, vẫn là chưa thoả nguyền 

Ðây là một bài thơ hay, giàu cảm xúc, chĩu nặng ưu hoài. Không mang nội dung, dụng tâm chính trị nào, nhưng đã bị Chế Lan Viên chiếu cố và mạt sát thậm tệ (1960) cho rằng " cái điều Vũ Hoàng Chương đáng hổ thẹn nhất và chúng ta đau xót căm giận nhất là bốn câu này : 

       Có nghĩa gì đâu một chữ " về " 
       Nếu không ngàn dặm ngược sơn khê 
       Nếu không ngược cả mười năm ấy 
       Về tận kinh đô của ước thề 

Theo Chế Lan Viên, chữ" Về " là  " cái việc về thành, cái việc dinh tê về Hà Nội (mà) chẳng có nghĩa gì cả, thì trong tâm hồn nhà thơ này không còn ranh giới giữa cái tốt, cái xấu, cái đúng, cái sai, cái có nghĩa và cái không có nghĩa " 

Ðây là lối viết vu oan giáng hoạ, vì chữ " về ", trong bài thơ, không có ngụ ý chính trị, chỉ là một ước vọng tình cảm, hay xa hơn nữa là một xu hướng tâm linh. Từ xưa thơ Vũ Hoàng Chương đã là một lối tìm về : 

       Lang thang từ độ luân hồi 
       U minh nẻo trước, xa xôi dặm về 
                               Nguyện Cầu, 1950 

Còn mấy chữ " có nghĩa gì đâu ", là phỏng theo Xuân Diệu : 

       Làm sao cắt nghĩa được tình yêu 
       Có nghĩa gì đâu một buổi chiều 

Nếu nhất định gán cho câu thơ một dụng ý thời sự thì nên hiểu : việc hồi cư năm 1950, với Vũ Hoàng Chương không mang ý nghĩa một chọn lựa chính trị, mà chỉ do một nhu đầu một tình cảm riêng tư - phần nào đó hoang tưởng - " có nghĩa gì đâu " . Còn về thời gian mười năm, từ thời Mây (1943) thi nhân đã nhiều lần nói đến : " Mười năm thôi nhé mộng tan tành " ... , 
" Tình mười năm còn lại mấy tờ thư "….  Thận trọng, chúng tôi đã hỏi lại bà Vũ Hoàng Chương và được chị trả lời là đúng như thế, và còn cho biết thêm : ‘ước thề’ ở đây không phải là chị ấy. 
Ngoài ra, giai đoạn này, Vũ Hoàng Chương còn có Bài Ca Bình Bắc, kể chuyện xuân chiến thắng của Quang Trung : 

       Nhớ trận Ðống Ða hề thương mùa xuân tới 
       Sầu xuân vời vợi 
       Xuân tứ nao nao 
       Nghe đêm trừ tịch hề máu nở hoa đào 
       Ngập giấc xuân tiêu hề lửa trùm quan tái 
       Trời đất vô cùng hề một khúc hát ngao 

Bài thơ là một thiên sử thi, ngợi ca hào quang dân tộc, nhưng hay ở những âm vang vời vợi nao nao, vô cùng quan tái. Nó là một khúc " hát ngao " hơn là một anh hùng ca. 

Cùng trong nỗi u hoài mùa-xuân-mất, tết năm 1963, nhà thơ mơ tưởng một Cành Mai Trắng Mộng 

       Chín giao thừa, tám năm dư 
       Cành Mai trắng mộng đêm trừ tịch suông 
       (...) 
       Khói đâu mờ tím căn buồng 
       Thời gian ai đốt trên luồng thần giao 
       Cố đô lửa cháy gan nào 
       Sài đô son sắt như bào, như nung 

Mậu Thân, 1968, Vũ Hoàng Chương làm nhiều thơ Xuân giọng hãi hùng cay đắng. Bài Ðục Trong, làm theo lối cổ phong, toàn vần đục, khổ độc, gân guốc, gay gắt : 

       Chợ Tết mai lan cúc 
       Ðắm mình trong bụi đục 
       Từng phiên nép mặt hoa 
       Thẹn không bằng khóm trúc 
       (...) 
       Liên miên khói lửa này, 
       Dám đâu mơ hạnh phúc 
       Lần lượt tre rồi măng 
       Ðã tơi bời cốt nhục 

