Dec 14, 2017

Biên khảo

Nét Dâm Trong Thơ Đường
Con Cò * đăng lúc 01:29:44 PM, Jul 23, 2017 * Số lần xem: 229
Hình ảnh
#1

 


Nét Dâm Trong Thơ Đường

Từ thế k 19 trở về trước, dâm (sex) là một đề tài cấm k trong văn  thơ ti Trung Hoa và Việt Nam. Thơ t dâm tuy được viết theo thể t (dùng sự việc để ám ch chính nhưng không nói r chính) mà tác ga vẫn b chê bai, khinh miệt .

Từ đầu thế k 20. do nh hưởng ca Tây phương, quan niệm về dâm đ được cởi mở. Ngày nay người ta coi dâm như một nhu cầu cần thiết ca muôn loài, kể cà loài người. Nó được mô t chân thật và tự nhiên trong mi lnh vực (nhân văn, chính tr, luật pháp, giáo dc, tôn giáo).

Tuy nhiên, trong bộ môn thơ văn, dâm vẫn thường được khoác một cái áo mng chứ không để lộ trần truồng. Ti sao vậy? Câu tr lời ca Con Cò: Thơ là tiếng nói ca con tim cho nên nó cần phi lch sự, trang nh, tế nh, đp đ. 10 bài mà Con Cò nêu lên trong mc này là những bài bất h ca những thi hào nổi danh thời Đường. Chúng đáp ứng rất khéo léo những tiêu chuẩn vừa kể. Những bài thơ dâm ca thời nay, nếu muốn sống lâu, cng không nên rời qúa xa những tiêu chuẩn ấy. Ở thế k 21, mi giới đều thích ngâm thơ dâm ca Nguyễn Du nhưng đàn bà dù thích mà vẫn không dám ngâm thơ dâm ca Hồ Xuân Hương. Xin đơn cử hai thí d:

 

1/ R ràng trong ngc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.   Nguyễn Du

2/ Một lỗ xâu xâu mấy cng vừa.....Chành ra ba góc da còn thiếu/ Khép li đôi bên tht vẫn thừa. Hồ Xuân Hương.

Cùng t thân thể trần truồng ca đàn bà (Nguyễn Du t Kiều tắm truồng để Thúc Sinh ngắm nghía toàn thân. Hồ Xuân Hương ch tả cửa mình) mà lời thơ tương phn nhau như vậy. Chưa kể tới phẩm chất văn chương, riêng về thái độ, thơ ca h Hồ xấc xược, thô lỗ, chế riễu cái cửa ng thiêng liêng duy nhất để loài người, từ dân ga đến thánh hiền, ra đời. Tiếng nói ca con tim không bao giờ xấc xược và thô lỗ như vậy. Nói cách khác, những bài thơ đó ch có hình thức thông thường (vần điệu, niêm luật) ca thơ, không có linh hồn trong trắng ca thơ.

̀u hết thơ dâm ca h Hồ giống như lời riễu cợt thân thể thiếu nữ trần truồng cho nên được nam giới hoan nghênh tới mức gán cho từ cách mng.

 

Thơ dâm ca Tú Xương cng t những nét bốc lửa ca thân hinh người nữ nhưng đ́ nhị khoác áo mng cho họ

Hai bài thơ dưới đây ca Tú Xương có thể được mi ngươi (c nam lẫn nữ) ngâm lớn mà không ngượng miệng:

 

Ước gì ta là trái dưa 

Để cho người tắm nước mưa chậu đồng 

Ước gì ta là bông hồng 

Để cho người bế người bồng trên tay.

(Mơ được người đp lột trần truồng ra tắm hoặc được tắm cho một người đp trần truồng. Trần truồng như một trái dưa! Chứ không trần truồng kiểu "Da nó xù xì múi nó dầy". Khéo léo vô cùng!)

 

Một trà một rượu một đàn bà 

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta 

Chừa đươc cái nào hay cái ấy 

Có chăng chừa rượu với chừa trà.

