Oct 04, 2022

Bài giới thiệu

Phải chăng những bài kinh cầu siêu nói về Vô Thường ...
Nguồn INTERNET * đăng lúc 11:35:51 PM, May 08, 2017 * Số lần xem: 1524
Phải chăng những bài kinh cầu siêu nói về Vô Thường, khổ và Vô Ngã chỉ nên tụng cho người chết

 
Hỏi: Phải chăng những bài kinh cầu siêu nói về Vô Thường, khổ và Vô Ngã chỉ nên tụng cho người chết? 

Câu hỏi trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày10 tháng 4, 2017. Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu:  Thật ra ở trong Phật Giáo Truyền Thống Nguyên Thủy hay là Phật Giáo Nam Tông không có gọi là cầu siêu chẳng qua "nhập gia tùy tục, đáo xứ tùy dân". 

Khi Phật Giáo Nam Tông truyền sang Việt Nam dân chúng Việt Nam đã theo truyền thống lâu đời Phật Giáo Bắc Tông nên có những bài kinh cầu an kinh cầu siêu. Chư Tăng theo truyền thống Nguyên Thủy không tụng những bài kinh được gọi là cầu siêu, không có gì gọi là cầu siêu cả. Nói như vậy qúi vị Phật tử đừng ngạc nhiên là từ trước đến giờ đi chùa cúng dường Chư Tăng thỉnh Chư Tăng tụng kinh cầu siêu hoặc cầu an hóa ra là Chư Tăng không có tụng cầu siêu cầu an gì hết. -  Không phải như vậy 

Cầu siêu là không phải cầu khẩn Đức Phật Ngài cứu rỗi cho người chết siêu thoát - không phải như vậy - không cầu ai để cứu rỗi cho thân nhân mình hết mà chỉ là Chư Tăng biết rõ thường người chết hay lưu luyến vương vấn  nhà cửa con cái tài sản, họ lưu luyến tái sanh không được, họ không muốn tái sanh lên, mà họ chỉ muốn sanh làm Chư Thiên loại thấp ở trong nhà hoặc là a tu la ma quỉ, bây giờ Chư Tăng đến tụng những bài kệ Saṃvejanīyagāthā là các bài kệ động tâm nói về pháp Vô Thường, Khổ, Vô Ngã hay nói sắc thân này là tạm bợ sẽ phải chết, nói về quán xét về sự Già, sự Bệnh, sự Chết hay quán Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. 

Vong linh của người quá vãng còn vương vấn ở đâu đó nghe được lời kệ như vậy họ hiểu được thấu đáo họ sẽ tỉnh ngộ nghĩ rằng cuộc đời này là giả tạm, cái này không phải của ta, tài sản này con cháu này trước đây trong đời quá khứ mình cũng đã từng chia tay đã từng biệt ly với người thân người thương rồi bây giờ cũng vậy thôi, cuộc đời là như vậy cho nên tâm họ xả bỏ và họ siêu thoát họ sẽ không còn vương vấn, họ đi tái sanh ở cảnh giới cao hơn.

Ngài HT của chúng tôi Ngài có nhắc một câu chuyện nói về ý nghĩa cầu siêu như sau: Có một nhà thơ đi ngao du sơn thủy đến một ngôi làng ông dừng dưới một cội cây bên đường, cội cây có hai nhánh một bên là tổ chim quạ một bên là tổ chim tu hú. Truyền thuyết giống chim quạ là giống chim có hiếu, khi chim con được cha mẹ nuôi lớn lên nó chưa bỏ tổ, nó chỉ kiếm mồi về nuôi dưỡng cha mẹ già yếu ở trong tổ nó nuôi dưỡng hoài cho đến khi  chim cha chim mẹ già rồi chết  lúc đó nó mới bỏ tổ đi, đó là giống chim quạ có hiếu như vậy, giống chim tu hú ngược lại nghĩa là khi còn nhỏ được chim cha chim mẹ tha mồi về nuôi đến khi chim con lớn lên đủ lông đủ cánh trước khi nó muốn ra riêng nó phải đánh cha đánh mẹ hễ nó thua thì nó còn tiếp tục ở lại trong tổ của cha mẹ nuôi tiếp còn khi nó thắng rồi thì lúc bấy giờ nó được phép ra riêng tức là nó đi kiếm ăn một mình lúc đó xem như nó đủ sức mạnh để sống tự lập. Điều này theo nhân gian người ta gọi là bất hiếu. 