Ðoạn cuối, ê chề, xót xa thân phận : 

       Thân càng xót cho thân 
       Uổng gây hình ngọc đúc 

Bài thơ có lẽ làm vào những ngày áp Tết Mậu Thân, sức khoẻ không tốt, cũng như bài Bặt Khoá Buồng Xuân, cùng một âm hao não nuột : 

       Miệng héo dần theo lòng khắc khoải 
       Năm nay rồi sắp thành năm ngoái 
       E khi chiều xế, tuyết thay tơ 
       Không cả chút tình thương nắng quái 

       Kẻ vô-hạn-hận không là gió 
       Xuân đến trà mi đời tự bỏ 
       Ngồi chín từng cao, thẳm đáy hang 
       Cùng ai gửi chút hương vò võ ? 

Toàn bài vần bằng, xen hai đoạn vần trắc nói trên, là u uất nhất. Và kết thúc với hình ảnh của Tết Mậu Thân : thiều quang ngập máu đổ quyên hồng... 

Bài Vỡ Mộng Liêu Trai làm giữa ngày Tết tang thương : 

       Ma sợ cung vôi chạy vọt lên 
       Người thơ giữa lúc mở bầu men, 
       Khai xuân chưa kịp vui cùng khách 
       Ðạn rót trời cao đã nổ rền 

Nhưng Tết Mậu Thân 1968, tang tóc nhất là Cố đô Huế. Vũ Hoàng Chương làm một loạt tám bài đường luật theo thể liên hoàn liên vận dưới đề tài : " loạn trung Huế cảm bệnh trung nhân "  (trên giường bệnh, cảm thương Huế loạn lạc) : 

       Lăng miếu gần kề lưng chó sói 
       Thịt xương phó mặc vuốt diều hâu 
       (...) 
       Ðạn réo vang vang lửa bốn bề 
       Như thiêu giường bệnh cháy cơ mê 
       Sốt dâng mạch loạn càng u uất 
       Máu chảy ruồi bâu thật não nề 

Trước cảnh trúc chẻ ngói tan ấy, nhà thơ đau yếu, bất lực chỉ gởi lời cầu nguyện : 

       Mong người một nước soi gương cũ 
       Nguyện đấng ngàn tay độ nhiễu điều ... 
                                                  (Huế Cảm) 

Tết năm sau, Kỷ Dậu – 1969, sức khoẻ khá hơn, tình hình chiến trận, bên ngoài, có vẻ yên ắng, hoà hội Paris đang tiến triển và hứa hẹn, Vũ Hoàng Chương chợt nghe hồn thơ phấn khởi : 

       Tin Xuân gà gáy rách trời đêm 
       Tuổi nửa trăm vừa nửa chục thêm 
       Ðủ thấy điềm lành hai nửa nước 
       Một nhà trong ấm với ngoài êm 
                               (Mở Bút ghi Ðiềm) 

Thi nhân ngất ngưởng, lạc quan như chưa bao giờ lạc quan ở tuổi hoa niên : 

       Chữ lựa vần gieo đắc ý rồi 
       Ðèn khêu vừa tỏ nước vừa sôi 
       Nhựa say trà ngát thơ cao giọng 
       Hỏi chúa xuân  rằng : ai có ngôi ? 
                                (Hạnh phúc nào hơn) 

Vũ Hoàng Chương thi sĩ còn là một Vũ Hoàng Chương kẻ sĩ, tâm hồn luôn luồn gắn bó với vận hưng suy của đất nước – cho dù ông có là nạn nhân của nhiều ngộ nhận và xuyên tạc. Mùa xuân Kỷ Dậu 1969 đưa hồn thơ về một năm Kỷ Dậu khác, 120 năm trước, mùa xuân Quang Trung, 1789, qua bài thơ chữ Hán : 

       Kỷ Dậu hồi thanh 

       Kê minh nhật thướng cựu sơn xuyên 
       Hồi ức Quang Trung vũ hịch truyền 
       Sơn vĩ sơn đầu hoa giải ngữ 
       Hoà âm xuân thảo nhiễu bình nguyên 

Ông tự dịch : 

