Jan 22, 2021

Tùy bút - Bút ký

Genève 54 Chia cắt VN
Vũ Văn Lộc * đăng lúc 05:37:48 PM, Jul 21, 2017 * Số lần xem: 502
Đôi lời của tác giả:                                                       
Đêm nay, 20 tháng 7-2017 khi tôi viết lại bài tạp ghi và tiểu luận về hiệp định đình chiến 1954 thì 63 năm trước tại Genève, đã gần đến 12 giờ đêm 20 tháng 7 -1954 hội nghị thảo luận chưa xong. Thủ tướng Pháp Mendes France đã hứa với dân Pháp là ngày hôm nay là hạn chót phải chấm dứt chiến tranh Đông Dương. Ông bèn cho lệnh ngừng đồng hồ tại phòng họp. Tiếp tục thảo luận đến hôm sau, các nước ký lúc 3 giờ sáng ngày 21. Hiệp định vẫn ghi là 12 giờ ngày 20 tháng 7-1954. Đêm hôm đó đám Sinh viên sỹ quan Hà Nội chúng tôi nằm trong doanh tại trường Võ bị Liên Quân Đà Lạt không hề biết số phận cuộc đời mình thay đổi. Sau này phần lớn các sĩ quan khóa Cương Quyết Đà Lạt 54 bỏ lại nửa mối tình đầu miền Bắc để lấy vợ Nam Kỳ. Bài tình ca: Tôi xa HàNội năm lên 18 chưa từng biết yêu là Anh Bằng viết cho chúng tôi.. Tất cả khóa ngày nay, anh nào còn sống cũng đều trên 82 tuổi. Cuộc đời đầy kỷ niệm Tình Bắc duyên Nam, nếu còn may mắn thì đã kéo dài trên 60 năm. Bài viết này của trung úy Giao Chỉ xin tặng cho hồ Than Thở Rạch Giá trên nửa thế kỷ vẫn còn thở than.

Đặc biệt xin mời các bạn cao niên và con cháu tại thung lũng điện tử đến dự buổi nói chuyện, chiếu phim và triển lãm về hiệp định Geneve cắt đôi đất nước. Nhắc lại câu chuyện vì sao có cuốn phim Chúng tôi muốn sống. Chia xẻ hoàn cảnh Tình Bắc duyên Nam. Anh nào lấy vợ Hà Nội, chị nào lấy chồng Bắc Kỳ. Hãy đến để điểm danh cuộc chia ly và đoàn tụ 1954 cho con cháu biết rõ một lần. 

 

Xin mời đến gặp nhau trong tình Nam Bắc Trung một nhà vào lúc 9 giờ sáng ngày thứ bẩy 5 tháng 8-2017 tại Santa Clara County 70 W.Hedding San Jose. Trân trọng kính mời.

20 tháng 7-1954 ngày đất nước chia đôi.

Giao Chỉ , San Jose.

 

Trả lời một câu hỏi?

Chiều thứ 5 vừa qua, các sinh viên trường De Anza theo học môn văn hóa Á Châu đã theo tiến sĩ Chang đến thăm Việt Museum. Trong số sinh viên có một cô gái Việt Nam 17 tuổi, gốc Rạch Giá hỏi rằng Người Việt nguồn gốc ở đâu. Để trả lời, giáo sư Sally Haden của IRCC đã đọc tài liệu vắn tắt bằng Anh ngữ của Bảo tàng để trả lời. Trong bài này, tôi xin ghi lại bản Việt văn đầy đủ hơn.. Gốc tích dân Việt có nhiều nhóm nên gọi là trăm họ Bách Việt. Trong đó có dân Lạc Việt là tiền nhân của người Việt ngày nay. Ngàn năm trước sinh sống ở phía Nam sông Dương Tử, miền Nam nước Trung Hoa hiện nay. Dã sử ghi lại từ năm 2900 trước Tây lịch là niên đại của Kinh Dương Vương thời Hồng Bàng với tên nước là Văn Lang và Âu Lạc.                                       