Ông nhà thơ này thấy vậy ứng khẩu thành thơ: 

Lộ phùng nhất mộc sinh lưỡng nhi
Nhất nhi hoan hỉ nhất ưu bi  
Hiếu thuận hoàn sinh hiếu thuận tử

Ông làm tới đây thì bí đến câu thứ tư trì không ra để cho nó ăn vần và đúng nghĩa, ông đi tới đi lui ông ngâm nga 3 câu đó hoài tư tưởng bị bế tắt ông uất ức rồi chết sanh làm ma cứ ở luẩn quẩn ở cột cây, dân làng sáng chiều nhất là trời tối có việc phải đi qua đường vắng người ngang qua cội cây nghe tiếng ngâm thơ chỉ ngâm 3 câu đó họ sợ quá làm miếu thờ. Một dạo nọ một vị quan mới đổi về nhậm chức ở huyện, vị quan đi kinh lý để thăm dò nhân tình tại địa phương này sinh sống như thế nào tập tục văn hóa như thế nào để ông  biết mà trị dân. Khi ông đi ngang con đường thấy dưới cội cây có miếu thờ ông hỏi các vị bô lão trong làng tại sao ở đây có cái miếu thờ thì các vị bô lão trong làng tường thuật cho ông quan nghe, ông quan khởi lên suy nghĩ:

- "Như vậy, nhà thơ này không có siêu thoát được vì uất ức vì một câu tìm không ra"

Ông quan nhân sự tùng sự kêu dân làng lập đàn tràng, lúc đó ông ta cũng thắp hương cúng vái rồi ông ta đặt bút xuống và khấn vái :

- "Ngài sống khôn thác linh ngày hôm nay hạ quan đến đây được biết sự việc hạ quan sẻ giúp cho Ngài được mãn nguyện, hạ quan sẽ làm tiếp câu thứ tư."

Ông ta chỉ phê bút viết xong ba câu kia ông viết tiếp:

- Ngỗ nghịch hoàn sanh ngỗ nghịch nhi

Rồi ông ta bắt đầu đọc bài văn tế đó: 

- Lộ phùng nhất mộc sinh lưỡng nhi
Nhất nhi hoan hỉ nhất ưu bi  
Hiếu thuận hoàn sinh hiếu thuận tử
Ngỗ nghịch hoàn sanh ngỗ nghịch nhi

Bốn câu đó tròn như cái thúng, bốn câu thất ngôn tứ tuyệt có nghĩa là:

"Lộ phùng nhất mộc sinh lưỡng nhi" đi giữa đường gặp một cây chia thành hai nhánh một bên thì hoan hỉ một bên thì sầu bi, giống hiếu thuận thì sanh con hiếu thuận, giống ngỗ nghịch  thì sanh con cũng ngỗ nghịch, chỉ cho giống chim tu hú nghĩa là lớn lên đánh cha mẹ thắng rồi thì mới bay đi tự lập mà hễ thua thì cha mẹ phải nuôi, đó gọi là giống ngỗ nghịch.

Ông ta làm xong bài văn tế và ông ta phụ hoạ thêm câu thứ tư để tròn đủ  vần thơ xong ông đốt tờ văn điếu đó, từ đó về sau người ta không còn nghe tiếng ngâm thơ vào buổi chiều tối dân làng không còn sợ, lúc đó dân làng nghĩ chắc nhà thơ này đã siêu thoát nên họ tháo gỡ cái miếu ở dọc đường không thờ nữa, bởi vì thờ cái miếu đi ngang cũng lạnh xương sống.

Ở đây, chúng  nhắc lại để qúi vị hiểu ý nghĩa của cầu siêu là không phải chúng ta cầu ai hết nhưng mà giúp cho người khác siêu thoát. 

Giúp bằng cách nào? 

Nghĩa là, khi người chết với tâm uất ức chẳng hạn bị người ta thù giết chết rồi sanh làm atula ma quỉ để hù nhát dân làng v.v... lúc bấy giờ các vị tỳ kheo rải tâm từ đến loài phi nhân đó và đọc lên những Phật ngôn Đức Phật Ngài đã thuyết về sự đời là vô thường, là giả tạm, là khổ đau sầu muộn, là vô ngã rỗng không, có thân đây bị già bị chết lẽ thường tình v.v... đọc những câu Phật ngôn đó để cho họ nghe họ hiểu và khi họ thâm nhập được Pháp, hiểu được Pháp, liễu tri được Pháp thì họ sẽ từ bỏ sự hận thù hay từ bỏ sự vấn vương con cái tài sản để siêu thoát đi vào cảnh giới khác. Ý nghĩa cầu siêu là như vậy.

 Có một gia đình Phật tử trai tăng rất lâu năm, thông lệ mỗi lần trai tăng chúng tôi nhắc Pháp, không lẽ cứ cứ tán thán về sự bố thí cúng dường hoài,  lâu lâu chúng tôi cũng nghe lời tác bạch của họ: "rằng thân giả tạm chúng con hiểu được chết cũng bỏ đi tất cả chỉ có phước báu là chỗ nương tựa trong ngày vị lai" v.v... họ tác bạch nghe hay, chúng tôi sách tấn khích lệ  nên nói về sự đời cái thân giả tạm bệnh chết vô thường phải cố gắng làm phước, rồi chúng tôi có giải thích cho họ nghe ý nghĩa Chư Tăng sẽ tụng kinh không phải chúc là sự sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh, sẽ tấn tài  tấn hoá, sự sang cả đến cho người v.v.... nếu mà chúc tụng như vậy sáo ngữ quá do đó chúng tôi sẽ báo trước cho họ là hôm nay Chư Tăng sẽ tụng những bài kinh để nghe và quán tưởng sự đời. 

