Jun 13, 2024

Thơ dịch

Tùng Cương dịch Yevgeny Onegin - Aleksandr Pushkin - Chương II 💛
Tùng Cương * đăng lúc 11:43:34 PM, May 28, 2024 * Số lần xem: 232
Hình ảnh
#1
#2
#3

 

*            

 
Tùng Cương dịch
                       Evghênhi Ônhêghin, A. Puskin


            Evghênhi Ônhêghin, A. Puskin  Chương một 🍁

                                
Chương hai  




О rus!…

          Хорас.

О Русь!


I

Деревня, где скучал Евгений,
Была прелестный уголок;
Там друг невинных наслаждений
Благословить бы небо мог.
Господский дом уединенный,
Горой от ветров огражденный,
Стоял над речкою. Вдали
Пред ним пестрели и цвели
Луга и нивы золотые,
Мелькали селы; здесь и там
Стада бродили по лугам,
И сени расширял густые
Огромный, запущенный сад,
Приют задумчивых дриад.


Ôi làng quê!

            Horas.

Ôi nước Nga!


I.

Ngôi làng chiếm một khu trông nho nhỏ
Nhìn đẹp tuyệt, mà Evghênhi còn buồn khổ;
Nơi người tìm hưởng vui thú đời thường
Có thể dùng ngàn tiếng cảm ơn trời.
Toà nhà bác đứng riêng rời một góc,
Có núi chắn gió thổi từ đằng trước,
Nhà xây ven sông nước. Phía xa xa
Là đồng cỏ, ruộng lúa chín vàng óng của nhà,
Khoe muôn sắc và muôn hoa đua nở
Bóng người Siol thoáng hiện ra; đâu đó
Súc vật từng đàn trên đồng cỏ lang thang,
Gian trước nhà như mở rộng thêm ra
Nhờ vườn tược để hoang toàng, rộng rãi,
Nơi trú ẩn của thần cây lưu lại.

II

Почтенный замок был построен,
Как замки строиться должны:
Отменно прочен и спокоен
Во вкусе умной старины.
Везде высокие покои,
В гостиной штофные обои,
Царей портреты на стенах,
И печи в пестрых изразцах.
Все это ныне обветшало,
Не знаю, право, почему;
Да, впрочем, другу моему
В том нужды было очень мало,
Затем, что он равно зевал
Средь модных и старинных зал.

II.

Toà nhà chính vẫn còn đang hiện diện,
Như cung cách mọi toà nhà được dựng:
Nhà trông yên tĩnh, chắc chắn muôn đời
Đúng theo phong cách cổ thông minh tuyệt vời.
Mọi phòng ốc đều xây trần cao hẳn,
Tường phòng khách được bồi bằng lụa cả,
Ảnh Sa hoàng treo trang trọng trên tường,
Lò sưởi đều ốp tranh men sứ dễ thương
Tất mọi thứ giờ đều xấu hơn trông thấy,
Tôi không biết, vì sao, thật lòng đấy,
Mà tựu trung, chính bạn ấy của tôi
Cũng chỉ cần đến rất ít mà thôi,
Vì một lẽ, trước sau rồi sinh chán nốt,
Khi ở mãi phòng cổ xưa và mốt.

III

Он в том покое поселился,
Где деревенский старожил
Лет сорок с ключницей бранился,
В окно смотрел и мух давил.
Все было просто: пол дубовый,
Два шкафа, стол, диван пуховый,
Нигде ни пятнышка чернил.
Онегин шкафы отворил;
В одном нашел тетрадь расхода,
В другом наливок целый строй,
Кувшины с яблочной водой
И календарь осьмого года:
Старик, имея много дел,
В иные книги не глядел.

III.

Chàng đã dọn vào phòng mà trước đó,
Nơi người bác, khi còn, thường xuyên ở
Bốn mươi năm bác đánh vật với quản gia rồi
Suốt ngày nhìn qua cửa sổ và bận đập ruồi.
Phòng bầy biện giản đơn: Sàn gỗ sồi đầy đủ,
Hai chiếc tủ, một bàn, một đi văng lông vũ,
Trông sạch bong, không một vết mực dây.
Ônhêghin đưa tay mở tủ ngay;
Một tủ thấy sổ chi thu các khoản,
Còn tủ khác đồ uống bầy ra tán loạn
La liệt bình rượu táo được ngâm,
Cuốn lịch năm 1808 có danh sách chức quan:
Còn bác chắc mải trăm công ngàn việc,
Nên chẳng có thời gian ngó ngàng sách khác được

🌙

IV

Один среди своих владений,
Чтоб только время проводить,
Сперва задумал наш Евгений
Порядок новый учредить.
В своей глуши мудрец пустынный,
Ярем он барщины старинной
Оброком легким заменил;
И раб судьбу благословил.
Зато в углу своем надулся,
Увидя в этом страшный вред,
Его расчетливый сосед;
Другой лукаво улыбнулся,
И в голос все решили так,
Что он опаснейший чудак.

 

IV.

Một mình sống trong dinh cơ rộng lớn,

Để có việc làm cho thời gian không chán,

Lúc ban đầu, Evghênhi bạn của chúng ta

Định lập ra quy cách làm việc khác xưa.

Ở làng quê, vùng sâu như sa mạc,

Chàng muốn đổi kiểu lao công nô dịch

Sang cách thu tô ở dạng nhẹ nhàng:

Người nông nô ơn số phận vì việc này.

Ông hàng xóm giỏi tính ngay là rõ,

Ngồi một góc, mới lên cơn thịnh nộ,

Vì hiểu rằng việc gây hại rõ to,

Có người thì cười nụ tinh ma,

Và tất cả đều đồng thanh cả quyết,

Rằng chàng đúng là gàn, nguy hiểm nhất.

 

V.

Сначала все к нему езжали;
Но так как с заднего крыльца
Обыкновенно подавали
Ему донского жеребца,
Лишь только вдоль большой дороги
Заслышат их домашни дроги, —
Поступком оскорбясь таким,
Все дружбу прекратили с ним.
«Сосед наш неуч; сумасбродит;
Он фармазон; он пьет одно
Стаканом красное вино;
Он дамам к ручке не подходит;
Все да да нет; не скажет да-с
Иль нет-с». Таков был общий глас.

 

V.

Lúc đầu khách thăm chàng bằng xe nhà đóng,

Nhưng vì chủ sai người từ cửa sau đón 

Thường dẫn ra chú ngựa giống sông Đông,

Loại ngựa nòi rất nổi tiếng trong vùng,

Khi chủ mới nghe từ ngoài đường cái

Thấy vọng tiếng xe nhà làm của khách tới, 

Không hiểu nhà có ý gì, nên khách bực mình 

Mọi người dừng đi lại với chàng.

“Tên vô học, hắn điên là chắc chắn;

Đầu óc hắn tự do, chỉ quen uống hẳn 

Vang đỏ thôi, nốc cả cốc một lần;

Hắn không hôn tay các bà, khi đến gần,

Nói độc “có”, “không “, khác mình, không đuôi “es”

Là ý kiến chung người làng nhận xét.

 

(13.Ở đầu và cuối tk.XIX, cách nói gắn theo -cъ có nghĩa kính trọng người nói, chứng tỏ người nói có văn hoá cao: государь -съ. Sang cuối tk.XIX, chỉ còn nghĩa nhấn mạnh và châm biếm thôi: ждём-с , убили -с.)

 

 

VI

В свою деревню в ту же пору
Помещик новый прискакал
И столь же строгому разбору
В соседстве повод подавал:
По имени Владимир Ленской,
С душою прямо геттингенской,
Красавец, в полном цвете лет,
Поклонник Канта и поэт.
Он из Германии туманной
Привез учености плоды:
Вольнолюбивые мечты,
Дух пылкий и довольно странный,
Всегда восторженную речь
И кудри черные до плеч.