       Tiếng vang lịch sử 

       Ðất xưa gà gáy mặt trời lên 
       Giục nhớ Quang Trung hịch sấm rền 
       Hoa mở cánh chào ngang dọc núi 

Hoà âm cỏ ngát xuống bình nguyên 

Ðặng Tiến dịch ké : 

       Gà thúc bình minh sông núi xưa 
       Quang Trung thuở nọ, hịch truyền đưa 
       Sườn non lưng núi lời hoa mở 
       Nội cỏ hoà xuân, nhạc tấu mùa 

Vũ Hoàng Chương sinh năm ất Mão-1915 – giấy tờ thường ghi 1916 – tính đến năm 1969 là 55 tuổi ta. Ông tự hào thọ hơn ... Khổng Minh một tuổi, có bài thơ thu gọn đời mình, giữa những dư luận thị phi, và trầm luân thế cuộc : 

       Chữ thọ vừa ăn đứt Ngoạ Long 
       Bến nằm dư biết đục hay trong 
       (...) 
       Chỉ thương kiếp đá ai bày trận 
       Ðể ngấn vàng gieo chợt rối vòng 

Nhưng phấn khởi, dường như chỉ được một mùa xuân ấy. Tết năm sau, 1970, bài " Xúc Ðộng Cuối Năm " thật buồn : 

       Chơi xuân đất này không cỏ non 
       Thơ không vàng nữa, ấn không son 
       Hỡi ơi lòng chợt đau như cắt 
       Một nụ cười xuân cũng chẳng còn 

Bài thơ tưởng niệm bạn tâm giao là thi sĩ Ðông Hồ (1906-1969) vừa mới quy tiên trong năm. Người sành thơ nhận ra bóng dáng Ðông Hồ : câu đầu lấy từ một câu tập cổ của tác giả Bội Lan Hành : " xuân du thử địa vô phương thảo ", câu sau lấy ý từ bài Vàng Son hoa nở hai mùa : 

       Mùa vàng hoa mai hoa cúc 
       Mùa son hoa phượng hoa vông 
       (...) 
       Mùa vàng giàu thật giàu 
       Mùa son sang  rất sang 
                              (Ðông Hồ) 

" Một nụ cười xuân cũng chẳng còn ", là nhắc tên tập thơ " Cô Gái Xuân " (1935)  của Ðông Hồ. 

Xuân Tân Hợi – 1971, lại thêm một mùa tang tóc : 

       Theo nắng trôi vàng, bạc nổi mây 
       Thương xuân lìa cội, Tết sa lầy 
       Sông Rồng bến Nghé đêm Trừ tịch 
       Phá vỡ vòng sao tự giải vây 

       Mách cho Lã Vọng về đây 
       Tha hồ câu, bến sông đầy tử thi 

       Tuý Ông ngồi rũ cánh Lan buồn 
       Nơi ấy đầy xương chất máu tuôn 
       Thà đợi một mùa Xuân Ðích Thực 
       Âm thanh Cuồng sát tự dìm luôn 
                                      (Xuân Ðối Diện) 

Năm sau, 1972, khói lửa vẫn ngập trời : 

       Giấc mộng trường chinh lửa ngút mây 
       Tỉnh ra ngựa đấy với thuyền đây 
       Nhìn nhau chuột nhỏ tung tăng dạo 
       Vừa uống sông xuân một bụng đầy 
                                     (Nhâm Tý khai bút) 

Tác giả tự dịch ra Hán Văn : 

       Trường chinh mộng hậu tức phong yên 
       Thiên lý long câu vạn lý thuyền 
       Hốt ngộ tiền thân nhất yến thử 
       ẩm hà mãn phúc tuý xuân thiên 

Lời thơ thanh thoát, dí dỏm. Nhưng tâm sự tác giả, thời điểm ấy còn u ám lắm qua bài " Xuân Quạnh " : 

       Hỡi ơi trầm ngát mùa cung điện 
       Ngõ hẹp ... Thôi rồi vẫn tịch liêu 

       Lầu Vọng-giai-nhân mãi quạnh nằm 
       Ngày xưa Kim ốc chỉ mười năm 
       Ðắng cay thế vị lòng vương giả 
       Ôi nguyệt tiền thân ngọt đoá rằm 