Chẳng hạn như: Bài kinh SAMVEJANĪYA GĀTHĀ - CÁC KỆ ĐỘNG TÂM. Đoạn như sau:

- "Sabbe sattā marisanti,
Maraṇantaṃ hi jīvitaṃ,
Yathākammaṃ gamissanti,
Puññapāpabhalūpagā,
Nirayaṃ pāpakammantā,
Puññakammā ca sugatiṃ,
Tasmā kareyya kalyāṇaṃ,
Nicayaṃ samparāyikaṃ,
Puññāni paralokasmiṃ,
Pattiṭṭhā honti pāṇiṇaṃ.- 

Tất cả chúng sanh sẽ phải chết vì mạng sống này có sự chết kết thúc, chúng sanh sẽ ra đi tùy theo nghiệp, chúng sanh nào làm thiện thì được sanh về nhàn cảnh và chúng sanh nào làm việc bất thiện thì bị sanh xuống địa ngục, cho nên người trí phải nhanh chóng làm các việc phước làm chỗ hậu cứ nương tựa cho ngày vị lai" v.v.... 

Thật ra bài kinh đó là một trong những bài kinh cầu siêu. 

Bài kinh "Paticca-samuppada" - vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên sắc cũng là bài kinh cầu siêu.

Hoặc trong bài kinh SAMVEJANĪYA GĀTHĀ - CÁC KỆ ĐỘNG TÂM  tụng đoạn

 Na gāmadhammo nigamassa dhammo,
Na cāpiyaṃ ekakulassa dhammo,
Sabbassa lokassa sadevakassa, 
Eseva dhammo yadidaṃ aniccatā

Pháp vô thường nó là định luật chung chứ không phải để riêng cho một người hay một gia tộc hay một xóm làng nào hết mà chung cho nhân loại cho Chư Thiên, Phạm Thiên luôn ai cũng bị pháp vô thường chi phối. 

Tụng  những bài kinh đó các thí chủ Phật tử có tâm hành thiện hiểu được  ý nghĩa nên rất hoan hỉ. Nhưng với các Phật tử khác không hiểu thì chúng tôi rất dè dặt. Khi chúng tôi đến các đám ma cũng chỉ tụng Anicca vata sankhara - các hành là vô thường là pháp sanh diệt v.v... mà bây giờ tới ngày họ trai tăng mà chúng tôi cũng tụng Anicca vata sankhara - các hành là vô thường là pháp sanh diệt họ không hiểu thì họ sanh phiền não họ tưởng đâu mình trù cho họ chết cho nên trong trường hợp chúng tôi cũng tùy người để chúng tôi tụng kinh.

 Chúng tôi nhắc lại, trong Phật giáo không cầu ai để siêu thoát cho ai được,  mà chúng sanh siêu hay đọa là do tùy theo nghiệp của mỗi chúng sanh và chuyện đau khổ hay hạnh phúc ở trong cuộc đời tùy theo nghiệp mà chúng sanh đó đã làm thiện hoặc ác. Cho nên ở đây vấn đề ý nghĩa của cầu siêu thì chúng tôi nói là "nhập gia tùy tục, đáo xứ tùy dân" tại vì sống ở quốc độ này dân chúng họ quen dùng từ cầu an cầu siêu họ thỉnh thì Chư Tăng phải làm phải tụng kinh an lành là kinh Maṅgalasutta, tụng kinh cầu siêu là kinh Saṃvejanīyagāthā chỉ vậy thôi./.  

Saturday, January 7, 2017

Thập Nhi Nhân Duyên là gì?

 
Thập Nhị Nhân Duyên là gì? 
 
 TT Giác Đẳng giảng tại khoá tu học bên Thụy Sĩ
 
Minh Hạnh chuyển biên và biên tập
 
Đó là một câu hỏi mỗi chúng ta đều có câu trả lời khác nhau, bởi vì đây là một giáo lý chúng ta nghe rất thường. 
 
