Dec 16, 2019

Cổ Thi Trung Quốc

Bạch mã thiên - 白馬篇
Tào Thực - 曹 植 (192 - 232) * đăng lúc 07:03:13 PM, Jan 19, 2009 * Số lần xem: 2159

Thể thơ: Ngũ ngôn trường thiên (thời kỳ: Tam Quốc, Tấn, Nam Bắc, Tuỳ)
***
*
 

白馬篇

白馬飾金羈,
連翩西北馳。
借問誰家子,
幽并遊俠兒。
少小去鄉邑,
揚聲沙漠垂。
宿昔秉良弓,
楛矢何參差。
控弦破左的,
右發摧月支。
仰手接飛猱,
俯身散馬蹄。
狡捷過猴猿,
勇剽若豹螭。
邊城多警急,
胡虜數遷移。
羽檄從北來,
厲馬登高堤。
長驅蹈匈奴,
左顧陵鮮卑。
棄身鋒刃端,
性命安可懷?
父母且不顧,
何言子與妻?
名編壯士籍,
不得中顧私。
捐軀赴國難,
視死忽如歸。

Bạch mã thiên

Bạch mã sức kim ky,
Liên phiên tây bắc trì.
Tá vấn thuỳ gia tử,
U Tinh du hiệp nhi.
Thiếu tiểu khứ hương ấp,
Dương thanh sa mạc thuỳ.
Túc tích bỉnh lương cung,
Hộ thỉ hà sâm si.
Khống huyền phá tả đích,
Hữu phát tồi nguyệt chi.
Ngưỡng thủ tiếp phi nhu,
Phủ thân tán mã đề.
Giảo tiệp quá hầu viên,
Dũng phiếu nhược báo ly.
Biên thành đa cảnh cấp,
Hồ lỗ sổ thiên di.
Vũ hịch tòng bắc lai,
Lệ mã đăng cao đê.
Trường khu đạo Hung Nô,
Tả cố lăng Tiên Ty.
Khí thân phong nhận đoan,
Tính mệnh an khả hoài?
Phụ mẫu thả bất cố,
Hà ngôn tử dữ thê?
Danh biên tráng sĩ tịch,
Bất đắc trung cố tư.
Quyên khu phó quốc nạn,
Thị tử hốt như quy.
Dịch nghĩa

Bạch mã đeo cương vàng,
Rong ruổi lên tây bắc.
Hỏi thử con nhà ai,
Người tráng sĩ đất U Tinh kia.
Khi thiếu niên đã rời quê,
Nổi danh ở vùng sa mạc biên ải.
Sớm chiều đều mang chiếc cung tốt,
Và tên làm bằng cây hộ nhiều bên người.
Dương dây vỡ đích bên trái,
Bắn bên phải nát mục tiêu.
Giơ tay ngẩng mặt cũng bắn trúng,
Cúi người cũng bắn trúng.
Nhanh nhẹn hơn khỉ vượn,
Lanh lợi như báo và thuồng luồng.
Thành ngoài biên ải nhiều cảnh báo gấp,
Giặc Hồ bắt đầu xâm nhập.
Hịch chiêu mộ từ phương bắc tới,
Đánh ngựa lên đê cao.
Đuổi dài giẫm đạp giặc Hung Nô,
Phía tả đánh đuổi Tiên Ty.
Hy sinh đầu ngọn giáo,
Thật đáng tiếc thay cho tính mệnh ?
Cha mẹ cũng không nhìn tới,
Thử hỏi sao thân con cái không cảm thấy
thê thảm?
Tên ghi vào danh sách tráng sĩ,
Không được chiếu cố riêng.
(Ý nói không có người thân đoái tới)
Bỏ thân vì quốc nạn,
Thấy chết bỗng thấy như trở về.
Thiên về bạch mã

Thiên về bạch mã
Người dịch: Điệp luyến hoa)

Bạch mã đeo cương vàng,
Lên tây bắc ruổi rong.
Hỏi con nhà ai thế,
Tráng sĩ đất U Tinh ?
Xa quê từ thuở nhỏ,
Vùng biên ải lẫy danh.
Sớm chiều đeo cung tốt,
Cùng tên hộ xếp bằng.
Vỡ đích trái tên bắn,
Nát tiêu phải cung dương.
Ngửa người cũng bắn trúng,
Cúi thân chẳng chệch đường.
Nhanh nhẹn hơn khỉ vượn,
Khoẻ như báo thuồng luồng.
Thành xa tin cấp báo,
Giặc Hồ đã vào trong.
Hịch từ phương bắc xuống,
Dẫn ngựa lên đê trông.
Giặc Hung Nô phải đuổi,
Tiên Ty cũng đạp bằng.
Hy sinh đầu mũi giáo,
Tính mệnh ai xót thương ?
Cha mẹ không dòm tới,
Thân con thật thê lương.
Biên tên vào danh sách,
Thân thích chẳng ngó ngàng.
Bỏ thân vì nạn nước,
Chết về thế là xong.

 


Chú thích:

U Tinh 幽并: tên hai châu, nay thuộc các tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây và Thiểm Tây. Xưa ở đây có nhiều tráng sĩ.
thuỳ 垂: là chữ 陲, chỉ miền biên viễn.
túc tích 宿昔: tức "túc tịch" 夙夕, sớm tối, ý nói mỗi ngày.
hộ 楛: cây hộ, thân có thể dùng làm tên.
đích 的: ở đây là đích để bắn.
nguyệt chi 月支: cũng dùng gọi đích bắn tên, còn gọi là "tố chi" 素支.
tiếp 接: nghĩa là ngẩng mặt.
nhu 猱: một loài vượn thân lùn nhỏ, đuôi màu vàng, bám tay leo cây lên xuống rất nhẹ nhàng. Do "đích", "nguyệt chi", "mã đề" trên dưới đều chỉ đích bắn tên, nên "phi nhu" 飛猱 ở đây có lẽ cũng tương tự như vậy.
mã đề 馬蹄: cỏ mã đề, ở đây cũng là tên gọi chỉ đích bắn tên.
vũ hịch 羽檄: hịch chiêu gọi, đóng trên bảng gỗ, trên cắm lông chim thể hiện sự khẩn cấp, nên gọi là "vũ hịch".
lệ mã 厲馬: đánh ngựa, dẫn ngựa.
Tiên Ty 鮮卑: một tộc Hung Nô ở phía đông, vùng Liêu Tây, cuối thời Đông Hán khá cường thịnh. Về sau đến đời Đông Tấn từng thiết lập chính quyền Bắc Nguỵ tại lưu vực sông Hoàng Hà, thống trị suốt hơn 150 năm.

***
*

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.