Cuối năm 1972, hoà hội Paris bế tắc, chiến trường miền Nam ác liệt và Mỹ dùng pháo đài bay B 52 oanh tạc Hà Nội suốt 12 ngày đêm cuối năm. Phải nhớ rõ bối cảnh đó, mới hiểu tâm trạng Vũ Hoàng Chương qua bài " Ðón Xuân Mười Chín "  làm trước Tết Quý Sửu (nhằm ngày 3.2.1973) : 

       Bấm đốt từ di cư đến nay 
       Ðón xuân vừa vặn hết bàn tay, 
       Sang sông Ngựa đã hai lần hí 
       Vạch đất Trâu thêm một luống cày 
       Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc 
       Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây 
       Bút toan chạy ngược đau lòng chữ 
       Núi vẫn nằm ngang bạc tóc mây 
       Dăm kẻ tri giao toàn kiết xác 
       Nửa đêm trừ tịch cũng vờ say 
       Hằng nga bỏ địa cầu đi mãi 
       Tết đến buồn không chịu vẽ mày 

       Xưa rồi lửa phóng tên bay 
       Giờ chơi nhạc sống nào đây hỡi giàn 
       Bóng ai trên đá ngồi gan 
       Có nghe rung một giây đàn lẻ loi 
       Trời xuân chẳng én đưa thoi 
       Mà như gấm đẩy bức Hồi Văn qua 
       Nghé kêu đầy bến vàng hoa 

                                              (dẫn trọn bài) 


Bài này đăng trên Giai Phẩm Văn Xuân Quý Sửu, phát hành ngày 15.1.1973, trước khi ký hoà ước Paris. Vậy Vũ Hoàng Chương phải làm trước đó, vào thời điểm : 

       Lửa ném tràn lan đầu gió Bắc 
       Vàng rung thăm thẳm đáy hồ Tây 

Câu thơ ngụ ý : lửa thử vàng, Vàng Mười không sợ lửa, chế độ miền Bắc không khuất phục trước vũ lực thô bạo. Ðây là một câu thơ nặng tình dân tộc, nhưng không mấy người để ý, như một thứ cung đàn lẻ loi. Ngược lại, người ta bới móc những câu thơ " chống cộng " để lên án và hạ ngục Vũ Hoàng Chương khi có cơ hội. 

Người đọc vẫn tưởng nhà thơ sống trong mây khói, quên rằng Vũ Hoàng Chương gốc gác là một bộ óc khoa học, toán học, nên đã có những tính toán chi ly, chính xác : bàn tay, tổng cộng có 19 đốt, ứng vào con số 19 năm di cư sang sông (1954-1973). Ngựa đã hai lần hý là hai năm Giáp Ngọ (1954) và Bính Ngọ (1966). Trâu thêm một luống cày là hai năm Tân Sửu (1961) và Quý Sửu (1973). Hai vần mây và say nhắc tên hai tập thơ đầu tay ; Nửa đêm trừ tịch là tên một bài thơ. Nghé kêu đầy Bến ngụ ý bài thơ làm tại Sài Gòn, tên cũ là Bến Nghé. 

Sau đó, hiệp định Paris ký ngày 27.1.1973, chấm dứt chiến tranh Việt Nam trên giấy tờ. Ngay ngày Tết Quý Sửu, Vũ Hoàng Chương có thơ kịp thời ghi dấu : 

       Ma là Người ... kiếp khác 
       Người là Trời ... đêm nay 
       Nghe chừng lửa đã tắt 
       Hai bờ Con-Sông này 
       ờ nhỉ ! đâu còn Vết Cắt 
       Sao lòng ai vẫn chưa hay ? 
       Nằm kia, người nín bặt 
       Vòng luân hồi đã ngược chiều quay 
       Ma thôi vất vưởng, trời thôi lưu đày 
                                               (Tin Xuân) 

Vũ Hoàng Chương là người thiết tha với vận mệnh dân tộc và đất nước, gắn bó với kỷ niệm Hàng Khay Hàng Trống hoa nào rụng, nhất định phải kỳ vọng vào hiệp định 27.1.1973 sẽ mang lại thanh bình cho đất nước, và ngày thống nhất sẽ không xa. Dù rằng kỳ vọng ấy chỉ rung một giây đàn lẻ loi, và sau này sẽ không đúng với thực tế : đất nước sẽ thanh bình và thống nhất, nhưng trong những điều kiện khác – mà Vũ Hoàng Chương sẽ là nạn nhân. 

