Oct 21, 2019

Cổ thi Việt Nam

Bình Ngô Ðại Cáo - giọng ngâm Lệ Ba
Nguyễn Trãi - 阮 廌 * đăng lúc 07:44:41 PM, Jun 24, 2008 * Số lần xem: 3813
Từng nghe:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cỏi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần

bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên
mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.

Cho nên:

Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét.
Chứng cứ còn ghi.

Vừa rồi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây loạn
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,

ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả,
chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen,
nơi nơi cạm đặt.

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha;

Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang ma.nh.

Lại ngặt vì:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước,
vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền,
thường chăm chắm còn dành phía tả.

Thế mà:

Trông người, người càng vắng bóng,
mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng,
vội vã hơn cứu người chết đói.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đô.i.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cỏi một nhà,
dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử,
hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Trọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường ba.o.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng ma.nh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ ma.ng.
Vương Thông gỡ thế nguy,
mà đám lửa cháy lại càng cháy

Mã Anh cứu trận đánh
mà quân ta hăng lại càng hăng.

Bó tay để đợi bại vong,
giặc đã trí cùng lực kiệt,

Chẳng đánh mà người chịu khuất,
ta đây mưu phạt tâm công.

Tưởng chúng biết lẽ ăn năn
nên đã thay lòng đổi dạ

Ngờ đâu vẫn đương mưu tính
lại còn chuốc tội gây oan.

Giữ ý kiến một người,
gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,

Tham công danh một lúc,
để cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế:

Thằng nhãi con Tuyên đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy

Đinh mùi tháng chín,
Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười,
Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm,
chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường
tuyệt nguồn lương thực

Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng
Liễu Thăng thất thế

Ngày hai mươi, trận Mã Yên
Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc

Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay ! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa,

quân Vân Nam nghi ngờ
khiếp vía mà vỡ mật !
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,
quân Mộc Thạnh xéo lên nhau
chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,
nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành đan Xá, thây chất thành núi,
cỏ nội đầm đìa máu đen.

Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng

Tướng giặc bị cầm tù,
như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng

Thần Vũ chẳng giết hại,
thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
về đến nước mà vẫn tim đập chân run.

Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;

Than ôi !

Một cỗ nhung y chiến thắng,
nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
ban chiếu duy tân khắp chốn.

Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.


**********************************

Thơ Xướng Họa: Nguyễn Trãi

Chiều Quan Ải

Quan ải chiều buông cánh nhạn sa
Hắt hiu gió lạnh khóc tình nhà
Trời Ngô dõi mắt đau lòng trẻ
Đất Việt dời chân nát dạ cha
Lệ nén lưng tròng, thù quyết trả
Gan căm dằn bụng, hận khôn tha
Núi cao trùng điệp, thân cô lẻ
Nỗi nước, tình riêng ... ruột xót xa

Chu Hà

__________________________________________________ __________

Ức Trai Tiên Sinh

Nam Quan tiễn biệt, bóng chiều sa
Thương nước điêu linh, xót phận nhà!
Nuốt lệ, quay về lo nợ nước,
Ngậm hờn, ngoảnh lại nhớ thù cha.
Quyết đem Đại Nghĩa: hung tàn, diệt!
Thề lấy lòng nhân: bại tặc, tha!
Công đức bình Ngô, trung với chúa
Ức Trai danh vọng khắp gần xa.

Vương Sinh

__________________________________________________ __________

Nguyễn Trãi

Mưu Vương Tướng Lược hạt châu sa (1)
Ưu Quốc Thần Tâm giúp nước nhà
“Từ Mệnh Quân Trung” phù giá chúa
“Bình Ngô Đại Cáo” giữ quê cha
Hội thề Lũng Nhai trung không phản (2)
Vụ án Lệ Chi giết chẳng tha (3)
Tam tộc tru di bao khủng khiếp
Cho đời con cháu phải chia xa

sonkhe


Chú thích:
(1) Tại đền thờ Nguyễn Trãi tại làng Nhị Khê có hai câu đối:
Mưu Vương Tướng Lược ,Tranh Thiên Hạ
Ưu Quốc Thần Tâm, Chiếu Đẩu Khuê
(Mưu lược của vị danh tướng giúp Vua sánh với trời đất. Tấm lòng bầy tôi lo cho đất nước trong sáng như sao Đẩu sao Khuê.)
(2) Hội thề Lũng Nhai: Nơi huyện Lỗi Giang, Lam Sơn. Nguyễn Trãi theo phò Lê Lợi cùng cắt máu ăn thề với 30 vị tướng võ phất cờ khởi nghĩa.
(3) Vụ nghi án Nguyễn thị Lộ là thứ thiếp xinh đẹp cúa Nguyễn Trãi bị Vua Lê Thái Tông vốn ham mê tửu sắc vời vào cung tại vườn Lệ Chi (xưa kia là chốn ly cung đời Lý, Trần). Vua thấy Thị Lộ đẹp quá bỗng lăn đùng ra ...chết! nên Nguyễn Trãi bị Tru di tam tộc.

*****
Binh Ngo dai cao (Nguyen Trai) - Ton nu Le Ba (Ngam tho)

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.