Cuộc di dân thứ nhất:                                                 Từ  Dương Tử xuống Hồng Hà.                                     Đợt di dân đầu tiên dân Lạc Việt đi xuống miền Nam định cư tại đồng bằng sông Hồng Hà. Ngàn năm sau, trở thành người Việt ở phương Nam mở nước đến miền Trung.  Việt tộc anh hùng suốt thời gian dài đã tồn tại dù trải qua  2 lần tổng cộng hơn một ngàn năm bị Trung Hoa đô hộ.

Cuộc di dân thứ hai:                                         Từ Hồng Hà đến Cửu Long.                                                               Sau khi chống Tàu dành được độc lập, cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn chia cắt 2 miền Nam Bắc bởi con sông Gianh kéo dài trăm năm. Nhưng đây là cơ hội Việt Nam mở đất phương Nam đến mũi Cà Mâu. Sau nhà Tây Sơn đến thời Gia Long Việt Nam thống nhất, Tiếp theo lại trải qua 100 bị Pháp cai trị. Sau đệ nhị thế chiến chấm dứt 1945, chiến tranh Đông Dương bắt đầu từ 1946 cho đến 1954, sau cùng Việt Nam Quốc Cộng chia đôi tại sông Bến Hải.                                                            

Cuộc di cư vĩ đại thứ ba:                                        Một triệu dân Bắc vào Nam.  

Biến cố vô cùng quan trọng đã đưa một triệu người miến Bắc di cư vào Nam đề cùng sống với thế giới tự do, xây dựng 2 nền cộng hòa trong 21 năm. Nhưng từ 1962 cộng sản miến Bắc tấn công và chiến tranh Nam Bắc tiếp tục cho đến 1975.  Tháng tư 1975 miên Nam thất thủ.                                                                         

Cuôc di dân tỵ nạn lần thứ tư:                            Một lần nữa dân miền Nam bỏ nước lần lượt ra đi đến nay với 3 triệu người trên khắp thế giới. Gần 2 triệu người định cư tại Hoa Kỳ. Đó là câu trả lời cho cô gái miền Hậu Giang Việt Nam mới đoàn tụ gia đình tại Mỹ đuoc 4 năm.

Riêng chuyện tháng 7-1954.

                                     Người Việt không còn nhiều di tích về chuyện di dân từ miền Nam sông Dương Tử qua đồng bằng sông Hồng. Cũng không có nhiều tài liệu về chiến tranh Trịnh Nguyễn và số người di dân từ Bắc vào Nam qua biên giới của con sông Gianh lịch sử.  Nhưng chúng ta có khả nhiều  tin tức hình ảnh cùng lý do một triệu người ra đi từ miền Bắc năm 1954. Đồng thời cũng có  nhiều chứng tích ra đi tìm tự do tứ 30 tháng tư 75 cho đến nay. Lý đó quan trọng nhất là tỵ nạn Cộng sản. Trở lại với thời kỳ tháng 7-1954 đã hơn 63 năm về trước, xin nhắc lại như sau. Ngay khi ổn định cuộc định cư tại miền Nam, Sài gòn hoàn tất bộ phim trắng đen với tựa đề "Chúng tôi muốn sống" để nói lên lý do của cuộc di cư. Chuyến di tản và tỵ nạn từ tháng tư 1975 người Việt hải ngoại ghi dấu hàng năm. Nhưng  để tưởng niệm cuộc di cư hết sức vĩ đại tháng 7-1954 của một triệu người đi tìm tự do, những tin tức, tài liệu cần được sưu tầm, gìn giữ và phổ biến. Viet Museum, Dân Sinh Media do cơ quan di dân IRCC phối hợp sẽ tổ chức một ngày tưởng niệm cuộc di cư thàng 7 năm 1954. Chúng tôi đã dành hội trường quận hạt Santa Clara County vào lúc 9 giờ sáng thứ bảy 5 tháng 8-2017. Với chủ để Nam Bắc một nhà, chúng tôi xin mời toàn thể đồng hương đến tham dự. Chương trình gồm có tiếp tân buổi sáng, xem triển lãm về Hà Nội xưa, một vài bài ca gợi nhớ, nói chuyện về miền Bắc trước 1954 và đặc biệt sẽ chiếu cuốn phim xuất sắc và ý nghĩa nhất trên nửa thế kỷ vừa qua. Phim "Chúng tôi muốn sống". Sẽ mời thân quyến các tài tử trong phim hiện diện. Một dịp cho ngàn người cùng viết lại lịch sử của dân tộc. Cuộc chiến đấu chống Pháp dành độc lập sau đệ nhị thế chiến là nỗ lực của toàn dân. Tuy nhiên cộng sản Việt Nam đã dành lấy độc quyền chiến thắng bằng sự hy sinh xương máu của toàn dân. Tất cả sự thật đã được phơi bày trong cuốn phim chống Cộng "Chúng tôi muốn sống". Xin ghi nhận và cùng đến để Viết lại lịch sử.