 Trước khi giảng lý Thập Nhị Nhân Duyên chúng tôi xin kể một câu chuyện. Có một lần chúng tôi nghe tin tức đài truyền hình CNN nói một bài tường thuật rất lý thú của một phóng viên người Hoa Kỳ, ông sang Trung Quốc làm phóng sự đã ghi nhận là từ năm 1949  khi Cộng Sản tuyên bố nắm quyền tại Hoa Lục có đưa ra đạo luật khắc khe về kế hoạch gia đình. Bởi vì dân Trung Hoa rất đông nếu sanh con tự do thì không có đất để ở, không đủ cơm để ăn, do vậy phần lớn các gia đình đều chỉ được phép sanh một đứa con. Điều này là một điểm đau buồn cho nhiều gia đình Trung Hoa, bởi vì người Trung Hoa quan niệm sanh con trai mới qúi, vì con trai mới nối giòng gia tộc, nhưng không phải ai cũng sanh được con trai, có người sanh con trai và có người sanh con gái, mà hễ sanh con gái rồi thì cũng đành chịu không thể sanh thêm một đứa nữa, nếu sanh thêm thì bị nhiều phiền phức với nhà cầm quyền và đứa con thứ hai sanh ra không được hưởng những quyền lợi như đứa con duy nhất trong gia đình. Như vậy đa số, và là một số rất đông người Trung Hoa bây giờ họ là đứa con duy nhất trong gia đình, không có anh chị em, cha mẹ họ cũng không có anh chị em, và không phải chỉ cha mẹ họ không có anh chị em mà ông bà họ cũng không có anh chị em. Các nhà nhân chủng học sang bên đó làm một cuộc thí nghiệm là họ mang rất nhiều những tập sách kể câu chuyện về tình huynh đệ, tình chú bác cô dì để cho những người này đọc, khi họ tìm hiểu lại thì những người này đọc đã không cảm nhận được tình anh em, giống như chúng ta là người bình thường. Tại vì sao vậy? tại vì họ chưa bao giờ lớn lên trong tình anh em, chưa bao giờ lớn lên trong tình cô dì chú bác, vì sao? Vì bản thân của họ, cha mẹ của họ, ông bà của họ từ nhiều thế hệ rồi chỉ là một đứa con duy nhất trong gia đình mà thôi. 
 
Đây là một điểm chúng tôi muốn dùng câu chuyện này để khởi đầu cho bài giáo lý Duyên Sinh ngày hôm nay. Có những sự việc rất bình thường trong đời sống của chúng ta, chúng ta nghĩ rằng không có điều gì đáng cho ta suy nghĩ hết, như ai sanh ra ở trên đời này cũng có cha mẹ ông bà có anh chị em, do vậy khi chúng ta nghe nói đến tình anh em ruột thì chúng ta nghe rất bình thường, không có chuyện gì để suy nghĩ, nó bình thường giống như là ánh nắng mặt trời, bình thường giống như cơm ăn áo mặc. Nhưng mà rồi, nếu tưởng tượng chúng ta là một người lớn lên tại Trung Quốc mà bản thân của mình chưa bao giờ có anh chị em, và cha mẹ mình cũng chưa bao giờ nói về tình anh chị em tại vì cha mình cũng là con duy nhất và mẹ mình cũng là con duy nhất, thì có lẽ rất khó cho chúng ta đọc sách khi kể về chuyện anh em cảm động như thế nào, chúng ta khó mường tượng được, bởi vì chúng ta không có anh chị em. 
 
Nên có một sự thật ở trong đời sống là bởi vì cuộc sống này nó có nhân duyên của nó, nó có nguyên nhân xâu xa của nó nhưng đối với chúng ta sự việc đó nó vô cùng bình thường, tại vì chúng ta chưa bao giờ nghĩ tới nó hết. Cũng như ánh sáng mặt trời mang lại cho chúng ta rất nhiều thứ, ánh sáng mặt trời đem lại cho chúng ta sự ấm áp trên trái đất này, ánh sáng mặt trời giết một số các vi trùng có thể hại đến sức khoẻ của chúng ta, ánh sáng mặt trời mang lại năng lượng cho cơ cấu, nhưng trước khi các nhà khoa học cho chúng ta biết điều đó thì chúng ta nhìn ánh sáng mặt trời rất bình thường như cái gì xảy ra vậy. 
 
Giáo lý duyên sinh và duyên hệ Đức Phật dạy cho chúng ta là một giáo lý phát động ảnh hưởng đến chúng ta rất nhiều, hầu như trong mọi ngõ ngách của đời sống chung nhưng chúng ta ít khi để ý đến. Bởi vì sao vậy? bởi vì chúng ta thấy điều đó rất bình thường. 
 
 Ví dụ như Đức Phật Ngài nói: "Do cái này có thì cái kia có, do cái này diệt thì cái kia diệt, do cái này không có nên cái kia không có." Đó là câu nói về duyên sinh, đối với chúng ta chuyện đó rất bình thường và không có gì có ý nghĩa lớn lao hết.
 
 Nhưng với một người tu tập thì câu nói đó rất quan trọng. Tại vì sao vậy? Tại vì sự tu tập của chúng ta dựa trên tinh thần nhân quả, nếu chúng ta biết cái này nó do nhân nào và cái này tạo nên quả nào, thì đời sống của chúng ta hoàn toàn khác biệt. Bởi vì không tin vào lý nhân quả, không hiểu về lý duyên sinh, không hiểu về nguyên nhân của các pháp, do vậy chúng ta cứ làm, chúng ta cứ hành động. Ở trong đời này người nào hành động mà có suy nghĩ thì đời sống họ khác biệt hơn một người đụng đâu làm đó, đụng đâu nói đó và không biết tu tập. Một người sở dĩ họ có những lời nói cẩn trọng là bởi vì họ biết rằng lời nói có tác dụng của nó và lời nói có cái quả của nó. Có những người cũng thời gặp hoàn cảnh khó khăn, có những người than thân trách phận, có những người cảm thấy rất bình thường. Tại vì sao vậy? Tại vì họ biết được nhân quả. Như trường hợp ở trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn ai cũng khổ hết thì khi chúng ta thất nghiệp chúng ta ít buồn tại vì đây là kinh tế khó khăn ai cũng giống nhau. Đó là chúng ta biết được nhân của nó, nhưng nếu một người không có suy nghĩ thì họ trách móc, họ trách chính quyền, họ trách cha mẹ, trách ông chủ tại sao đuổi không cho mình làm tiếp tục công việc nữa. Như vậy biết nhân quả cũng thay đổi đời sống rất nhiều. 
 