 

(Chơi đàn bà không lăng nhăng. Chơi đàn bà không phi vợ mình mới lăng nhăng. Tú Xương đã thú tội lăng nhăng nhưng vẫn không chừa nổi. Ông ch muốn nhấn mnh rằng cái thú dâm nó vượt qúa sức nín nhn ca ông khiến ông chừa không nổi. Rất chân thành. Rất thi v. Rất lch sự. Rất đáng được tha thứ).
 

Những lời trên đây (và lời bàn trong 10 bài thơ Đường ởới) là kiến riêng ca Con Cò. Nói tới kiến riêng tức là nói tới ch quan. Vậy thì bn nào ngh khác cng đừng bận tâm. Cứ vô tư thưởng thức những bài bài thơ dâm bất h.

 

1/ Xuân Tứ

 

L Bch

Yên thảo như bích ti

Tần tang đê lục chi

Đương quân hoài qui nhật

Thị thiếp đoạn trường thì

Xuân phong bất tương thức

Hà sự nhập la vi

 

 

 

Chú giải:

 

Yên&Tần: chàng đang ở đất Yên, thiếp đang ở xứ Tần

 

Nghĩa xuôi của hai câu chót: gío xuân (tượng chưng cho niềm vui) chẳng hiểu lòng nhau, vô cớ lọt vào màn the làm gì (lòng ta đang buồn, không thiết đón gío xuân)

 

Dịch thơ

 

Xuân Tứ

 

Cỏ Yên như tơ xanh 

Dâu Tần khoe cành biếc. 

Chàng mong mỏi về nhanh, 

Lúc thiếp buồn da diết. 

Gió xuân chẳng thấu tình, 

Lọt màn the ghẹo thiếp.

 

Lời bàn của Của Con Cò

 

Bài thơ ngũ ngôn lục cú, niêm luật ít gò bó nên ý tứ được phô diễn rất phóng khoáng:

 

Chàng đang ở đất Yên. Thiếp thì ở đất Tần. Lúc chàng mong về nhà thì thiếp cũng đang nhớ chàng vô cùng. Xuân về cây cỏ xanh tươi nhưng thiếp đâu thèm ngắm. Còn gã gió xuân kia, tuy mi hiền hòa, dịu ngọt nhưng lúc này ta chỉ nhớ đến chổng ta thôi. Nếu chồng ta có nhà thì ta vui vẻ đó́n mi vào chung vui. Nhưng bây giờ chồng ta đi vắng, mi lọt vào màn the của ta để làm gì? (Cò phải dùng từ ghẹo mới dịch hết nghĩa của câu siêu việt này).

 

Vì nguyên bản là ngũ ngôn lục cú (niêm luật ít gò bó) nên bài dịch  không giữ vần bằng trắc như nguyên bản. Ý và lời thì vẫn theo sát nguyên bản.

 

 

 

 

 

 

 

2/ Kim lũ y

 

Đỗ Thu Nương

Khuyến quân mạc tích kim lũ y

Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì

Hoa khai kham chiết trực tu chiết

Mạc đãi vô hoa không chiết chi

 

Chú giải:

Khuyến quân: khuyên anh. Mạc: đừng. Tích: tiếc. Thiếu niên thì: thời còn trẻ. Khai: nở. Chiết: hái, bẻ. Đãi: chờ.  Chi: cành.  Không chiết chi: bẻ cành không.

Nghe đồn rằng Đỗ Thu Nương đã phổ nhạc bài này để thỉnh thoảng hát cho chồng nghe.

 

Dịch thơ

 

Áo Lụa Vàng

 

Nhủ chàng đừng tiếc áo lụa vàng

 

Tiếc thời thiếu nữ đẹp cao sang

 

Hoa thơm vừa nở không thèm hái

 

Sẽ bẻ cành không lúc hoa tàn

 

Lời bàn của Con Cò

 

Tương truyền rằng nàng họ Đỗ đã phổ nhạc bài thơ này để hát cho chồng nghe. Có lẽ chồng nàng bất lực. Với 4 câu thơ trên, nàng muốn nói: "Chàng ơi! Dưới cái áo lụa vàng này là thân thể nõn nường của em trong tuổi xuân thì đấy. Chàng hãy cởi nó ra mà ngắm nghía vuốt ve. Chả nhẽ chàng đành chờ cho thiếp gìa nua sao?Hay là ngọc thể của chàng có vấn đề?"