Genève 54 Chia cắt  VN

-Ngày 20 tháng 7-1954

 

Tháng 7 năm 2017 có gợi nhớ cho người Việt tỵ nạn chúng ta một chút kỷ niệm nào không? Cách đây 63 năm cũng vào tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève chia đôi đất nước.  Hôm nay, từ hơn nửa thế kỷ và một đại dương xa cách, xin có đôi lời ghi lại. Trước hết là một số sử liệu, nhắc lại một lần vào cuối cuộc đời.

Tháng 9-1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh, Thế chiến thứ II chấm dứt chính thức trên mặt trận Thái Bình Dương. Hồ Chí Minh lãnh đạo đảng cộng sản
nhân danh Việt Nam Đồng minh Hội (Việt Minh) tuyên bố Việt Nam độc lập. Người Pháp dựa vào Anh Quốc trở lại Đông Dương.

Ngày 19 tháng 12-1946, toàn quốc kháng chiến
chống Phàp.  Vào những ngày của mùa Thu khói lửa năm xưa, tất cả thanh niên Việt Nam đều đứng lên đáp lời sông núi. Phạm Duy đã viết lời ca bài Nhạc Tuổi Xanh như sau: Một mùa Thu năm qua, cách mạng tiến ra đất Việt, cùng ngàn vạn thanh niên vung gươm phá xiềng. Lúc đó tôi mới 13 tuổi. Tuổi măng non thơ dại và hào hứng biết chừng nào.
Vào thời gian này, đá
m trẻ chúng tôi không ai biết gì về quốc cộng. Người ta nói rằng: “Khi cách mạng mùa Thu, anh 20 tuổi, anh không theo kháng chiến, anh không phải là người yêu nước.” Và tôi là cậu bé con của trường Cửa Bắc, Nam Định cũng bắt đầu học bài học yêu nước nồng nàn.

Hà Nội tản cư, sinh viên học sinh gia nhập tự vệ thành mang dấu hiệu sao vàng
nền vuông tham dự vào trung đoàn thủ đô. Trong Nam các thanh niên tiền phong Sài Gòn cầm gậy tầm vông hợp đoàn chống Pháp.

Cho đến ngày nay, tất cả các vị cao niên 80 tuổi trở lên còn sống đến bây giờ chắc hẳn còn nhớ rất nhiều về mùa Thu khói lửa năm xưa của thời kỳ 1946. Rồi tiêu thổ kháng chiến, rồi tản cư, rồi về Tề, biết bao nhiêu là ngôn ngữ đặc thù của cả một thời thơ ấu.