Năm 1974, Tết Giáp Dần, thi nhân có bài Thuý Vũ Ðoản Từ, trích toàn văn, vì ít người còn lưu giữ : 

       Cỏ Bồ ôm đá ngủ 
       Trong tranh từ bao giờ 
       Cho đến bây giờ 
       Còn say trong thơ 
       Vườn bỗng hót vang chim Thuý Vũ 
       Ðèn xanh nến biếc đêm giao thừa 
       Nét bút gầy theo mực úa 
       Bao năm rồi tiêu sơ 
       Có phải xuân đang từ đáy lụa 
       Một chiều sâu không ai ngờ 
       Truyền tin về giấc mơ 

       ánh nguyệt mung lung cành lãng đãng 
       Nghe lòng trời đất ươm tơ 
       Nguyệt vẽ mày cong dĩ vãng 
       Cành đơn hoa trắng tương tư 
       Ôi thôi áo vải đã màu nâu thuyền đã hư 
       Mối manh gì nữa còn ai nữa 
       Ðành kết vào hương Thuý vũ từ 

Tác giả giải thích : Thuý Vũ nguyên là tên một loài chim, sau thành tên một loài hoa : hoa mai trắng, nhiều cánh và nhỏ hơn Bạch Mai . Nói là thơ xuân, kỳ thực bài này nằm giữa mộng và thực. Nó quý ở chỗ phản ánh tâm trạng của tác giả thời đó, ông sẽ viết " ta đành mất hết để còn nhau " (Huyền Lan Trường Từ, cuối xuân Giáp Dần 1974). 

* * * 

Thơ xuân thơ Tết cuối cùng của Vũ Hoàng Chương là bài Vịnh Tranh Gà Lợn, làm vào ngày Tết Bính Thìn, 1976. Bài thơ được truyền tụng nhờ được truyền khẩu. Nhưng cũng vì truyền khẩu, nên nhiều dị bản khác nhau, nhiều bản sai lạc, vô nghĩa. Bà Vũ Hoàng Chương đã than phiền và ghi lại cho chúng tôi chính văn : 

       Vịnh tranh Gà Lợn 

       Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành 
       Gà lợn, om sòm rối bức tranh 
       Rằng vách có tai, thơ có hoạ 
       Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh 
       Mắt gà huynh đệ bao lần quáng 
       Lòng lợn âm dương một tấc thành 
       Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn 
       Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh 

Bà Vũ Hoàng Chương ghi chú : Thơ có hoạ có ba nghĩa : thơ có xướng thì phải có hoạ, gọi là thơ xướng hoạ : thơ phản nghịch là tai hoạ ; và thơ hoạ (vẽ) ra tranh. Vũ Hoàng Chương nổi tiếng là uyên bác : thơ ông thường sử dụng nhiều điển cố. Ðặc biệt bài này ông sử dụng tục ngữ, theo truyền thống Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Bà Vũ Hoàng Chương lưu ý đến những tục ngữ : " dừng có mạch,  vách có tai " ; " xanh vỏ đỏ lòng ". Nhưng còn nhiều thành ngữ, tục ngữ khác như : " tranh  tối tranh sáng ", " mắt xanh ", " mắt quáng gà ", " gà cùng một mẹ ", " lợn âm dương ", " con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi ". " Khúc tân thanh " ngụ ý " đoạn trường " . Còn ý nghĩa, ngụ ý dí dỏm nhưng thâm trầm của từng câu, từng chữ thì chúng tôi xin miễn giải thích, sợ làm mất cái duyên ngầm của bài thơ. 

Chỉ mong văn giới ghi nhận : đây là văn bản chính thức của bài Vịnh tranh Gà Lợn của Vũ Hoàng Chương làm vào dịp Tết Bính Thìn 1976. Bà Vũ Hoàng Chương và chúng tôi chịu trách nhiệm về 56 chữ trong văn bản. Những dị bản khác nên xem như là truyền khẩu, " tam sao ", được phổ biến trong nghịch cảnh. Sau đó nhà thơ Vũ Hoàng Chương bị bắt, giam ở ngục Chí Hoà, bị bệnh nặng