 

VI.

Cùng dạo đó, có người về quê cũ 

Là trai trẻ mới, xuất thân địa chủ,

Bên láng giềng nay có đủ lí do,

Để tham gia bình phẩm quá khắt khe:

Vlađimir Lenski là họ tên chàng địa chủ

Mang bản sắc vùng Ghettinghen đầy đủ

Rõ đẹp trai, đang độ tuổi tuyệt vời,

Hâm mộ Kant và đã là thi sỹ rồi.

Chàng trai đến từ nước Đức mờ sương khói,

Đem theo đủ cả hành trang học vấn giỏi

Những ước mơ luôn vươn tới tự do,

Rất nhiệt tình, và tính cách hơi lạ thôi,

Luôn sử dụng ngôn từ nghe bốc lửa,

Tóc quăn búp màu đen trùm vai cho thả.

 

(6.Геттингене - thành phố của Đức, giáo dục đại học dạy sinh viên trung thành triết học Đức, có thái độ phê phán trật tự hiện hành.

Kant Immanuil (1724-1804) triết gia Đức.)

⭐️


 

VII

От хладного разврата света
Еще увянуть не успев,
Его душа была согрета
Приветом друга, лаской дев;
Он сердцем милый был невежда,
Его лелеяла надежда,
И мира новый блеск и шум
Еще пленяли юный ум.
Он забавлял мечтою сладкой
Сомненья сердца своего;
Цель жизни нашей для него
Была заманчивой загадкой,
Над ней он голову ломал
И чудеса подозревал.

 

VII.

Giới thượng lưu suy đồi, tình người lạnh nhạt 

Chàng trai trẻ vẫn chân thành, nồng nhiệt 

Tâm hồn chàng được sưởi ấm hàng ngày 

Nhờ bạn trai chào đón, bạn gái vỗ về ngay;

Ngu ngơ chút, nhưng trái tim đầy nhân hậu,

Chàng nuôi dưỡng trong lòng niềm hy vọng,

Và ánh hào hoa, thế giới sống rộn ràng

Làm mê say đầu óc trẻ của chàng.

Chàng mơ đến giấc mơ càng thật đẹp 

Xoa mát dịu con tim còn nghi hoặc;

Chàng nghĩ rằng mục đích thực đời ta

Chính là câu đố thường hấp dẫn làm sao,

Chàng đã nghĩ nát đầu quanh điều đó

Không tin tưởng chuyện thần kì lại có.

 

VIII

Он верил, что душа родная
Соединиться с ним должна,
Что, безотрадно изнывая,
Его вседневно ждет она;
Он верил, что друзья готовы
За честь его приять оковы
И что не дрогнет их рука
Разбить сосуд клеветника;
Что есть избранные судьбами,
Людей священные друзья;
Что их бессмертная семья
Неотразимыми лучами
Когда-нибудь нас озарит
И мир блаженством одарит.

 

VIII.

Chàng tin chắc ý trung nhân mình chọn thật 

Phải chung thủy, luôn cùng chàng gắn chặt 

Rằng khổ đau trong nước mắt khóc than

Vẫn hàng ngày luôn một dạ đợi chàng;

Chàng tin tưởng: bạn sẵn sàng chung mục đích

Vì danh dự của chàng, họ nhận mang xiềng xích 

Và họ không hề biết tới run tay

Sẽ đập tan mọi mưu bẩn bôi đen ngay;

Có người được số may lựa chọn,

Đó là bạn bè thiêng liêng của bạn;

Rằng gia đình vượt hoạn nạn của ta

Bằng ánh dương xuyên mọi cản trở để qua

Rọi sáng rực cho ta, rồi đến lúc 

Làm thế giới sáng bừng trong hạnh phúc.

 

IX

Негодованье, сожаленье,
Ко благу чистая любовь
И славы сладкое мученье
В нем рано волновали кровь.
Он с лирой странствовал на свете;
Под небом Шиллера и Гете
Их поэтическим огнем
Душа воспламенилась в нем;
И муз возвышенных искусства,
Счастливец, он не постыдил:
Он в песнях гордо сохранил
Всегда возвышенные чувства,
Порывы девственной мечты
И прелесть важной простоты.

 

IX.

Lòng công phẫn còn trào dâng nuối tiếc,

Tình yêu vật chất nghe càng thuần khiết 

Nỗi đau êm dịu, biết vị vinh quang

Sớm làm sôi dòng máu trong tim chàng.

Nàng thơ với chàng đi vòng thế giới;

Trú mãi dưới bầu trời của Sille với Gớt,

Họ chuyển cho chàng ngọn lửa thi ca,

Tâm hồn chàng bắt lửa cháy thiết tha;

Chàng sung sướng mình không là nguyên nhân để 

Các thần nghệ thuật lâm vào xấu hổ:

Chàng tự tin để nguyên cả trong bài thơ 

Mọi thứ tình cảm đẹp đẽ luôn thanh cao,

Còn trinh bạch là ước mơ bao xúc động 

Sức hấp dẫn bởi giản đơn là quan trọng.

X

Он пел любовь, любви послушный,
И песнь его была ясна,
Как мысли девы простодушной,
Как сон младенца, как луна
В пустынях неба безмятежных,
Богиня тайн и вздохов нежных.
Он пел разлуку и печаль,
И нечто, и туманну даль,
И романтические розы;
Он пел те дальные страны,
Где долго в лоно тишины
Лились его живые слезы;
Он пел поблеклый жизни цвет
Без малого в осьмнадцать лет.

 

X.

Chàng ca ngợi tình yêu, nghe tình yêu mách bảo,

Thơ chàng viết sáng trong, rõ ràng cả,

Như nghĩ suy của thiếu nữ hồn nhiên,

Như giấc mơ trẻ nhỏ, như ánh trăng 

Trời cao tít, những khoảng không tĩnh lặng,

Là thần nữ bí mật, tiếng thở dài dịu nhẹ.

Chàng ngợi ca sự ly biệt với nỗi buồn,

Và còn gì, miền xa phủ sương buông,

Bao nhiêu cánh hồng đưa hương lãng mạn;

Chàng ca tụng miền quê xa vạn dặm,

Nơi từ lâu, giữa tâm lặng bình yên,

Nước mắt chàng nóng bỏng chảy lăn tăn;

Chàng ca ngợi sắc màu cuộc đời nay lụi tắt,

Tuổi mười tám đến gần, non một ít.

 

XI.

В пустыне, где один Евгений
Мог оценить его дары,
Господ соседственных селений
Ему не нравились пиры;
Бежал он их беседы шумной.
Их разговор благоразумной
О сенокосе, о вине,
О псарне, о своей родне,
Конечно, не блистал ни чувством,
Ни поэтическим огнем,
Ни остротою, ни умом,
Ни общежития искусством;
Но разговор их милых жен
Гораздо меньше был умен.

 

XI.

Nơi heo hút, chỉ mình Evghênhi có thể 

Đánh giá hết tài năng người bạn trẻ, 

Không thích thăm địa chủ khác trong vùng,

Chàng không mê những đám tiệc tưng bừng;

Chàng trốn chạy các tiệc mừng ngậu ngã.

Những buổi chuyện trò thông minh, kín kẽ 

Nào chuyện thu hoạch cỏ, nào vị rượu vang,

Hết chuyện nuôi chó săn, sang chuyện họ hàng,

Tất nhiên chẳng có gì khác thường về tình cảm,

Không có ngọn lửa thi ca cháy bỏng,

Không thấy gì sắc sảo, chẳng có thông minh,

Không tỏ ra nghệ thuật sống chung;

Nhưng câu chuyện các bà vợ yêu của họ

Còn để lộ kém thông minh đáng sợ.