 

Chẩn bệnh người chồng qua thơ của người vợ là tài nghệ của một lang băm. Nhưng trong trường hợp này Con Cò chả còn cách nào khác.

 

 

 

3/ Vô đề (Đãi đắc lang lai nguyệt dĩ đê)

 

L Thương Ẩn

 

Đãi đắc lang lai nguyệt dĩ đê,

Hàn huyên bất đạo tuý như nê.

Ngũ canh hựu dục hướng hà xứ?

Kỵ mã xuất môn ô dạ đề.

 

Dịch nghĩa

 

Vô đề (Chàng về trăng xế non đoài)

Chờ chàng trở về thì trăng đã xế,

Chẳng thể hàn huyên được vì chàng say mềm.

Canh năm không biết lại đi đâu nữa,

ỡi ngựa ra khỏi cửa làm l qa (kinh sợ) kêu đêm.

Chú giải
Bài này
làm theo lối dân ca "Ô thê khúc, Ô dạ đề" thời Tề, Lương, là một tuyệt tác diễm tình.

 

Dịch thơ

 

Vô Đề (Tới lúc chàng về nguyệt đã tà)

Tới lúc chàng về nguyệt đã tà

Hàn huyên chẳng nổi khướt như ma

Canh Năm chả biết đi đâu nữa!

Cưỡi ngựa xuất cung khiến qụa la*

 

Lời bàn của Con Cò

 

*Chỉ một câu chót cũng đủ đoán ý chính của bài này. Câu nguyên bản là: Cưỡi ngựa ra khỏi cửa (làm kinh động) để qụa kêu đêm. Nhưng đó chỉ là nghĩa đen. Nghĩa bóng hấp dẫn hơn nhiều. Phải xét thật tỉ mỉ cả 4 câu thì mới lộ ra cái nghĩa bóng ấy:

 

Câu 1: Chờ chàng tới qúa nửa đêm (nguyệt đã tà, cũng có nghĩa là thiếp hết ham rồi) mới thấy chàng về. Đã biết chàng thường xuyên vắng nhà đi uống rượu mà vẫn cố chờ. Chờ để làm gì? Chả có việc gì ngoài việc ấy! Đừng vội chê Con Cò bới lông tìm vết nhé! Thời ấy nếu vợ đi đến nửa dêm mới về thì ắt bị chồng đánh nát thây mà chả ai can ngăn. Còn chồng đi vắng suốt đêm thì vợ cũng chả được phép cằn nhằn (chứ đừng nói tới mắng mỏ). Chỉ có LTÂ mới dám chê đàn ông để bênh vực đàn bà nên bị đời công kích. Theo ông, đàn bà cũng có quyền đòi chồng về sớm để làm tình chứ! 

 

Câu 2: Chả hàn huyên được gi vì chàng say khướt. Chữ hàn huyên ở đây chỉ là giả tạo. Đêm nay chàng về qúa trễ, và còn say khướt, vậy thì khờ lắm mới nghĩ tới việc hàn huyên trong lúc này. Họ Lý muốn nói khéo rằng người vợ thức khuya chờ chồng về làm tình. Câu này dịch nỗi tức giận của người vợ bằng 3 chữ khướt như ma!

 

Câu 3:  Canh năm (3-5 giờ sáng) lại bỏ đi nữa! Mớ́i say bí tỉ tới qúa nửa đêm thi ma men cũng không mò đi uống rượu lúc 3-5 giờ sáng.  Nghĩa bóng của câu này sẽ được nói rõ ở câu sau.