Ba năm sau, tháng 3-1949, vua Bảo Đại từ Hương Cảng trở về. Bình minh của phe quốc gia mới bắt đầu nở hoa cay đắng trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp.

Cuộc chiến vẫn tiếp tục trên toàn thể đất nước vào năm 1950. Một năm nhiều dữ kiện. Tháng Giêng, Trung Cộng công nhận
chính phủ cộng sản Việt Nam. Tháng Hai, Hoa Kỳ công nhận chính phủ Việt Nam Quốc Gia. Tháng Ba, Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp tại Đông Dương. Tháng Sáu, toán cố vấn Mỹ đầu tiên đến Việt Nam.

Tiếp theo hai năm 1952 và 1953, cường độ chiến cuộc gia tăng mãnh liệt.
Tháng 3-1954 thanh niên miền Bắc chúng tôi theo khóa tư phụ trừ bị vào trường liên quân Đà Lạt. Tháng 5-1954, Điện Biên Phủ thất thủ, hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc. Tháng 6-1954, ông Ngô Đình Diệm từ Mỹ về nước làm thủ tướng. Tháng 7-1954, Genève quyết định chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17, trên con sông Bến Hải giữa nhịp cầu Hiền Lương.

Và cái ngày định mệnh của cả dân tộc là ngày 20 tháng 7-1954. Anh, Pháp, Tàu v.v… ký vào hiệp ước cùng với phía cộng sản Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam quốc gia không ký.

Thủ tướng Pháp đương thời hứa với quốc dân là hiệp định phải ký xong nội ngày 20 tháng 7-1954. Họp bàn đến nửa đêm chưa xong. Đồng hồ phòng nghị hội cho đứng chết lúc 12 giờ khuya. Tiếp tục họp đến sáng hôm sau. Ký xong rồi cho đồng hồ chạy lại. Ngoại trưởng Việt Nam là cụ Trần Văn Đỗ khóc vì đất nước chia đôi ngay tại hội nghị.

Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải
tại Quảng Trị là nơi chia cắt 2 miền Nam Bắc.  
Từ Hà Nội một số sĩ quan Quốc Gia Việt Nam cùng sĩ quan Pháp tham dự hội nghị Trung Giá để quy định việc đình chiến. Các đơn vị Pháp và tiểu đoàn khinh quân Việt Nam âm thầm rút khỏi Bùi Chu, Phát Diệm, Thanh Hóa, Nam Định để lại sự hoảng loạn đau thương cho nhiều giáo khu Việt Nam tự trị.

Tại miền Bắc, Pháp và phe quốc gia có thời hạn tập trung 80 ngày tại Hà Nội, 100 ngày ở Hải Dương và 300 ngày tại Hải Phòng.

Tại miền Nam, bộ đội tập kết tại Hàm Tân 80 ngày, Bình Định 100 ngày và Cà Mau 300 ngày.

Ngày nay bao nhiêu người trong chúng ta còn nhớ đến thời kỳ tập kết ở miền Nam và di cư của miền Bắc. Bộ đội miền Nam trước khi ra đi đã phát động chiến dịch gài người ở lại nằm vùng và phong trào lập gia đình ồ ạt để hẹn ngày trở lại hai năm sau hiệp thương và tuyển cử. Trung úy Giao Chỉ tham dự hành quân tiếp thu Cà Mau thấy người cộng sản tập kết chào nhau với bàn tay xòe hai ngón hẹn gặp lại sau hai năm, kèm theo khẩu hiệu: “Ra đi là chiến thắng, ở lại là vinh quang.” Kháng chiến miền Nam ra Bắc để lại những người đàn bà mang bầu trong thôn xóm và súng đạn chôn sau vườn.

Trong khi đó ở miền Bắc, cộng sản cố sức cản đường không cho lính quốc gia di tản và ngăn chặn cuộc di cư vĩ đại từ tháng 8-1954. Nhưng phe Quốc Gia vẫn có đủ một triệu người ra đi.