XII.

Богат, хорош собою, Ленский
Везде был принят как жених:
Таков обычай деревенский;
Все дочек прочили своих
За полурусского соседа;
Взойдет ли он — тотчас беседа
Заводит слово стороной
О скуке жизни холостой;
Зовут соседа к самовару,
А Дуня разливает чай,
Ей шепчут: «Дуня, примечай!»
Потом приносят и гитару:
И запищит она (Бог мой!):
Приди в чертог ко мне златой!..[1]

 

XII.

Vừa giàu có, lại đẹp trai, là Lenski đó 

Đến đâu cũng được xem là rể khá:

Thì làng quê có tập quán thế mà;

Mọi gia đình có con gái trong nhà 

Đều cố gả với chàng nửa máu Nga cho chắc; 

Chàng vừa tới, mọi chuyện đều dẫn dắt,

Để có người cố nhắc, dù đôi chút vòng vèo,

Rằng độc thân là cảnh sống buồn sao;

Rồi mời gọi chàng trai sang uống nước,

Sai con gái Đunhia ra rót trà mời khách,

Cô nghe thầm:”Đunhia hỡi, chú ý vào!“

Rồi người nhà đem tới đàn ghi ta:

Cô con gái bật tiếng e e (Ôi trời hỡi!):

Mời anh đến lâu đài vàng nhà em với!…

 

(5.Ngầm nhắc khéo về việc Lenski đi du học ở Đức về. (Theo V. Nabôkôp)

 

                         
                 
⭐️

XIII.

Но Ленский, не имев, конечно,
Охоты узы брака несть,
С Онегиным желал сердечно
Знакомство покороче свесть.
Они сошлись: волна и камень,
Стихи и проза, лед и пламень
Не столь различны меж собой.
Сперва взаимной разнотой
Они друг другу были скучны;
Потом понравились; потом
Съезжались каждый день верхом,
И скоро стали неразлучны.
Так люди — первый каюсь я —
От 
делать нечего — друзья.

 

XIII.

Nhưng Lenski, tất nhiên, đâu đã muốn 

Giơ cổ chịu đeo gông hôn nhân sớm,

Tận đáy lòng chàng muốn cùng Ônhêghin 

Có mối quan hệ thân thiết, gần gũi hơn.

Họ kết bạn: như đá ngầm bên nước chảy,

Thơ với văn, đá băng và lửa cháy,

Vậy mà không khác biệt quá nhiều đâu.

Thoạt khởi đầu, cả hai có khác nhau,

Họ hay gặp mà sao không hấp dẫn;

Sau thấy thích; rồi ít lâu, chấp nhận 

Phi ngựa sang nhà nhau tán chuyện mỗi ngày,

Và rất nhanh, họ như bóng với hình ngay 

Tôi thừa nhận: giống người nay mất nết

Nhàn cư sinh ra đàn đúm hết.

 

XIV.

Но дружбы нет и той меж нами;
Все предрассудки истребя,
Мы почитаем всех нулями,
А единицами — себя;
Мы все глядим в Наполеоны;
Двуногих тварей миллионы
Для нас орудие одно;
Нам чувство дико и смешно.
Сноснее многих был Евгений;
Хоть он людей, конечно, знал
И вообще их презирал;
Но правил нет без исключений:
Иных он очень отличал
И вчуже чувство уважал.

 

XIV.

Nhưng tình bạn thế này hai chúng tôi chưa có;

Mọi định kiến xưa kia, nay phải bỏ,

Ta quen coi người khác là số không, 

Chỉ có ta là số một giỏi giang;

Ta chỉ ngắm những Napôlêông mới chịu;

Còn sinh vật hai chân đông hàng triệu 

Ta chỉ xem là công cụ mà thôi;

Ta thấy suy nghĩ đó hoang dã, nực cười.

Evghênhi còn dễ chịu hơn nhiều người khác;

Dù chắc hẳn, con người - chàng quá biết 

Và nói chung, chàng khinh miệt người đời;

Nhưng mọi quy tắc đều có ngoại lệ đấy thôi:

Chàng không giống với bao người khác,
Ai nghĩ khác chàng vẫn nghe là chắc.

XV.

Он слушал Ленского с улыбкой:
Поэта пылкий разговор,
И ум, еще в сужденьях зыбкой,
И вечно вдохновенный взор —
Онегину всё было ново;
Он охладительное слово
В устах старался удержать
И думал: глупо мне мешать
Его минутному блаженству;
И без меня пора придет;
Пускай покамест он живет
Да верит мира совершенству;
Простим горячке юных лет
И юный жар, и юный бред.

 

XV.

Nghe Lenski nói, miệng chàng cười khẽ:

Cách nói chuyện hăng say của thi sĩ,

Khi giãi bày, lý lẽ đâu đã vững vàng,

Và mắt nhìn lúc nào cũng nhiệt tình -

Ônhêghin thấy cái gì cũng lạ;

Chàng định nói lời cho gáo nước lạnh 

Nhưng cố ghìm giữ lại chưa nói ra

Và nghĩ suy: có ngốc mới làm cụt hứng ngay

Lenski đang sướng vui trong giây phút;

Và không có mình, nhưng rồi đến lúc;

Thôi để Lenski sống như thế có sao

Và tin rằng thế giới hoàn hảo biết bao;

Hãy tha thứ tính bốc đồng nơi tuổi trẻ

Cái tuổi quá nhiệt tình hay hoang tưởng.

XVI.

Меж ними всё рождало споры
И к размышлению влекло:
Племен минувших договоры,
Плоды наук, добро и зло,
И предрассудки вековые,
И гроба тайны роковые,
Судьба и жизнь в свою чреду,
Всё подвергалось их суду.
Поэт в жару своих суждений
Читал, забывшись, между тем
Отрывки северных поэм;
И снисходительный Евгений,
Хоть их не много понимал,
Прилежно юноше внимал.

 

XVI.

Giữa hai bạn ngày một nhiều tranh cãi 

Thường dẫn tới trầm ngâm suy ngẫm mãi

Nào từ xưa khế ước xã hội có thế nào,

Nào thành công khoa học, rồi thiện ác ra sao

Và định kiến thì ăn sâu khó mà trị nổi

Và bí mật sự sống bên kia thế giới,

Rồi cuộc đời và số phận mới được bàn,

Mọi đề tài được tranh luận râm ran.

Khi hăng hái chứng minh, đưa ra nhận định

Quên mọi sự, chàng đọc luôn một mạch 

Nhiều đoạn trong trường ca đất Bắc lừng danh;

Và Evghênhi tỏ thái độ rất bao dung,

Dù chàng cũng không thông hiểu hết,

Vẫn cố gắng hiểu sâu người bạn tốt.


XVII.

Но чаще занимали страсти
Умы пустынников моих.
Ушед от их мятежной власти,
Онегин говорил об них
С невольным вздохом сожаленья.
Блажен, кто ведал их волненья
И наконец от них отстал;
Блаженней тот, кто их не знал,
Кто охлаждал любовь разлукой,
Вражду злословием; порой
Зевал с друзьями и женой,
Ревнивой не тревожась мукой,
И дедов верный капитал
Коварной двойке не вверял!

 

XVII.

Nhưng nhiều lúc, quá say mê thành căng thẳng 

Chiếm đầu óc hai bạn tôi nơi hoang vắng 

Thoát ra rồi lúc đấu lý đang say,

Ônhêghin từng nói đến việc này,

Chàng bất giác thở dài đầy nuối tiếc.