 

Câu 4: Cỡi ngựa ra cửa (làm kinh động) khiến qụa kêu đêm. Tả màn mây mưa rất khéo léo. LTÂ lợi dụng số chữ rất hạn chế của ngũ ngôn để viết một câu thật cô đọng hầu dấu kín thâm ý của mình. Ngựa này là ngựa người! Nếu chỉ hiểu theo nghĩa đen thì 4 chữ "kỵ mã xuất môn" phải bao gồm những động tác này: chàng bước xuống giường, mở cửa phòng ra ngoài lấy ngựa cỡi đi. Chỉ có 4 chữ mà phải t nhiều động tác như thế thì là qúa tải. Hiểu theo nghĩa bóng sẽ đơn giản hơn: rút ra và lăn xuống chiếu.  Vậy thì xuất môn là rút ra, cho nên bài dịch dùng chữ xuất cung. Quạ kêu đêm! Đã 5 giờ sáng rồi, qụa phải đi kiếm mồi cho đỡ đói chứ đâu còn đậu ở đó để kêu đêm! 5 giờ sáng không còn  là đêm nữa! Thiếp kêu đó!

 

Nghĩa bóng của toàn bài khá rõ ràng: Lúc chàng về đã qúa nửa đêm và chàng thì qúa say. Thiếp để cho chàng ngủ tới sáng mới hích chàng dậy. Thế mà chàng chỉ làm qua loa lấy lệ rồi lăn đùng ra để thiếp bực mình la ầm lên!

 

Chưa thấy bài thơ 4 câu 28 chữ nào (kể cả Đông Tây, kim cổ) tả ân ái tuyệt vời đến thế.

 

Rất hàm súc!Rất đầy đủ!Rất văn vẻ!Rất kín đáo!Rất hoạt kê!

 

 

 

4/ Đề Đào Hoa phu nhân miếu  

 

Đỗ Mc

 

 

Tế yêu cung lý lộ đào tân,

Mạch mạch vô ngôn kỷ độ xuân.

Chí cánh Tức vong duyên để sự?

Khả liên Kim Cốc truỵ lâu nhân.

 

Dịch nghĩa

 

Vịnh miếu Đào Hoa Phu Nhân

Trong cung eo nhỏ, đào tơ mơn mởn ngậm sương.

Lặng lẽ không nói đã biết bao mùa xuân.

Rốt cuộc vì sao mà nước Tức bị mất?

Đáng thương cho người gieo lầu ở vườn Kim Cốc.

Chú thích
Đào Hoa phu nhân nguyên là v
ợ vua nước Tức (nay là huyện Tức, tỉnh Hà Nam) thời Xuân Thu. Vua nước Sở diệt nước Tức, chiếm đoạt Tức phu nhân. Nàng phải lấy vua nước Sở, sinh được hai con, nhưng suốt đời không nói một lời nào với vua. Người đời sau thương cảm nàng nên lập miếu thờ

Kim Cốc viên ở huyện Lạc Dương, tỉnh Hà Nam. Đời Tấn, nhà hào phú Thạch Sùng có người thiếp xinh đẹp và thổi sáo hay tên là Lục Châu. Tôn Tú yêu cầu Thạch Sùng tặng cho người thiếp này, Thạch Sùng khước từ và nói với Lục Châu rằng: "ta có lỗi với nàng."  Lục Châu nhảy lầu tự tử. Vì việc này Thạch Sùng bị Tôn Tú gièm pha với Triệu Vương Luân và bị giết chết.

 

Dịch thơ

Vịnh Miếu Đào Hoa Phu Nhân

Cấm cung đào nhỏ lệ âm thầm

Lặng lẽ nhìn chồng mấy độ xuân

Nước Tức bại vong vì sao vậy?

Xót ai Kim Cốc nhảy lầu trầm

 

Lời bàn của Con Cò

Muốn tả cuộc đời của Đào Hoa phu nhân thì cần một bài thơ 40 câu chứ một bài 4 câu không đủ. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt này qúa cô đọng để diễn hết ý của đề tài. Bài dịch cúng rất khó đáp ứng đủ ý của tác gỉa. Bài thơ có hai phần rõ rệt: phần đầu gồm hai câu đầu, phần cuối gồm hai câu cuối.