Trung úy Vũ Đức Nghiêm, tốt nghiệp khóa 1 Nam Định đã di cư vào Nam cùng đơn vị và gia đình lúc ông hơn 20 tuổi. Từ Phát Diệm, ông đi cùng Tiểu đoàn Khinh quân 711 về Hải Dương rồi rút về miền Nam.

Đại úy Lê Kim Ngô di tản trường Công Binh từ Bắc vào Nha Trang và tham dự hành quân tiếp thu Bình Định. Cả hai ông Vũ Đức Nghiêm và Lê Kim Ngô về sau đều có dịp trở về đất Bắc trong lao tù cộng sản trước khi qua định cư tại
San Jose, Hoa Kỳ.
Cũng trong đợt di cư theo gia đình công giáo, thanh niên Phạm Huấn 17 tuổi còn nhớ mãi về Hà Nội của tuổi hoa niên. Sau khi ký hiệp ước Paris, thiếu tá VNCH Phạm Huấn có dịp trở về trong phái đoàn chính thức để viết nên tác phẩm “Một ngày tại Hà Nội” vào năm 1973. Sau đó ông Phạm Huấn lại một lần nữa từ biệt Sài Gòn năm 1975 và chưa một lần trở lại.

Ngày 7 tháng 7-2004, tôi và đại tá thiết giáp Hà Mai Việt vào thăm Phạm Huấn tại Nursing Home của bác sĩ Ngãi ở khu Tully, San Jose

Sinh năm 1937, người thiếu niên Hà Nội trở thành sĩ quan trẻ trung của Sài Gòn
bgày đó vẫn còn là vị cao niên trẻ nhất của Nursing Home. “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm.” Phạm Huấn nói rằng nếu có ngày các ông lấy lại được Sài Gòn thì tôi cũng sẽ chơi một chuyến xe lăn về quê cũ. Nhưng từ tháng 7-1954 cho tới bây giờ ngày tháng cũng xa rồi mà mộng ước cũng xa rồi. Phạm Huấn và nhà thơ Hoàng Anh Tuấn đều lần lượt ra đi từ San Jose bỏ cả mưa Sài gòn lẫn mưa Hà Nội.

Năm 1954, có cô bé 15 tuổi lên máy bay một mình đi theo gia đình người bạn để vào Nam tìm tự do. Mồ côi mẹ, cha ở lại đi tìm con trai rồi kẹt luôn. Cô bé tên là Nguyễn Thị Chinh và sau này chuyến đi đã đem đến cho miền Nam một đệ nhất minh tinh gọi là Kiều Chinh. Chuyến đi của Kiều Chinh 1954 từ biệt Hà Nội đầy nước mắt chia ly trong tình phụ tử. Năm 1975, Kiều Chinh lại một lần nữa từ biệt Sài Gòn trong một chuyến bay trắc trở vòng thế giới giữa lúc thủ đô miền Nam hấp hối.

Và cũng vào năm 1954, một cô bé 9 tuổi Nguyễn Thị Lệ Mai xuống tàu di cư vào Nam. Sau này cô trở thành ca sĩ tiêu biểu của cuộc chiến lầm than, một đời lưu vong trong một kiếp trầm luân. Tên của người ca sĩ
trên 40 năm hát rong trên khắp địa cầu là Khánh Ly.

Và cùng với Vũ Đức Nghiêm, Lê Kim Ngô, Phạm Huấn, Kiều Chinh, Lệ Mai còn có Bùi Đức Lạc cũng là thành phần Bắc Kỳ di cư đến tạm trú ở khu Phú Thọ Lều để đến 75 thì trở thành người di tản mang màu áo pháo binh Dù.

Năm 1972 trong nước mắt Hạ Lào, Bùi Đức Lạc nghe Khánh Ly nức nở, đã nói rằng trận liệt mất đường về không phải vì Mỹ bỏ mà tại vì nhạc Trịnh Công Sơn.