May cho kẻ từng qua cơn lo chết khiếp,

Cuối cùng, lui đi để mọi chuyện lại đằng sau;

Người may hơn nữa là tránh được thật mau

Muốn làm nguội tình yêu, tạm xa nhau một dạo 

Muốn làm nguội hận thù, cứ gièm pha, dù sạo;

Đôi khi, đành ngáp dài với vợ và bạn bè,

Không phải âu lo, đau khổ, ghen làm gì 

Và vốn liếng vững bền mà ông cha để lại

Đừng đắm  đuối bạc bài - nuôi con hai tàn hại!


XVIII.

Когда прибегнем мы под знамя
Благоразумной тишины,
Когда страстей угаснет пламя
И нам становятся смешны
Их своевольство иль порывы
И запоздалые отзывы, —
Смиренные не без труда,
Мы любим слушать иногда
Страстей чужих язык мятежный,
И нам он сердце шевелит;
Так точно старый инвалид
Охотно клонит слух прилежный
Рассказам юных усачей,
Забытый в хижине своей.

 

XVIII.

Tập hợp dưới cờ, chúng tôi cùng gặp lại 

Tìm  về sự khôn ngoan trong im lặng mãi 

Khi lửa hổng đam mê tắt lịm rồi,

Chúng tôi coi mọi chuyện hóa nực cười

Họ đều quá tự tin, hay hai người xúc động,

Cả những nhận xét được đưa ra dù muộn,-

Chúng tôi nhường nhịn nhau không phải không khó khăn,

Rất nhiều khi, chúng tôi thích nghe hơn 

Người khác xúc động nói năng giông bão

Và nó khiến chúng tôi cùng động não;

Y hệt người lõi đời già cả sống bên lề

Vẫn say sưa tập trung dỏng tai nghe 

Những cậu bé để râu mê mải kể,

Lão bị lãng quên trong căn lều sập xệ.

XIX.

Зато и пламенная младость
Не может ничего скрывать:
Вражду, любовь, печаль и радость
Она готова разболтать.
В любви считаясь инвалидом,
Онегин слушал с важным видом,
Как, сердца исповедь любя,
Поэт высказывал себя;
Свою доверчивую совесть
Он простодушно обнажал.
Евгений без труда узнал
Его любви младую повесть,
Обильный чувствами рассказ
Давно не новыми для нас.

 

XIX.

Nhưng bù lại, tuổi trẻ trung bốc lửa 

Cũng không thể che giấu gì được nữa:

Cả tình yêu, nỗi buồn, thù hận, với hân hoan 

Tuổi trẻ luôn sẵn sàng moi kể hết ruột gan.

Coi mình lõi đời, trong tình yêu sành sỏi,

Ônhêghin vẻ nghiêm trang, ngồi im theo dõi,

Do thích lời thổ lộ từ trái tim

Nhà thơ làm lộ hết bản thân mình;

Trong sâu thẳm, chàng luôn đầy tin tưởng 

Chàng rất thật, đưa mọi điều ra kể lể.

Evghênhi quá dễ nhận được ra

Chuyện tình của chàng lúc trẻ ở nhà,

Một câu chuyện thấm đẫm thừa xúc cảm 

Với ta chẳng có gì mới từ lâu lắm.

 


XX.

Ах, он любил, как в наши лета
Уже не любят; как одна
Безумная душа поэта
Еще любить осуждена:
Всегда, везде одно мечтанье,
Одно привычное желанье,
Одна привычная печаль!
Ни охлаждающая даль,
Ни долгие лета разлуки,
Ни музам данные часы,
Ни чужеземные красы,
Ни шум веселий, ни науки
Души не изменили в нем,
Согретой девственным огнем.

 

XX.
Ôi, ở tuổi ta, ai yêu mê muội, 

Là thi sĩ, chàng mải mê theo đuổi 

Với tâm hồn mất trí, nổi khùng điên 

Số phận đòi chàng phải yêu như mê:

Ở mọi lúc, mọi nơi chỉ chăm chăm điều ước,

Một mong ước luôn luôn nghe quen thuộc,

Một nổi buồn luôn gắn chặt không rời!

Không cách xa để bớt căng cuộc đời,

Không phải sống những năm dài xa cách,

Không giây phút nào cho các nữ thần âm nhạc,

Không được làm quen mọi vẻ đẹp ngoại bang,

Không được vui ầm ỹ, hay khoa học - càng không,

Để tâm trí chàng luôn trước sau như một,

Nhờ có lửa than hồng trinh nguyên làm ấm suốt



XXI

Чуть отрок, Ольгою плененный,
Сердечных мук еще не знав,
Он был свидетель умиленный
Ее младенческих забав;
В тени хранительной дубравы
Он разделял ее забавы,
И детям прочили венцы
Друзья-соседы, их отцы.
В глуши, под сению смиренной,
Невинной прелести полна,
В глазах родителей, она
Цвела, как ландыш потаенный,
Незнаемый в траве глухой
Ни мотыльками, ни пчелой.

 

XXI.

Tuổi mới lớn, chàng say Ônga mê mẩn,

Trái tim nhỏ chưa một lần đau khổ hẳn

Chàng là người chứng kiến đủ chân thành 

Mọi trò vui ngày thơ nhỏ của nàng;

Dưới bóng mát rừng cây xoè cành che chở 

Mọi vui thú của nàng, chàng chia sẻ,

Bố mẹ hai bên đã hứa hẹn cùng nhau,

Con trưởng thành, hai nhà kết thông gia mau

Nơi vắng vẻ, trong bóng râm sao yên tĩnh,

Đâu cũng thấy sắc hương hồn nhiên hấp dẫn,

Trong ánh nhìn mẹ cha, thì hẳn con gái yêu 

Như đóa linh lan chúm chím được nuông chiều 

Ẩn trong thảm cỏ xanh giữa miền vắng vẻ 

Tránh xa muỗi ong, trong vòng tay ấp ủ.

 

XXII

Она поэту подарила
Младых восторгов первый сон,
И мысль об ней одушевила
Его цевницы первый стон.
Простите, игры золотые!
Он рощи полюбил густые,
Уединенье, тишину,
И ночь, и звезды, и луну,
Луну, небесную лампаду,
Которой посвящали мы
Прогулки средь вечерней тьмы,
И слезы, тайных мук отраду…
Но нынче видим только в ней
Замену тусклых фонарей.

 

XXII.

Nhờ nàng tặng chàng lần đầu gặp mộng 

Được đón gặp bao niềm vui, xúc động,

Suy nghĩ về nàng như được khơi lên

Trong lòng chàng những áng thơ đầu tiên.

Xin thứ lỗi, ơi trò chơi trong mộng đẹp!

Chàng yêu thích các khu rừng rậm rạp,

Những nơi êm đềm, không khí thật bình yên,

Cả trời sao, ánh trăng rọi bóng đêm,

Cả trăng sáng đèn trời soi vàng rực,

Ta gắn bó với ánh trăng bao kỉ niệm thực 

Những lần hò hẹn trong chạng vạng chiều hôm,

Và lệ rơi, niềm vui thầm kín, đau thương…

Nhưng giờ đây, nhìn trăng ta chỉ thấy 

Thứ thường chiếu thay đèn mờ tối vậy.

 

(4.Tiếng sáo cất cao giọng khóc than đầu tiên.)

 

XXIII

Всегда скромна, всегда послушна,
Всегда как утро весела,
Как жизнь поэта простодушна,
Как поцелуй любви мила;
Глаза, как небо, голубые,
Улыбка, локоны льняные,
Движенья, голос, легкий стан,
Все в Ольге… но любой роман
Возьмите и найдете верно
Ее портрет: он очень мил,
Я прежде сам его любил,
Но надоел он мне безмерно.
Позвольте мне, читатель мой,
Заняться старшею сестрой.

 

XXIII.