 

Phần đầu:

Câu 1: Người đẹp đào tơ, lưng eo, ngậm sương trong cung. (Vua Sở̉ giữ một thiếu phụ đào tơ rướm lệ làm vợ trong cung). Câu này thương cảm cho Đào Hoa phu nhân bị ép buộc làm vợ Sở Vương.

Câu 2: Lặng lẽ không nói lời nào đã bao nhiêu độ xuân rồi. (tả nỗi cay đắng tuyệt đỉnh của Đào Hoa Phu nhân bằng thái độ tịnh khẩu với chồng suốt đời). Tác giả vẫn thông cảm nỗi khổ tâm của bà.

 

Phần hai:

Câu 3 nêu lên câu hỏi vì sao mà nước Tức mất. (Câu hỏi này gián tiếp trách Đào Hoa phu nhân là mẫu nghi thiên hạ mà thua người thứ thiếp của một hào phú sẽ được nói rõ ở câu 4).

Câu 4 dùng điển tích Kim Cốc để giải đáp câu hỏi ở câu 3 (xin xem chú thích). Tác giả chê Đào Hoa phu nhân không tuẫn tiết như Lục Châu (nhẩy lầu tự vẫn) mà cam tâm làm vợ Sở vương để chịu dày vò suốt đời.

Đỗ Mục tỏ ra sáng suốt trong phần đầu nhưng không công bẳng trong phần sau. Tuy Lục Châu là một tấm gương sáng nhưng dùng Lục Châu để trách Đào Hoa phu nhân không tuẫn tiết thì thiển cận tới mức bất nhân. Đa số nho sĩ Trung Hoa trong hơn một thiên kỷ đều nghĩ như vậy. Họ dựa vào luân lý Tam Tòng Tứ Đức. Luân lý ấy, dù trong thời ấy, không phải là bản án tử hình cho những người nữ muốn được vinh danh là phu nhân.

Để khỏi lạc đề, dưới đây Con Cò sẽ không bàn vê chính trị của nước Tức mà chỉ đề cập tới trọng tâm của đề tài: bà không nói với chồng lời nào suốt cuộc đời bà. Trước hết hãy đánh gía nỗi khổ nhục bà đã chịu đựng rồi tìm ra lý do tại sao bà phải chọn cách ấy:

 

Đánh gía nỗi khổ nhục của nạn tịnh khẩu:

-Dù sao vua Sở cũng là chồng của bà và là cha của 2 đứa con do bà mang nặng đẻ đau. Thế mà mỗi ngày, mỗi đêm, của cả cuộc đời, bà không hề nói với chồng một lời! Trong lúc ân ái, có ngàn lần áp má kề môi, bà vẫn tịnh khẩu. Kể cả những giây phút có khoái cảm cao độ bà cũng phải nghiến răng cố nuốt một tiếng kêu thay vì để nó tự nhiên vang trong khuê phòng. Nỗi khổ nhục này qúa lớn và kéo dài qúa lâu.

 

Tìm áp lực đã gây ra nạn tịnh khẩu:

-Chưa chắc bà đã thực sự yêu vua nước Tức vì khi đó bà còn qúa trẻ và thời gian chung sống qúa ngắn. Cuộc hôn nhân với vua nước Tức cũng đâu phải do bà lựa chọn. Bà không có trách nhiệm gi về việc nước Tức mất và vua Tức bị diệt. Bà không có con với vua Tức nên không còn gì dàng buộc bà sau khi vua nước Tức chết. Bà không tuẫn tiết theo vua Tức là một thái độ hợp nhân đạo đáng tôn trọng. Vậy thì vua nước Tức không phải là nguyên nhân khiến bà im hơi lặng tiếng.

-Chưa chắc bà đã khinh ghét Sở vương (chưa ai nghe bà nói điều đó). Vua Sở rất tôn trọng bà. Ông chưa hề nổi giận vì bà tịnh khẩu. Không ai có thể đo lường được nỗi đau của vua Sở khi ông phải làm chồng một giai nhân suốt đời không thèm nói với mình nửa lời! Chỉ cần một phút nổi giận của ông là bà rơi đầu. Thế mà ông vẫn âm thầm chịu đựng, coi như ông đã trả gía cho lỗi lầm ông đã phạm lúc đầu (ép bà làm vợ). Vậy thì ông không phải nguyên nhân khiến bà lặng tiếng im hơi.