Đức Phật dạy một người trong đời sống biết được lý nhân quả chúng ta có thay đổi 5, 6 chục phần trăm cái nhìn về cuộc sống này. Do vậy giáo lý nhân duyên là một giáo lý có thể tìm thấy trong lời dạy của Đức Phật. 
 
Đức Phật Ngài giảng về Tứ Đế Ngài nói về lý Nhân Duyên. Ngài nói:
 
 "Đây là khổ, đây là nguyên nhân sanh khổ.
 
Nói sự khổ không không quan trọng mà phải nói đến nguyên nhân của nó mới quan trọng, Ngài nói "Đây là hạnh phúc" cũng chưa quan trọng mà Ngài nói rằng: "Đây là con đường mang đến hạnh phúc." Thì điều đó là điều rất ư là quan trọng ở trong sự tu tập của mình. 
 
Giáo lý Nhân Duyên là một giáo lý qua đó Đức Phật cho chúng ta những dụng cụ. Chúng tôi nói "những dụng cụ" ở đây bởi vì chúng tôi muốn tất cả chúng ta nhìn vào giáo lý Nhân Duyên giống như một pháp môn cụ thể thực tế để chúng ta đào sâu vào đời sống hơn là dùng nó giống như một lý thuyết một quan niệm mà chúng ta thường dùng. 
 
Nhiều lần Đức Phật Ngài nhấn mạnh trong các bài pháp của Ngài rằng những gì Ngài truyền dạy cho chúng ta đều là những phương tiện giúp chúng ta tu tập và sự việc này là một sự việc người Phật tử nên mang vào trong lòng, bởi vì chúng ta đang nhìn vào lời dạy của Đức Phật là những phương tiện giúp chúng ta tu tập một cách cụ thể hơn là những điều để giải buồn. 
 
Khi chúng ta nghe một câu chuyện giải buồn, nghe qua thì nghe. Thử mường tượng như vầy, bây giờ qúi vị làm vườn, qúi vị muốn trồng hoa, muốn trồng cây ăn trái, một người nào đó mang đến cho qúi vị một ít phân ít đất và những dụng cụ cuốc xẻn v.v... họ cho những điều đó không phải để chúng ta nhìn nó để phán rằng nó đẹp nó có giá trị một món quà, mà chúng ta dùng những dụng cụ đó để làm vườn và làm công việc của mình. 
 
Thì giáo lý của Đức Phật không phải Đức Phật Ngài giảng ra để chúng ta thấy rằng Đức Phật hay, Đức Phật giỏi, hay khi chúng ta nghe giáo lý Đức Phật thì nghĩ rằng À! Đức Phật Ngài cho chúng ta những điều này để chúng ta đi ra bên ngoài gặp những người ngoài đạo nói với họ rằng đạo của chúng tôi hay như vầy, đạo của chúng tôi dạy như thế kia. Thật sự tất cả những lời dạy của Đức Phật đều được dạy với một mục đích cho chúng ta dụng cụ, và dụng cụ đó để chúng ta đào sâu thêm, chúng ta làm tốt thêm, và chúng ta thay đổi được đời sống của mình qua sự tu tập. 
 
Như vậy, giáo lý Nhân Duyên cũng nên được cần lãnh hội trong đời sống như là phương tiện để sống, phương tiện đó giúp cho chúng ta đào sâu đến gần sự thật nhiều hơn 
 
Bây giờ chúng ta nên đi một cách trực tiếp hơn với câu hỏi:
 
  - Lý Nhân Duyên là gì?

Chúng tôi rất tiếc khi nói về lý Nhân Duyên cho đến bây giờ trong kho tàng kinh điển đạo Phật bằng tiếng Việt của chúng ta chưa có một quyển sách nào nói về lý Nhân Duyên đến mức độ đầy đủ để chúng ta có thể nói rằng chỉ cần đọc quyển sách đó và không cần đọc quyển sách khác. 
 
Vì vậy chúng tôi mong qúi vị kiên nhẫn đọc nhiều quyển sách khác nhau cũng giống như chúng ta đọc kinh vậy, chúng ta gom đầu này một ít, đầu kia một ít, bởi vì chúng ta chưa có một tổng hợp nào đầy đủ.
 