Nàng khiêm tốn, luôn tỏ ra ngoan ngoãn 

Lúc nào cũng vui tươi như trời buổi sáng,

Như cuộc đời thi sĩ quá hồn nhiên 

Nàng đáng yêu hệt nụ hôn tình yêu;

Nàng nhìn mắt xanh như trời xanh xanh thẳm,

Nụ cười sáng, lọn tóc nàng vàng sậm,

Tay đung đưa, tiếng nói, dáng nhẹ nhàng,

Tất mọi điều trong Ônga… nhưng bất cứ truyện nào

Ta cầm đọc, thấy tả đều chính xác,

Chân dung thật nàng: sao đáng yêu nhất,

Trước kia tôi từng thích, rất say mê,

Nhưng giờ đây, thấy chán, những muốn chê.

Ơi bạn đọc thân yêu của tôi, xin phép nhé

Nói về chị gái nàng trước tiên, tôi sẽ kể



 

XXIV

Ее сестра звалась Татьяна…
Впервые именем таким
Страницы нежные романа
Мы своевольно освятим.
И что ж? оно приятно, звучно;
Но с ним, я знаю, неразлучно
Воспоминанье старины
Иль девичьей! Мы все должны
Признаться: вкусу очень мало
У нас и в наших именах
(Не говорим уж о стихах);
Нам просвещенье не пристало,
И нам досталось от него
Жеманство, — больше ничего.

 

XXIV.

Nàng có chị là Tachiana theo tên gọi…

Lần đầu tiên, tên này được nhắc tới 

Trong các trang truyện tình ướt át ở đây,

Chúng tôi yên tâm dành cả số trang này.

Và sao nhỉ? Cái tên dễ nghe, đầy lí thú;

Nhưng tôi biết, cái tên này gắn bó

Bao nhớ nhung xa xưa, hoặc thấy có đặt nhiều 

Cho các cô con gái dân thường! Chúng ta đều 

Nhận ra: óc thẩm mỹ ở ta là quá ít

Trong việc chọn tìm đặt tên thì biết 

(Đấy là chưa nói chuyện sáng tác thơ ca);

Giáo dục chưa đóng góp gì cho ta,

Cái ta nhận từ nhà trường như cam kết

Chỉ õng ẹo, vênh vang và chấm hết.

 

 

XXV

Итак, она звалась Татьяной.
Ни красотой сестры своей,
Ни свежестью ее румяной
Не привлекла б она очей.
Дика, печальна, молчалива,
Как лань лесная боязлива,
Она в семье своей родной
Казалась девочкой чужой.
Она ласкаться не умела
К отцу, ни к матери своей;n
Дитя сама, в толпе детей
Играть и прыгать не хотела
 И часто целый день одна
Сидела молча у окна.

 

XXV.

Và như vậy, Tachiana là tên được gọi

Nàng không đẹp như cô em nổi trội,

Nhìn không tươi, da hồng đỏ được như Ônga

Nàng chẳng thu hút mắt ta mê ngay.

Trông hoang dại, nét tẻ buồn, hay nói ít

Ngơ ngác giống nai rừng, nhìn nhút nhát,

Nàng sống cùng người thân nhất trong gia đình 

Mà như con nhà khác lọt giữa người mình 

Nàng không ríu rít, cùng đùa vui với bố,

Không nhõng nhẽo bên mẹ, chạy theo đeo trên cổ,

Là trẻ thơ, nhưng khi có đủ trẻ con

Nàng không chơi, không chạy nhảy vui chung 

Và nhiều lúc, suốt ngày trông đơn độc 

Bên cửa sổ ngồi im, không trò chuyện. 

 

XXVI

Задумчивость, ее подруга
От самых колыбельных дней,
Теченье сельского досуга
Мечтами украшала ей.
Ее изнеженные пальцы
Не знали игл; склонясь на пяльцы,
Узором шелковым она
Не оживляла полотна.
Охоты властвовать примета,
С послушной куклою дитя
Приготовляется шутя
К приличию — закону света,
И важно повторяет ей
Уроки маменьки своей.

 

XXVI.

Nàng luôn giữ vẻ đăm chiêu trên mặt 

Từ lúc mới nằm nôi, cho đến giờ này thật,

Những tháng ngày vui chơi đồng đất thôn trang

Nàng đắm chìm trong mộng tưởng mơ màng.

Ngón tay nuột nà chưa một lần đụng tới 

Nào kim, chỉ; khi khom lưng trên khung dệt mới

Nàng không đưa những hình vẽ dịu mềm 

Dệt thành tranh trên tấm vải diệu huyền.

Nàng thích hiểu thật sâu nhiều điềm báo,

Như cô bé chơi búp bê dễ sai bảo,

Nàng tiếp thu như kiểu chỉ chơi chơi 

Phép xã giao phải học của giới thượng lưu thôi 

Làm vẻ mặt nghiêm trang, nàng luôn nhắc lại

Những bài học bà mẹ đầy yêu thương đã dậy.


XXVII

Но куклы даже в эти годы
Татьяна в руки не брала;
Про вести города, про моды
Беседы с нею не вела.
И были детские проказы
Ей чужды: страшные рассказы
Зимою в темноте ночей
Пленяли больше сердце ей.
Когда же няня собирала
Для Ольги на широкий луг
Всех маленьких ее подруг,
Она в горелки не играла,
Ей скучен был и звонкий смех,
И шум их ветреных утех.

 

XXVII.

Nhưng hồi nhỏ, Tachiana chưa hề bế

Búp bê để lên tay chơi trò em bé;

Nàng chưa hề góp chuyện về tin mới trong thành 

Hay chuyện thời trang mốt đang hiện hành.

Nàng xa lạ trò nghịch linh tinh từ con nít:

Nàng chỉ thích những chuyện gì khủng khiếp,

Kể vào đêm đông trời tối mịt mùng 

Nàng nghe xong nhớ nhất, dù hãi hùng.

Còn theo đúng lời mà Ônga mong mãi 

U già rủ trẻ nhỏ ra ngoài đồng rộng rãi

Những bạn cùng đồng lứa đồng trang,

Nàng cũng không chơi trò đuổi bắt nhau,

Nàng thấy chán tiếng cười nghe sang sảng 

Những trò giải trí vô duyên - nàng không bén mảng.

 

XXVIII

Она любила на балконе
Предупреждать зари восход,
Когда на бледном небосклоне
Звезд исчезает хоровод,
И тихо край земли светлеет,
И, вестник утра, ветер веет,
И всходит постепенно день.
Зимой, когда ночная тень
Полмиром доле обладает,
И доле в праздной тишине,
При отуманенной луне,
Восток ленивый почивает,
В привычный час пробуждена
Вставала при свечах она.

 

XXVIII.

Nàng thích đợi trên ban công sáng sớm 

Mặt trời mọc, là người đầu tiên chào đón

Khi bầu trời còn phủ sáng mờ mờ,

Những chòm sao cứ lặn mất từ từ,

Và trời đất sáng dần lên từng giờ mới 

Gió nhẹ thổi như báo tin ban mai tới,

Mỗi phút giây qua đi, một ngày mới bắt đầu.

Mùa đông về, bóng đêm đọng lại mãi, lưu lâu 

Phủ hết nửa bầu trời trên thảo nguyên gần kín,

Và đồng cỏ nằm im lìm lười biếng,

Dưới ánh trăng mờ ảo khoác áo sương mù,

Còn chìm say giấc nồng, phương đông vẫn lờ đờ

Giờ quen thuộc, nàng chợt vùng thức giấc 

Và trở dậy khi nến, đèn vẫn thắp.