-Nguyên nhân thực sự của thảm cảnh này là áp lực tinh thần của cái luân lý Tam Tòng Tứ Đức. Luân lý này lúc đó mới phôi thai nhưng sẽ đè nén phái nữ trên hai ngàn năm nữa. Người nữ chỉ mới hứa hôn với người nam là coi như thuộc về người nam đó rồi. Nếu chẳng may người nam đó chết trước khi cưới thì người nữ sẽ thành goá bụa suốt đời nếu muốn được đời kính nể.

Cái lầm của Đỗ Mục (và của nho sĩ Trung quốc) là đổ lỗi trên đầu của một người chân yếu tay mềm thay vì quy trách cho luân lý Tam Tòng Tứ Đức.  Lý Thương Ẩn, một thi hào đương thời, bị khinh ghét cũng chỉ vì ông đã làm thơ chống đối cái luân lý bất công đó.

Trên đây là thơ dâm kín đáo ca bốn thi hào nổi tiếng. Thế hệ sau L Thương Ẩn xuất hiện hai người táo bo hơn nhiều, táo bo đến nỗi người ta kiêng kỵ̣ trong gần một thiên k.

 

Thơ Dâm Hàn Ốc

Hàn c 韓偓 (844-923) tTrí Nghiêu 致堯, tiu tự Đông Lang 冬郎, thiu Ngc tiu sơn nhân 玉樵山人, người Vn Niên đt Kinh Triu (nay là Tây An, tnh Thim Tây, Trung Quc), đtiến sĩ đi Chiêu Tông, làm quan đến chc Binh bthlang, Hàn lâm hc sĩ.

 

 

 

5/ Tưởng đc




Lưỡng trùng môn lý ngc đường tin,
Hàn th
c hoa chi nguyt ng thiên.
Tưởng đ
c na nhân thuthlp,
Ki
u tu bt khng thướng thu thiên

 

Dch nghĩa

 

ởng được

Hai ln cùng gặp trước ca toà nhà sang trng,
Nhân ti
ết hàn thc tháng 5, bên cành cây nở đầy hoa.
Tưởng đã được người
y thõng tay đng chờ (để đu dây)*,
Nào ng
người đp e thn không chu cùng leo lên cây đu dây.

 

*Đu dây: một kiểu đu mà trai gái đối diện sát nhau giống lúc làm tình. Hồ Xuân Hương có hai câu trang nh nhất trong tất c̀n thơ dâm ca bà: Trai du gối hc khom khom cật/ Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.

 

Dch thơ

 

ởng được

Hai lần vào được chốn kiêu xa

Hàn thực chồi cây đ nở hoa

ởng đ được người thòng tay hứng

Nào ngờ nàng chẳng chu đu đưa

 

 

 

Lời bàn ca Con Cò

Ngha đen là ht cuộc đu dây. chính thì thú thật rằng tán tnh gần xong nhưng cuối cùng nàng không chu cho làm tình. Hàn Ốc chưa chu ngừng ở đây. Ông còn đi xa hơn nữa trong mấy bài sau.

 

6/ Nhẫn tiếu

 




Cung dng sơ đu thin homy,
Vãn lai trang s
c cánh tương nghi.
Thu
tinh anh vũ thoa đu đn,  
C
dudương tu nhn tiếu thì.

 

Dch nghĩa

 

ời thầm

Bi tóc kiu cung đình, vmi mt vi phn nht,
R
i đeo thêm đtrang sc rt đúng nghi thc.
Cây thoa
đầu bng thutinh hình con vt bng rung nh,
Nàng đang kéo tay áo đ
che ncười thm cho đmc c.

 

Dch thơ

 

ời thầm

Bới tóc cung đình v khóe my

Đeo thêm trang sức đúng lễ nghi

Đầu thoa con vt rung rung nh

Che miệng cười thầm mắc cở chi?