 Một  quyển sách tựa đề "Vòng luân hồi". Trong quyển sách này có giảng về lý Thập Nhị Nhân Duyên tương đối đi vào những điểm căn bản, cuốn sách này có cống hiến cho chúng ta một đồ hình về Thập Nhị Nhân Duyên, và đồ hình này không giúp cho chúng ta đi vào hết tất cả những chi tiết quan trọng của lý Thập Nhị Nhân Duyên, nhưng đồ hình này là một công trình của những người Phật tử Tây Tạng đã cố gắng vẽ lý nhân duyên lên trên tường của họ, để nhắc nhở họ về lý duyên khởi trong đời sống tu tập hằng ngày, và bởi vì nhiều năm nhiều tháng và với sự kiên nhẫn lâu dài họ đã vẽ được một đồ hình về nhân duyên một cách rất có ý nghĩa và quả thật là đồ hình này là phương tiện tốt để chúng ta không phải chỉ nhớ mà chúng ta phải suy ngẫm về lý nhân duyên. 
 
Thường thường chúng ta nghe nói đến 12 nhân duyên là:
 
 1 - Vô minh (avidyā),
 2 - Hành (saṃskāra), (hành động)
3 - Thức (vijñāna), (ý thức)
4 - Danh sắc (nāma-rūpa),
 5 - Lục xứ (ṣaḍ-āyatana), 
6 - Xúc (sparśa),
 7 - Thọ (vedanā),
 8 - Ái (tṛṣṇā), 
9 - Thủ (upādāna), 
10 - Hữu (bhava),
 11 - Sinh (jāti), 
12 - Lão tử (jarā-maraṇa). 
 
Khi nói đến 12 nhân duyên, định nghĩa là vô minh là gì, hành là gì, thức là gì và khi chúng ta được giải thích vô minh là gì, hành là gì, thức là gì thì chúng ta nghĩ rằng đủ rồi như vậy là mình biết được 12 nhân duyên, cũng giống như mình nói có 7 pháp giác chi, thứ nhất là gì, pháp thứ hai là gì, pháp thứ ba là gì, pháp thứ tư là gì và nghe xong 7 pháp như vậy là đủ. Nhưng thật sự như vậy không đủ đối với lý nhân duyên. 
 
Đúng ra trong phần lời dạy của Đức Phật về Thập Nhị Nhân Duyên thì sự quan trọng chúng ta phải hiểu không phải vô minh là gì, mà là "thế nào là vô minh duyên hành, thế nào là hành duyên thức, rồi thế nào là thức duyên danh sắc v.v...". 
 
Bởi vì sao? Bởi vì Đức Phật Ngài nói chính do hành nên có thức, chính do vô minh nên có hành, thì như vậy vô minh là nhân, hành là quả, do vậy chúng ta phải đặt vấn đề tại sao vô minh duyên cho hành và tại sao hành được có bởi vô minh và vì vậy khi Đức Phật Ngài nói về giáo lý Thập Nhị Nhân Duyên, Ngài định nghĩa vô minh là gì, nhưng Ngài cũng nói rằng thế nào là vô minh duyên cho hành, chữ "duyên" ở đây có nghĩa là nhân tác động tạo nên. Do vậy khi chúng ta hiểu tại sao "vô minh duyên cho hành" thì điều đó là điều rất tốt để chúng ta hiểu được một phần của giáo lý Thập Nhị Nhân Duyên chứ không phải là chúng ta hiểu là vô minh là gì thì là đủ. Thí dụ như  đi vào trong công sở chúng ta có thể tìm hiểu người giám đốc là gì và người quản lý là gì nhưng mà rồi cũng quan trọng để chúng ta hiểu sự quan hệ giữa người giám đốc và người quản lý ra sao, cái đó chỉ là một phần thôi tuy nhiên phần khác quan trọng, ví dụ như ở trong chùa chúng ta có anh A và anh B, và hỏi anh A là gì anh B là gì nhưng mà quan hệ của họ ra sao, khi chúng ta hiểu quan hệ của họ ra sao thì chúng ta mới hiểu tổ chức của ngôi chùa và chúng ta mới hiểu cơ cấu của cơ quan đó. 
 
Do vậy khi nói về giáo lý Thập Nhị Nhân Duyên chúng ta sẽ nói về quan hệ giữa các chi pháp. Khởi đầu tiên của giáo lý Thập Nhị Nhân Duyên là vô minh duyên cho hành. Ở trong sơ đồ giảng về 12 nhân duyên trong hình tương đối dễ hiểu nhất chúng tôi muốn mượn cách trình bày và bố cục của đồ hình này.
 
 
 Ngày hôm nay tại Tây Tạng tất cả những bức hình về Thập Nhị Nhân Duyên đại để đều giống nhau nhưng những chi tiết thì khác nhau và không ai biết được tác giả của đồ hình này là ai, tuy nhiên họ biết rằng đồ hình đó cho họ rất nhiều, nhưng mỗi người họ vẽ một cách khác. Giống như hình Đức Phật, họ vẽ hình Đức Phật đản sanh thì có Hoàng Hậu Maya có Đức Bồ Tát sơ sinh và 7 đoá hoa sen nhưng mỗi người hoạ sĩ họ vẽ khác nhau và không ai lấy ý kiến của ai, chỉ lấy từ trong kinh ra mà thôi. Không phải chúng tôi lạc đề mà chúng tôi chỉ muốn rằng trước khi đi sâu vào Thập Nhị Nhân Duyên thì chúng ta nên có ý niệm đại khái về lý Nhân Duyên. 
 