 

XXIX

Ей рано нравились романы;
Они ей заменяли все;
Она влюблялася в обманы
И Ричардсона и Руссо.
Отец ее был добрый малый,
В прошедшем веке запоздалый;
Но в книгах не видал вреда;
Он, не читая никогда,
Их почитал пустой игрушкой
И не заботился о том,
Какой у дочки тайный том
Дремал до утра под подушкой.
Жена ж его была сама
От Ричардсона без ума.

 

XXIX.

Từ rất sớm, nàng đã mê tiểu thuyết;

Nàng đọc truyện thay cho nhiều thứ khác;

Nàng ngây thơ tin các chuyện bịa ra

Của Ritrardson và của Russô

Bố nàng tốt hiền, trông thấp nhỏ,

Kiểu người vấn vương thế kỷ qua còn sót đó;

Nhưng không coi sách truyện có hại ở điểm gì

Còn chính ông chưa đọc truyện bao giờ,

Ông coi truyện là một trò vô bổ,

Ông không quá phải quan tâm đến chỗ

Con gái ông đọc gì bí mật dưới gối kia

Thức thâu đêm đọc truyện tới sáng ra.

Vợ ông mới đam mê quá đáng

Chuyện của Ritrardson làm bà mê sảng.|

🌿💛🥀

XXX

Она любила Ричардсона
Не потому, чтобы прочла,
Не потому, чтоб Грандисона
Она Ловласу предпочла;
Но в старину княжна Алина,
Ее московская кузина,
Твердила часто ей об них.
В то время был еще жених
Ее супруг, но по неволе;
Она вздыхала по другом,
Который сердцем и умом
Ей нравился гораздо боле:
Сей Грандисон был славный франт,
Игрок и гвардии сержант.

 

XXX.

Bà mê Ritrardson sao mà khổ sở 

Không phải bởi bà từng xem hết cả,

Không phải vì bà đo đếm Lôvlas rạch ròi,

Trong lòng bà, Gradison được thích hơn thôi 

Nhưng trời hỡi, Alina là tên bà bá tước 

Người chị họ độc thân ở Matxcơva từ trước 

Kể cho bà nghe suốt các nhân vật này.

Lúc ấy, ông hỏi bà mới được vài ngày 

Là chồng bà sau này, nhưng do nhà gả ép;

Vì dạo ấy, bà nặng lòng với người khác,

Người mà cả lý trí lẫn con tim

Bà tỏ ra đều thích vì hợp ý nhiều hơn:

Ông Grandison ấy luôn bảnh bao tuyệt thế,

Ăn chơi có số, một sỹ quan cận vệ.

 

XXXI

Как он, она была одета
Всегда по моде и к лицу;
Но, не спросясь ее совета,
Девицу повезли к венцу.
И, чтоб ее рассеять горе,
Разумный муж уехал вскоре
В свою деревню, где она,
Бог знает кем окружена,
Рвалась и плакала сначала,
С супругом чуть не развелась;
Потом хозяйством занялась,
Привыкла и довольна стала.
Привычка свыше нам дана:
Замена счастию она.

 

XXXI.

Giống chồng quá, bà cầu kì ăn mặc 

Lúc nào cũng theo thời trang và dáng hợp;

Nhưng việc tìm chồng, nhà cấm hỏi ý bà

Dẫn bà đi làm lễ đính hôn ở nhà thờ.

Và để xoá đi buồn đau còn lưu mãi 

Ông chồng khéo khôn đã lên đường vội vã

Đưa bà về quê ông ngay đã, nơi mà bà

Có trời hay, là giờ ở với ai một nhà,

Bà vật vã, ban đầu, khóc lệ dài, lệ ngắn,

Chỉ suýt nữa bà ly hôn xong hẳn;

Bà bắt tay vào cai quản gia đình,

Rồi quen dần, bà thấy hợp ý tình hình

Chính thượng đế ban thói quen cho mình đúng lúc:

Thói quen đến thay cho hạnh phúc.

 

XXXII

Привычка усладила горе,
Не отразимое ничем;
Открытие большое вскоре
Ее утешило совсем:
Она меж делом и досугом
Открыла тайну, как супругом
Самодержавно управлять,
И все тогда пошло на стать.
Она езжала по работам,
Солила на зиму грибы,
Вела расходы, брила лбы,
Ходила в баню по субботам,
Служанок била осердясь —
Все это мужа не спросясь.

 

XXXII.

Thói quen giúp ta nguôi ngoai đau khổ,

Cái đau khổ tưởng như không vượt nổi;

Rồi bà nhìn ra một phát kiến lớn lao

Có nó rồi, bà yên phận biết bao:

Cứ xen giữa nghỉ ngơi sau làm việc 

Một điều bí mật được bà phát hiện:

Phải chuyên quyền, quản ông thật chặt vào 

Kết quả là, mọi việc chạy ào ào 

Cố sắp xếp công việc theo cách bà tính toán,

Đông chưa đến, đã phải lo muối nấm,

Ghi chép chi thu, cắt tóc hở tai,

Theo lịch thì ngày thứ bẩy tắm hơi,

Hễ tức giận, bà đánh luôn người giúp việc -

Bà làm tất, không hỏi chồng mà vẫn được.

XXXIII

Бывало, писывала кровью
Она в альбомы нежных дев,
Звала Полиною Прасковью
И говорила нараспев,
Корсет носила очень узкий,
И русский Н как N французский
Произносить умела в нос;
Но скоро все перевелось:
Корсет, альбом, княжну Алину,
Стишков чувствительных тетрадь
Она забыла: стала звать
Акулькой прежнюю Селину
И обновила наконец
На вате шлафор и чепец.

 

XXXIII.

Cũng có lúc, máu lấy ra - bà đành phải 

Để ghi chép cuốn album con gái,

Bà xưng tên mình là Pôlina Prascôva,

Giọng bà nghe như kéo mãi ngân nga,

Bà mặc áo nịt ngực may bó cứng,

Và chữ N tiếng Nga, bà pha giọng mũi đúng 

Ta nghe như N của tiếng Pháp chính tông;

Nhưng rồi sau, mọi sự xáo trộn lung tung 

Áo nịt ngực, album, Alina - nữ bá tước 

Album chép thơ tình sướt mướt 

Bà quên luôn: và quyết gọi giờ đây 

Cái tên xưa Sêlina nay gọi Akulka ngay

Và sau chót, bà bắt tay làm lại tất

Mũ che tóc, áo ngủ giờ lót bông tất tật.

 

(2.album là loại sổ tay con gái , dùng để ghi chép thơ, đoạn văn hay, lời chúc nhân các dịp khác nhau. Kiểu như sổ lưu niệm, lưu bút của giới trẻ Việt Nam hiện nay.

 

3.Прасковья hay Парасковья , tên phụ nữ Nga dạng thường, khi có dạng âu yếm là: Параша , Паша . Do ảnh hưởng tiếng Pháp, có dạng Pauline, nên tên tiếng Nga lại là: Полина. Ngay các tên Nga dạng thân thiết, bị lai tiếng Pháp, nên bà chị họ gọi Паша Ларина là Pachette (chương VII, khổ XLI, 1.)

 

6.(и русский Н как N французский )được đọc như sau: (и русский “наш” как “эн “ французский ). “Наш” là tên chữ cái “н “trong bảng chữ cái ngôn ngữ nhà thờ của người Slavơ.)

 

XXXIV

Но муж любил ее сердечно,
В ее затеи не входил,
Во всем ей веровал беспечно,
А сам в халате ел и пил;
Покойно жизнь его катилась;
Под вечер иногда сходилась
Соседей добрая семья,
Нецеремонные друзья,
И потужить, и позлословить,
И посмеяться кой о чем.
Проходит время; между тем
Прикажут Ольге чай готовить,
Там ужин, там и спать пора,
И гости едут со двора.

 

XXXIV.