 

Lời bàn ca Con Cò

 

Ngha đen ca bài thơ khá trang nh. Thể phú được dùng trong các câu 1, 2, 4. Thể t ch áp dng cho câu 3 nhưng li nổi đình đám ở nét linh động. Nó t một ngha bóng rất táo bo: đồ nghề ca chàng (đầu con  chim vt) đang nổi hứng rung rung nh.

Chuyện gì đáng xy ra ắt s xy ra!

Rất sống động. Rất thú vi. ̣ Rất hứa hn.

 

7/ Phc ngẫu kiến k 2

 




Đào hoa lim bc nan tàng l,    
Li
u dip my trường dgiác su.
Hình tích v
thành đương din tiếu,
K
hi đài nhãn hu đê đu.

 

Dch nghĩa

 

Li tình cờ thấy k 2

Mt đp như hoa đào màu trắng lt khó mà ướt l,
Làn my dài lá li
u dễ cảm nhn vsu.
Chưa bi
ết nàng sẽ phn ứng ra sao nhưng môi mm cười,
Ch
c chốc li ngước mt hay cúi đu.

 

Dch Thơ

 

Li tình cờ thấy k 2

Hoa đào trắng nht khôn thấm lệ

Mày liễu mi dài dễ cm sầu

Chưa biết tống tình cười nhon miệng

Ngửng lên cúi xuống liếc lâu lâu.

 

Lời bàn ca Con Cò

Bài thơ t một cô gái đ biết kín đáo tống tình nhưng còn e thn.

Hai Câu đầu xem tướng cô nàng: Mặt như đóa hoa đào phơn phớt trắng là tướng tươi đp, không dễ b trầm cm (khôn giữ lệ). Lông mày cong, lông mi dài là tướng đa tình (dễ cm sầu).

Hai câu sau t tống tình với chàng trai vừa quen: cười tm, chốc chốc li ngẩng mặt liếc nhìn rồi cúi đầu e thn. một cách mời mc nửa kín nửa hở rất dễ bén duyên.

 

 8/ Thâm viện

 




Nga nhi xip đip bn hoàng chu,
Phong t
khinh doanh nhphn yêu.
Thâm vi
n hliêm nhân trú tm,
H
ng tường vi giá bích ba tiêu.

 

Dch nghĩa

 

Phòng the

Con ngng mi nở, mvàng đang hp ln, nô đùa,
Con bướm lượn khoe lưng thon vi lp phn mn.
Trong vi
n thâm sâu này, người đang buông rèm̀m chờ ng,
Hoa tường vi khoe h
ng, lá chui khoe xanh.

 

Dch thơ

 

Phòng the

M vàng ngỗng nhí mê mò vng

Bươm bướm lưng thon phấn thơm lành

Phòng kín h rèm người đón giấc

ờng vi hồng đậm lá chuối xanh

 

Lời bàn ca Con Cò

Hai câu đầu ám ch g trai tơ đang g gẫm: con ngỗng m vàng (ca qúy ca chàng) đang mò cá trong vng nước, con bướm lưng thon phấn mềm (ca qúy mới cương nửa vời ấy) đang lượn quanh.

Hai câu sau t người nữ buông rèm nằm trong phòng the đón giấc ng (ga vờ ng), mặt đp như hoa tường vi, háng rộng như lá chuối xanh.

Tuy bài thơ thuộc thể t ( chính không nói thẳng ra) nhưng khá r ràng. Hàn Ốc là thế hệ sau ca L Thương Ẩn nên t dâm mnh bo hơn.

Rất táo bo. Rất ấn tượng. Rất thô nhưng còn lch sự.

 

9/ Ngẫu kiến

 




Thu thiên đả khn gii la qun,
Ch
ỉ đim đhsách nht tôn.
Ki
ến khách nhp lai hoà tiếu tu,
Th
tra mai tnhp trung môn.

 

Dch nghĩa

 

Tình cờ thấy

Chơi đu mc kt phi ci qun là,
Ch
hrượu ngon xin mt chén.
Th
y khách vào cười cợt ri ra,
Tay mân mê trái mơ đi vào c
a gia.