Một người khác gốc Phát Diệm đã sớm trở thành dân di cư Hố Nai rồi chuyển qua vượt biên với một vợ 9 con tiếp tục bình tĩnh làm báo hàng ngày tại San Jose. Đó là Ký Còm – Vũ Bình Nghi.

Tại sao miền Bắc lại di cư tỵ nạn? Tại sao miền Nam lại di tản vượt biên? Truyền thống của dân Việt là muôn đời sống với lũy tre xanh, với mồ mả tổ tiên, với làng xóm. Vạn bất đắc dĩ phải ra đi mang tiếng tha hương cầu thực nhưng rồi vài năm lại trở về. Quốc văn giáo khoa thư thủa nhỏ đã ghi rằng chỉ có chốn quê hương là đẹp hơn cả.

Trung úy Phan Lạc Tuyên khi tham dự hành quân tiếp thu tại Bình Định đã viết nên bài nhạc bất hủ. Anh về qua xóm nhỏ, em chờ dưới bóng dừa. Nắng chiều lên mái tóc, tình quê hương đơn sơ. Nhưng chính tại miền quê đơn sơ ở Bồng Sơn này suốt 20 năm chưa bao giờ yên tiếng súng.

Khi người cộng sản nổi dậy với một cuộc chiến toàn diện khốc liệt và quá độ đã triệt tiêu hoàn toàn mọi sự hòa giải trong tình tự dân tộc. Đầu tiên là các dân thành thị, trí thức, tiểu tư sản và tôn giáo phải bỏ Kháng Chiến về thành. Tiếp theo là bỏ miền Bắc di cư vào miền Nam.

Năm 1954, người Bắc vào Nam đã đánh thức con rồng Sài Gòn tỉnh giấc. Qua những khác biệt ban đầu rồi chuyển đến thời gian hòa hợp. Miền Nam bắt đầu khởi sắc từ ẩm thực đến văn chương báo chí. Từ văn nghệ đến kinh doanh. Và sự hòa hợp không hề có biên giới.

Đại úy Lê Công Danh, gốc công tử Cần Thơ đứng đón di cư ở bến nhà Rồng đã bế luôn cô Bắc Kỳ nho nhỏ tóc demi garcon về làm áp trại phu nhân.

Trung úy công binh Nghiêm Kế, dân chơi Hà Nội phải lên tận Biên Hòa xứ Bưởi cưới cô Bé về làm chính thất, sống 20 năm ở các trại gia binh với 8 đứa con lần lượt ra đời.

Trung úy Giao Chỉ đi chiến dịch Đinh Tiên Hoàng phải xuống tận Rạch Giá để rước về người đẹp xứ Kiên Giang. Sau hơn
60 năm tình cũ, chàng mới nhận ra rằng không phải chỉ Đà Lạt mới có hồ Than thở, mà ở miền Hậu Giang cũng có khá nhiều.

Những ông sĩ quan trẻ Bắc Kỳ xấp ngửa vào Sài Gòn đều đem về mỗi ông một cái hồ than thở. Qua đến Hoa Kỳ nàng vẫn còn than thở
với Cell Phone.

Sau những đoạn trường 1954, thì tiếp đến câu chuyện tình Bắc duyên Nam trên mọi lãnh vực. Tất cả cùng nhau xây dựng xong nền Cộng Hòa với một đạo quân đẹp đẽ biết chừng nào.

Cho đến năm 1975 và rồi đến tận ngày nay là 201
7, người Việt vẫn tiếp tục bỏ nước ra đi. Từ di tản đến vượt biên, vượt biển, đoàn tụ, HO, con lai.

Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương?
Tại sao chúng ta lại rời bỏ quê hương?
Một lần đi là một lần vĩnh biệt.
Một lần đi là hết lối quay về.