Hình có thể được nhìn từ ở bên ngoài vào ở bên trong và từ trong ra phía bên ngoài, tập đồ hình này có thể hiểu từ trong ra bên ngoài được là như vầy: 
 
- Vòng bên trong là tâm điểm của nó, tượng trưng cho tâm phiền não, phiền não này gồm có một con gà, một con rắn và một con heo. 
 
 Tâm Tham: con gà nó có thói quen hay bơi móc, đi tìm kiếm thì điều đó tượng trưng cho tham, tại vì tâm tham này mà đồ trong shopping trong siêu thị đồ nào tốt cũng ráng đi tìm cũng giống như con gà đi bươi cỏ bươi cùng khắp. 
 
Tâm Sân: giống như con rắn, con rắn hễ mình đạp nó là nó quay lại cắn đó là thói quen của con rắn, thì lòng sân được nói lên ở đây ví dụ như con rắn.
 
 Tâm Si: con heo tượng trưng cho tâm si bởi vì con heo chỉ biết ăn và biết ngủ thôi ngoài ra không biết gì nữa hết. 
 
Do vậy ba con vật này tượng trưng cho Tham Sân Si. 
 
 - Vòng ở bên ngoài cũng là cái vòng tròn nhưng một bên trắng một bên đen tượng trưng cho hành động thiện và hành động bất thiện. Điều này là một điều rất lạ và chỉ khi nào chúng ta tìm hiểu về giáo lý Thập Nhị Nhân Duyên thì chúng ta mới hiểu là tại sao cả việc thiện và việc bất thiện trong đời chúng ta làm đều liên quan đến phiền não, tại vì chúng ta nghĩ rằng chỉ có việc bất thiện mới được tạo nên phiền não. Tuy nhiên, phiền não có nhiều cách, có những cách rất thô, có những cách rất vi tế, nó vi tế đến nỗi phiền não nó nằm ở trong việc thiện mà chúng ta không thấy. 
 
Thí dụ, một người mang bông hoa đến chùa cúng Phật, nhưng họ nguyện: " Nguyện cho đời sau con thiệt là đẹp". Việc người đó cúng Phật là thiện hoàn toàn nhưng lại có liên quan đến phiền não ở giữa này. 
 
Do vậy khi nói "vô minh duyên cho hành" thì vô minh là si ám mê mờ không biết không thấy, nhưng nói đến hành là hành động thì có thiện và bất thiện, không phải chỉ vô minh là tạo nên hành động bất thiện mà cũng tạo hành động thiện nữa, và điều này ý nghĩa rất là khó hiểu. Cũng giống khi chúng ta nói về khổ đế có nhiều cái chúng ta thấy là hạnh phúc nhưng nó cũng là khổ, có nhiều thứ trong đời sống chúng ta thấy nó rất là thiện nhưng mà nó có căn bản của bất thiện của phiền não. Và từ hành động thiện và bất thiện này nó sẽ tạo ra quả là sáu cảnh giới đi thọ sanh, chúng ta thường gọi là lục đạo. 
 
Lục đạo là:
 
 1. cõi người sinh hoạt,
 
 2.  cõi trời, 
 
3.  a tu la, 
 
4. ngã qủi, 
 
5. địa ngục,
 
 6. súc sinh, 
 
Đó là sáu đường ác đạo. Nói tóm lại là vòng tâm điểm thì nói đến phiền não. 
 
Vòng thứ hai nói đến nghiệp. 
 
Vòng thứ ba nói đến quả. 
 
Phiền não, nghiệp, và quả, ba cái đi chung với nhau, cái này duyên cái kia, cái kia duyên cái này. Nhưng nhân duyên này giữa phiền não và nghiệp và quả nếu chỉ nói một cách đại khái bình thường như chúng ta hiểu được, nhưng có những cái chúng ta không thể hiểu được nếu chúng ta không hiểu  nhiều về 12 lý Nhân Duyên này. 
 
Do vậy, đồ hình 12 lý nhân duyên được bao gồm ở bên ngoài cũng nói về nghiệp quả và phiền não. 
Ví dụ, chúng ta nói:
 
 - Vô Minh là phiền não, 
 
- Hành là nghiệp, 
 
- Thức và Danh Sắc là quả, 
 
Nhưng được trình bày với ý niệm khác. 
 
Nên chi hiểu phiền não, nghiệp và quả trong ý niệm này chưa đủ, phải hiểu về 12 lý nhân duyên là sự liên hệ của nó thì mới đủ. 
 