Nhưng chồng tỏ ra càng yêu bà tha thiết,

Không can thiệp, mặc bà làm tùy thích,

Ông tin bà mọi việc tích trong nhà,

Mặc pi gia ma, ông ăn uống khề khà;

Cuộc sống tĩnh lặng của ông dần dà trôi mãi;

Vài lần tối, ông bà tiếp khách lại

Mấy gia đình hàng xóm tốt bụng sang chơi,

Khách tự nhiên, không đòi hỏi lễ nghi,

Đùa tí chút, chuyện cà kê một ít

Vui chuyện tếu để giễu cười khúc khích.

Rồi lát sau; nhà gọi chính Ônga

Ra chào mời khách khứa uống trà,

Rồi ăn tối, rồi đến giờ đi ngủ,

Khách về cả sau khi cám ơn, chào gia chủ.

 

XXXV

Они хранили в жизни мирной
Привычки милой старины;
У них на масленице жирной
Водились русские блины;
Два раза в год они говели;
Любили круглые качели,
Подблюдны песни, хоровод;
В день Троицын, когда народ,
Зевая, слушает молебен,
Умильно на пучок зари
Они роняли слезки три;
Им квас как воздух был потребен,
И за столом у них гостям
Носили блюды по чинам.

 

XXXV.

Sống yên tĩnh, hai ông bà vẫn giữ 

Những lề thói đáng yêu ngày xưa cũ;

Lễ tiễn mùa đông, nấu nhiều thứ béo ngon 

Người nhà dồn vào làm bánh xèo Nga xong,

Năm hai bận, nhà ăn kiêng theo lễ;

Họ rất thích trò đu quay vui vẻ,

Những bài dân ca, trò múa quay vòng;

Dự lễ Thánh ba ngôi, khi tất cả dân thường 

Miệng thì ngáp, tai đang nghe tạ Lễ

Khi đứng cạnh bó nhành cây zaria trên bệ

Họ nhỏ dăm giọt lệ xuống lá cây;

Họ quen dùng Kvas như thở khí trời tươi đây

Ngồi vào bữa, nhà vẫn noi phong tục 

Phục vụ khách theo đúng ngôi thứ bậc.

 

(12.Nước kvas là nước uống không cồn, được để lên men, làm từ lúa mạch, có loại được trộn thêm mật ong, nước hoa quả.)


  🌿💛🥀

XXXVI

И так они старели оба.
И отворились наконец
Перед супругом двери гроба,
И новый он приял венец.
Он умер в час перед обедом,
Оплаканный своим соседом,
Детьми и верною женой
Чистосердечней, чем иной.
Он был простой и добрый барин,
И там, где прах его лежит,
Надгробный памятник гласит:
Смиренный грешник, Дмитрий Ларин,
Господний раб и бригадир,
Под камнем сим вкушает мир.

 

XXXVI.

Sống như vậy, họ già đi cùng tuồi tác,

Và sau rốt, ông chồng bà mất trước,

Khi nắp quan tài được mở rước ông đi

Ông đưa tay đỡ hoa mới tết tươi 

Ông chết một giờ trước khi ngồi vào bữa,

Cùng thương khóc ông có bác nhà bên nữa,

Có các con và vợ giữ thủy chung,

Họ khóc than thảm thiết hơn người dưng.

Ông bá tước giản đơn cùng tốt bụng lạ

Nơi linh cữu chôn giờ xây thành mộ đá

Tấm bia trên mồ có khắc chữ ghi:

Con chiên nay ngoan đạo Đmitri Larin,

Nô lệ của Chúa, mang lon đại tá,

Yên nghỉ vĩnh hằng nơi đây, trong mộ đá.

 

XXXVII

Своим пенатам возвращенный,
Владимир Ленский посетил
Соседа памятник смиренный,
И вздох он пеплу посвятил;
И долго сердцу грустно было.
«Рооr Yorick! — молвил он уныло. —
Он на руках меня держал.
Как часто в детстве я играл
Его Очаковской медалью!
Он Ольгу прочил за меня,
Он говорил: дождусь ли дня?..»
И, полный искренней печалью,
Владимир тут же начертал
Ему надгробный мадригал.

 

XXXVII.

Khi trở lại mái nhà xưa thân thiết,

Vladimir Lenski dành thời gian thăm hết 

Phần mộ chôn của chính bác láng giềng,

Chàng thở dài, nhớ người chết thật hiền;

Buồn da diết, thấy lòng càng trống trải.

“Ổi  thương quá Yorick!”- chàng than sao buồn mãi.-

Ngày còn thơ, tôi được bác bế ẵm trên tay.

Có nhiều lần hồi nhỏ tuổi thơ ngây,

Tôi thường nghịch huân chương Ôtrakốp của bác!

Bác hẹn gả Ônga cho tôi từ dạo trước,

Bác nói rằng:”Liệu bác sống được tới ngày vui?…”

Và trong tôi ngập nỗi buồn bùi ngùi,

Ngay lập tức Vladimir ngồi chấp bút 

Viết thơ tưởng niệm cho người đã khuất.

 

(6.”Poor Yorick!”)

 

XXXVIII

И там же надписью печальной
Отца и матери, в слезах,
Почтил он прах патриархальный…
Увы! на жизненных браздах
Мгновенной жатвой поколенья,
По тайной воле провиденья,
Восходят, зреют и падут;
Другие им вослед идут…
Так наше ветреное племя
Растет, волнуется, кипит
И к гробу прадедов теснит.
Придет, придет и наше время,
И наши внуки в добрый час
Из мира вытеснят и нас!

 

XXXVIII.

Ở đây, trước dòng chữ buồn trên bia mộ 

Chàng làm lễ cúng hương hồn mẹ và bố

Mắt chàng rưng rưng ướt lệ buồn rầu…

Than ôi! trên muôn vạn nẻo đường trần

Bao thế hệ chết bất ngờ như ngả rạ,

Theo ý muốn bí mật từ thiên mệnh cả

Con đường sinh-lão-tử ai chả qua;

Thế hệ sau tiếp bước người đi xa…

Đời người chỉ thoáng qua theo gió thổi 

Nào khôn lớn, lo toan, quay cuồng, sôi nổi 

Rồi chen chân đẩy ông bà tiên tổ xuống mồ.

Chắc chắn là ta rồi sẽ đến thời,

Và cháu chắt một ngày lành rồi tới 

Gạt ta khỏi đời này về bên kia thế giới!

XXXIX

Покамест упивайтесь ею,
Сей легкой жизнию, друзья!
Ее ничтожность разумею
И мало к ней привязан я;
Для призраков закрыл я вежды;
Но отдаленные надежды
Тревожат сердце иногда:
Без неприметного следа
Мне было б грустно мир оставить.
Живу, пишу не для похвал;
Но я бы, кажется, желал
Печальный жребий свой прославить,
Чтоб обо мне, как верный друг,
Напомнил хоть единый звук.

 

XXXIX.

Khi cuộc sống vẫn còn đang dễ chịu 

Hãy tận hưởng chán chê, ơi bạn hữu!

Tôi hiểu đời người là chớp mắt, qua mau,

Tôi sẽ không trói mình chặt bởi nó đâu; 

Tránh ảo ảnh, tôi nhắm mau hai mắt;

Nhưng hy vọng ở chân trời xa tắp 

Vẫn nhắn về trái tim biết lắm khi

Nếu không lưu trên nẻo đường đi dấu vết gì

Thật buồn chán phải xa rời thế giới.

Tôi đang sống, viết ra, đâu chỉ mong ca ngợi;

Nhưng chắc là, tôi nuôi mộng thành danh

Muốn số mình rủi may, buồn bã, nổi tiếng tăm,

Tôi được nhắc, như người bạn thủy chung son sắt

Sẽ nhớ đến tôi dù một lời duy nhất.