Năm 1954, khi ra đi dân Bắc Kỳ di cư ít có hy vọng trở về chốn cũ. Bài ca “Hướng về Hà Nội” được hát nỉ non suốt ngày đêm trên Radio. Cho đến khi chính phủ sốt ruột phải ra lệnh cấm. Những cánh bưu thiếp liên lạc Bắc Nam rời rạc được một vài tháng rồi cắt đứt sau hai năm xa cách.

Qua thập niên 60, Hà Nội mở đường dây Ông Cụ, đưa cán bộ vào Nam xây dựng hạ tầng cơ sở và dựng nên cuộc chiến mà ngày nay chính cựu đảng viên cộng sản Dương Thu Hương cũng nhận xét là một cuộc chiến sai lầm, hy sinh quá nhiều sinh mạng và tiềm lực của cả hai miền đất nước.

Hôm nay, nhân dịp ghi dấu
hơn 60 năm hiệp định Genève chia đôi đất nước, chúng ta cùng suy ngẫm về dòng sinh mệnh đã đưa đẩy người Việt lưu vong. Sẽ không thể có được câu trả lời coi như là chân lý cho một vấn nạn lịch sử.

Trong cuộc sống hàng ngày, biết bao nhiêu là điều bí ẩn không hề có đáp số. Tại sao có người hạnh phúc và có người đau khổ? Tại sao có người bị hy sinh và có người tồn tại? Tại sao có người thành công và có người thất bại? Những ngày tháng lịch sử như 20 tháng 7, như 30 tháng 4 chỉ là những dấu ấn trong dòng sinh mệnh của một dân tộc, của một cộng đồng. Đó là ngày của cay đắng nở hoa.

Mới đây các quốc gia văn minh nhất của nhân loại Tây phương kể cả Nga, Đức, Anh, Pháp, Canada, Úc, Mỹ và nhiều nước khác cùng dự lễ kỷ niệm 60 năm đổ bộ Normandie. Bây giờ chúng ta cũng là công dân của một xứ sở văn minh là Hoa Kỳ, hãy cùng nhau nhớ về ngày lịch sử 20 tháng 7 của
63 năm về trước, ghi dấu lịch sử là một cách hành xử của con người văn minh.

Một lần nữa xin nhắc lại 20 tháng 7-1954,
63 năm về trước hiệp định Genève chia đôi đất nước. Một triệu người miền Bắc di cư vào Nam. Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương? Câu hỏi đó dành cho quý vị.

Tiếp theo từ 30 tháng 4-1975 cho đến nay, trên
ba triệu người Việt lần lượt ra đi. Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương? Câu hỏi đó cũng dành cho quý vị. Tại sao quý vị lại ra đi? Tiếp theo sẽ thêm câu hỏi khác. Bao giờ trở về ? Tại sao lại trở về? Tại sao lại không trở về? Trở về quê hương. Câu hỏi cho cả đời người. Câu hỏi cho cả một thế hệ.

Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã viết:

Quê hương, mỗi người có một
Như là chỉ một mẹ thôi…

Điều này có đúng với người Việt lưu vong hay không?

Hay là như Vũ Hoàng Chương đã than thở:

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.


Có thực sự đau thương như vậy không?

Chúng ta ra đi đem theo quê hương, hay là chúng ta ra đi bỏ lại quê hương? Với con đường an cư lạc nghiệp ở xứ này, phải chăng chúng ta đang sống hạnh phúc với quê hương mới?

Giáo sư Elie Wiesel, người Mỹ gốc Do Thái sinh trưởng ở Romania, nạn nhân của nạn diệt chủng Holocaust được cứu sống lúc 16 tuổi. Nhập tịch Hoa Kỳ năm 1963. Đoạt giải Nobel về Hòa Bình năm 1986. Ông đã nói rằng: “Nơi nào tôi sống có tự do và hạnh phúc, nơi đó chính là quê hương.”

Giao Chỉ – San Jose tháng 7-201
7

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.