 - Hình vẽ một con qủi Vô Thường, theo trong các đồ hình của Tây Tạng thì con qủi vô thường này được trang điểm trên đầu bằng những sọ người, và những sọ người này nói lên là đời sống luôn luôn đi tới chỗ hoại, đi đến chỗ thay đổi. Chúng ta đi liên tục từ đời này qua đời kia một chuỗi dài gọi là "Tiền tiền vô thủy hậu hậu vô chung", do đó cái đuôi nó rất dài đi vào trong vô tận chúng ta không thấy hết được, cũng giống như chúng ta luân hồi từ nhiều kiếp cho đến bây giờ chúng ta không thể truy tìm ra được cái sở nguyên của nó. Cái đuôi nó cũng giống như là nhân duyên nhiều đời quá khứ chúng ta gọi là "Tiền tiền vô thủy" 
 
Chung quanh sơ đồ là lửa đang cháy, người Trung Hoa dịch là "Tam giới như hoả thạch" là ba cõi giống như lửa. Bởi vì có thay đổi, có nhân duyên thành ra có đau khổ. Và nhờ vào giáo pháp của Đức Phật, giáo pháp ở trong họa đồ là Tám Hoa Sen tượng trưng cho Bát Chánh Đạo đưa con người đến giác ngộ giải thoát và trong họa đồ có hình Đức Phật Ngài đang giảng về lý duyên khởi.
 
 
Một câu ví dụ của Đức Phật, Ngài nói rằng: 
"Giáo lý Duyên Sinh tức là Thập Nhị Nhân Duyên giống như một cuồng chỉ rối". 
 
Chỉ có một người đại trí là Đức Phật Ngài gỡ ra được. Khi mình cầm cuộn chỉ rối lên thì không biết khúc nào là khúc đầu và khúc nào là khúc đuôi thành ra đời sống rối như cuộn chỉ rối.
 
 Thí dụ, mình có một người bạn có chuyện buồn phiền nếu mình muốn tìm ra nguyên nhân thì không phải dễ, chỉ cái chuyện nhỏ như vậy thôi, có thể là vì người ta không được khỏe trong người, hay một chuyện cá nhân, hay có ai đã đụng chạm đến người đó. Vì vậy đời sống hết sức là rối. 
 
Hay ở trong một quốc gia đôi khi kinh tế lên xuống, thị trường chứng khoán lên xuống, người thì nói do nguyên nhân này, kẻ thì nói do nguyên nhân kia. Nhưng đôi lúc có rất nhiều nguyên nhân, và đôi lúc chỉ do một nguyên nhân . Như trường hợp ngày xưa Tổng Thống Bush đi sang Nhật tự nhiên ông đau bụng rồi xỉu trên bàn tiệc và chỉ chuyện Tổng Thống Bush xỉu trên bàn tiệc mà làm cho thị trường chứng khoán ở New York đi xuống với một nguyên nhân rất nhỏ như vậy. 
 
Ở Hoa Kỳ càng lúc những người trẻ vào tù càng nhiều, nhiều đến nỗi ngày hôm nay rất nhiều tiểu bang họ đã viết một bộ luật mới là phải xử những trẻ nhỏ như thế nào, trẻ tuổi vị thành niên 14, 15 tuổi mà đã cầm súng bắn người khác, giết cha giết mẹ thì không thể nào gửi nó vào trong trại cải huấn bình thường được, mà phải đối xử nó như một tù nhân thật sự. Thì khi gặp những trường hợp xảy ra như vậy, nhiều nhà giáo dục và các cơ quan chính phủ họp lại hỏi rằng mình làm thế nào để cải thiện? Thì họ mới đưa ra là mình phải tìm nguyên nhân nó như thế nào? Thì đủ thứ nguyên nhân, nguyên nhân là ở Hoa kỳ hầu hết trong một gia đình thường thì cả cha cả mẹ đều đi làm, bà mẹ vì đi làm nên họ gửi con chớ không có thì giờ để lo cho con do vậy con hư, rồi những người nam nữ họ cưới nhau rất sớm, không suy nghĩ cặn kẽ về hôn nhân và gia đình họ đi đến chỗ đổ vỡ, rồi cha mẹ ly dị, hoặc Ti Vi chiếu nhiều phim bạo động quá, bắn giết nhau nhiều quá trẻ nhỏ đâm ra hiếu sát, tạo cho mấy đứa nhỏ hư. Có muôn ngàn vấn đề mình phải bàn tới.
 
 Như vậy, cho chúng ta một ý nghĩa là ở trong đời sống này nhiều lúc chúng ta nhìn vấn đề một cách đơn giản quá và nó khó chịu quá, do đó chúng ta không muốn nhìn, không muốn đào sâu nó nữa. Cái chuyện vui buồn bất chợt ở trong lòng của mình là vấn đề khó xử. 
 
 Đức Phật Ngài nói trong kinh Ngài thường khuyên các vị tỳ kheo khi đi chỗ này chỗ kia biết về phong thổ, biết về điạ lý. Đức Phật Ngài nói rằng: 
 
"Này các tỳ kheo chính thân của các con, cái thân nhỏ đó là cả một thế giới và thế giới cần phải được tìm hiểu, nếu các con muốn tìm hiểu thế giới bên ngoài thì cũng nên tìm thế giới bên trong ." ./.

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.