 

Dch thơ

 

Tinh cờ thấy

Chơi đu vướng mắc cởi quần là

Ngón chợu nồng xin chén nữa

Thấy khách nhập cung cười xuất ra

Mân mê trái táo luồn cửa giữa

 

Lời bàn ca Con Cò

Bài thơ này tuy là thể t nhưng giống hệt thể phú (trực tiếp mô t chính). Ch cần dch thoát một tí là chính phô bày nguyên con.

Ba câu đầu nói rằng làm tình mà chưa kịp cởi hết quần là (lụa). Khi tạm ngừng để̉i hết ra thì giảm hứng nên xin thêm rượu uống. Khi đối tượng (khách) tái nhập cuộc thì đôi bên cùng ra.

Câu 4 có một điểm cần nói nh: cô này chu chơi! (đ tới rồi còn cố nhét hòn ngc Viễn Đông vô cung).

Lời thơ tuy lo lồ nhưng không sống sượng kiểu "Thot đầu vào chàng liền nhy ngựa, Thiếp vội vàng vén phứa tượng lên", cái thứ ngôn ngữ ch phù hợp cho mấy g đực rựa ngồi uống bia tán phét, không nên đưa vào chương trình giáo dc hoặc văn chương. Trong bài này Con Cò chỉ phàn nàn một điểm: dường như tà dâm chứ không hoàn toàn chính dâm (dùng chữ khách thay vì chàng cho đối tượng).

Rất tân k. Rất tinh quái. Rất ác liệt.

 

 

 

 

Thơ Dâm Quyền Đức Dư

 

10/ Ngc đài thể* k 11

 

稿  

 

Tc dqun đi gii

 

Kim triêu htphi

 

Diên hoa bt khkhí

 

Mc thco châm**quy

*Ngc Đài Thể là tiếng lóng mà Quyền Đức Dư đặt tên cho 12 bài thơ dâm ca ông. Bài này là bài thứ 11.

**Co châm: chày giã lúa, còn là tiếng lóng ca Trung quốc ch người chồng.

 

Dch nghĩa

 

Ngc Đài Thể k11

Đêm qua cởi rút qun

Sáng nay thy nhn sa

Son phn không thkhông có

 

Chng phi phu quân (chày giã lúa) sp vsao?

 

Dch thơ

 

 

 

Ngc Đài Thể k 11

Đêm kéo rút quần ra

Sáng chợt thấy nhện sa

Phấn son chẳng thể thiếu

Chày lúa sắp về nhà

 

Lời bàn ca Con Cò

Bài này phối hợp hai thể phú và t. Câu đầu thuộc phú, rất ngổ ngáo.

Câu 2 và 3 nửa phú nửa t, nói rằng nhện sa là điềm lành (chồng sắp về), phi sửa son (son phấn) để đón.

Câu chót thuộc t: Chày gi lúa (chồng) sắp về.

Tuy ngổ ngáo nhưng vẫn trong vòng lễ giáo bởi vì đây là chuyện phòng the ca cặp vợ chồng chứ không phi trai lơ gái lẳng chơi nhau lén lút.

Rất hiện sinh. Rất tân k. Rất độc đáo.

 

Kết luận

Nét dâm ca những bài thơ trên (Việt và Đường) đều có chung một sắc thái: kín đáo, tế nh, trang nh, đp đ. Chúng nói lên rằng dâm là một ân huệ thiên phú cho chúng sinh để được biểu lộ, nâng niu, kính trng. Loài người có quyền đưa dâm vào thơ bởi vì dâm là tiếng nói ca con tim, miễn là không tà dâm hoặc chế riễu phái nữ.

 

Dâm quyền là cốt li ca nhân quyền

Không nên khắt khe như ngày xưa. Không nên buông th như ngày nay.

Tuyệt đối không lẫn dâm dc với tà dâm./.


Ngày 16 tháng 7 năm 2017                              

CON CO
̀

 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.
Nét dâm trong thơ Đường
Phạm Đức Quý Jul 21, 2017
Bài bình thơ này của Cánh Cò hay quá.Tôi muốn gửi bài bình này cho bạn bè đọc...