 

XL

И чье-нибудь он сердце тронет;
И, сохраненная судьбой,
Быть может, в Лете не потонет
Строфа, слагаемая мной;
Быть может (лестная надежда!),
Укажет будущий невежда
На мой прославленный портрет
И молвит: то-то был поэт!
Прими ж мои благодаренья,
Поклонник мирных аонид,
О ты, чья память сохранит
Мои летучие творенья,
Чья благосклонная рука
Потреплет лавры старика!

 

XL.

Và có lẽ, có trái tim ai khác;

Sẽ rung động bởi thơ tôi sáng tác 

Được lưu truyền nhờ số kiếp giữ gìn,

Và có khi, không bị quên lãng nhấn chìm;

Cũng có thể là (ước mong đầy dịu ngọt!),

Rồi tới lúc, có anh chàng thật dốt

Vẫn chỉ ra chân dung tôi rất được tụng ca

Và thốt lên: Đây mới đúng nhà thơ mà!

Hãy đón nhận lời tạ ơn từ tôi chân thật,

Hỡi bạn mộ điệu các vị thần nghệ thuật,

Trong con tim của bạn vẫn giữ nguyên 

Những vần thơ tôi đang bay lượn lan truyền,

Bàn tay bạn vị tha, càng rộng rãi 

Lật tìm đọc thơ ca của ông lão!

 

CHÚ THÍCH

Chương Hai

(Số La mã là Khổ thơ; số thường là thứ tự của dòng)

 

Lời đề từ có 2 phần: phần 1: “ O rus! Horas. ; phần 2: “O Русь!” Thủ pháp chơi chữ, hai phần này đi liền nhau, tạo nên đối lập giữa hình ảnh làng quê trong thơ ca và nông thôn Nga trong thực tế.

Dịch: “Ôi làng quê!” “Ôi nước Nga!”

I.

10.селы là tên tộc người vùng Ban tích, trước thế kỷ XV, sống trên đất Latvia.

II.
7.Lúc đầu, Puskin đã viết “царей портреты», nhưng “để kiểm duyệt” (luật không cho phép nhắc tên Nga hoàng lung tung như vậy), ông đã thay bằng «портреты дедов». Trong hai bản chụp, Pushkin ghi chú «Дл[я] ценз[уры] портреты предков».

III.

4.Bác suốt ngày nhìn qua cửa sổ và lo đập ruồi. Nhiều tác giả giải thích đây là cách nói dân dã về việc người bác say rượu lử đử, ngồi một chỗ làm động tác như đập ruồi.

13….bận trăm công ngàn việc. Puskin dùng cách đối lập hình ảnh của người bác luôn say rượu và lại bận trăm công ngàn việc để nói một cách châm biếm về người bác.

IV

6,7Chế độ nông nô ở nông thôn Nga được thực hiện dưới hình thức:

Барщина : Chế độ lao động cưỡng bức, nô dịch, tạp dịch. Nông nô phải làm việc không công cho chủ nô trong gần hết thời gian một năm.

Облог: Sau này, một số địa chủ có đầu óc tiến bộ, đã chuyển sang chế độ thu tô. Nông nô làm trên đất của chủ, phải trả tô bằng tiền hay hiện vật. Hình thức này có tốt hơn trước: nông dân được giảm bớt lao động, thu nhập đã khá hơn, nông nô đến gần với việc được giải phóng khỏi kiếp nô lệ.

Chủ nô có bị giảm các khoản thu.

Nhưng vấn đề chế độ nông nô ở Nga vẫn chưa được giải quyết triệt để. Mãi đến năm 1856, có cách mạng nông dân, nông nô mới được trả tự do. Nông nô sống trên đất của hoàng gia, được thành người tự do năm 1866.
XII
5…полурусского…- ý đùa cợt, nhắc chuyện Lenxky được tu nghiệp ở nước ngoài về.
XVI.
“Договоры» и «плоды наук» được bàn tới trong các công trình của Russoo “Về khế ước xã hội” (1762) và “Việc khôi phục khoa học và nghệ thuật có thúc đẩy việc nâng cao đạo đức không” (1750)

11.северные поэмы. Север thường ngầm hiểu nói về nước Nga. Trường ca phương Bắc, có thể là “Песни Оссиана, сына фингалa” Д. Макферсона .
XVII.
14.Коварной двойке…- Nói về quân bài có số hai, hay có giá trị như số hai nào đó, là biểu hiện của thần may mắn, tuy nhiên, đôi khi lại hoá ra phản chủ.

XVIII.

10.инвалид thời Puskin có nghĩa gần với ветеран thời chúng ta. Ý châm biếm: người từng trải, sành sỏi, nhiều kinh nghiệm tình trường.

XXII.

4.dịch nghĩa: Tiếng sáo cất cao giọng khóc than đầu tiên.

XXIV.

1.Những tên gốc Hy Lạp, nghe du dương như: Агафон , Филат .v.v. thường được đặt cho con cái gia đình thường dân. Tên Tachiana cũng vậy.

8.Девичья - phòng con gái trong các gia đình thường dân. Dịch nghĩa: Tên Татьяна thường được nghe nhiều trong phòng con gái các gia đình dân thường.

XXVI.

13.бригадир .Theo bảng phân cấp chức vụ trong quân đội Nga hoàng thời đó, бригадир thuộc bậc 5, cao hơn đại tá, thấp hơn thiếu tướng, có thể là chuẩn tướng chăng?! Người dịch bí từ chọn cho vần, nên phải bớt “ lon” của nhân vật, vì “đại tá” hợp vần với “mộ đá” ở dòng sau.

XXXII.

11.Брить грибы. Là công việc chủ nô phải làm khi giao nộp nông nô đi lính quân dịch, chủ phải cho cắt sạch tóc trước trán của số nông nô này.

XXXIV
7 Соседей добрая семья… - Có một điều lí thú là, ông chủ các gia đình từng đến thăm nhà Larrin, được miêu tả theo hướng xấu dần, khi nhà thơ của chúng ta viết tới chương năm. Cho đến phút chót, nhà thơ vẫn chưa quyết hẳn là tiếp tục cười giễu hay tỏ lời khen ngợi cách sống của người tỉnh lẻ, cũ kỹ (nếp sống khổ hạnh hay lành mạnh và có cơ sở?) và xã hội Peterburg (là hào nhoáng hay có trình độ văn hoá cao?), là những điều mà một lần, chính ở chương 8, XXIII a và XXIIIb, ông đã cố dung hoà chúng với nhau, cũng giống thái độ của ông với từ gốc Xlavơ và các từ gốc tiếng Pháp trong văn phong của ông.

XXXV.

10.пучок зари. Заря, зоря là loại cỏ có tác dụng chữa bệnh

Trong lễ cầu không bị hạn hán, mọi người nhỏ nước mắt lên các bó lá cây, mỗi địa phương lại chọn một loại lá khác nhau, có nơi dùng lá bạch dương, có nơi dùng hoa,v.v..

XXVI.

13.бригадир .Theo bảng phân cấp chức vụ trong quân đội Nga hoàng thời đó, бригадир thuộc bậc 5, cao hơn đại tá, thấp hơn thiếu tướng, có thể là chuẩn tướng chăng?! Người dịch bí từ chọn cho vần, nên phải bớt “ lon” của nhân vật, vì “đại tá” hợp vần với “mộ đá” ở dòng sau.

XXXVII.

9.очаковская медаль. Huân chương thưởng cho người có công tham gia đánh chiếm pháo đài Ôtrakôp của Thổ Nhĩ Kỳ.

XL.

  1. Dịch nghĩa: Lật những lá nguyệt quế của ông lão.

🌿💛🥀

 

 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.