Oct 04, 2022

Biên khảo

Nguồn gốc hình thành và sự phát triển của chữ Quốc ngữ
Nguồn INTERNET * đăng lúc 09:43:38 AM, Mar 18, 2017 * Số lần xem: 1996
Hình ảnh
#1

 http://www.vietdc.org/wp-content/uploads/2011/05/Chu_Quoc-ngu-Hinh-thanhvaNguoiCoCong.pdf

     
  Chữ cái Tiếng Việt hiện nay mà chúng ta đang sử dụng đã có cả một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Trải qua những biến động thăng trầm của thời gian và lịch sử, chữ Quốc ngữ vẫn tồn tại, trở thành biểu tượng của đất nước và dân tộc Việt Nam.

1.      Giai đoạn phôi thai (thế kỉ 16-17)

        Chữ Quốc ngữ hiện nay được coi là công trình sáng tạo của cả một tập thể.

        Bắt đầu từ thế kỷ 16, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ ở châu Âu. Các công ty thương mại mọc lên như nấm sau mưa. Người châu Âu đua nhau vượt đại dương đi tìm vùng đất mới.Các nhà thương mại đi đến đâu thì các nhà truyền giáo theo đến đó. Họ đến Việt Nam vào thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước bị chia ra Đàng Ngoài và Đàng Trong. Muốn giảng đạo, các nhà truyền giáo phải học tiếng bản xứ, vì vậy họ đã dùng chữ La Tinh để ghi lại những cách phát âm của tiếng Việt và giảng nghĩa những chữ đó bằng tiếng của họ. Như vậy chữ Quốc ngữ ban đầu được ra đời nhằm mục đích để truyền đạo.



Người châu Âu đua nhau vượt đại dương đi tìm vùng đất mới.

        Chữ Quốc ngữ được hình thành có lẽ từ năm 1533 khi giáo sĩ phương Tây tên là I-nê-khu đi từ đường biển vào truyền đạo Thiên Chúa ở tỉnh Nam Định. Trước tiên là các giáo sĩ Bồ Đào Nha dòng Phanxico; kế đến là các giáo sĩ Tây Ban Nha dòng Đa Minh rồi dòng Tên. Số văn tịch ghi lại dấu vết loại chữ này càng nhiều, kèm theo những biến đổi hoàn chỉnh với ký hiệu thanh giọng để thêm chính xác. Tên tuổi những giáo sĩ tiên phong đã góp công trong việc hoàn chỉnh lối chữ này gồm có Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa và Francisco de Pina.

Francisco de Pina–người được coi là đã sáng lập ra chữ Quốc ngữ

 

Trên bia có ghi rõ F.Pina là người khai sinh ra chữ Quốc ngữ.

 

        Giáo sĩ Alexandre de Rhodes- người Pháp cũng được coi là người có công trong giai đoạn phôi thai của chữ Quốc ngữ. Có nhiều tranh cãi xung quanh nhân vật giáo sĩ này. Trước đây, người ta cho rằng Alexandre de Rhodeslà người đã biên soạn cuốn từ điển phiên âm Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum vào năm 1651. Nhưng theo một số nghiên cứu có uy tín gần đây đã chỉ ra rằng Alexandre de Rhodes đã đạo công trình của Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa. Ông ta chỉ có công mang những tác phẩm của hai vị giáo sĩ này về Việt Nam.  

Alexandre de Rhodes và bản song ngữ Phép giảng tám ngày

 

Từ điển Việt- Bồ- La

 

Một trang từ điển Việt-Bồ-La 

2.       Giai đoạn cải tiến (thế kỉ 17-18)

-        Trong giai đoạn đầu, chữ Quốc Ngữ còn nhiều khuyết điểm. Những khuyết điểm đó là: chưa có các dấu thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng), viết dính nhau và còn thiếu nhiều nguyên âm. Chẳng hạn như: 

Quanmguya = Quảng Ngãi 
Onsaij = ông sải 
Tuijciam biêt = Tui Chẳng Biết 
Mocaij = một cái 

-        Hồi này chưa có các phụ âm đơn: đ, x, v cho nên những phụ âm này được viết như sau:

dj = đ (đói = doij) 
sc = x, (xin = scin) 
b = v, (vào = bau) 

-        Lại thiếu phụ âm kép: ch, gh, nh, tr; cho nên: 

gn = nh 
cia = ch 

-        Đến năm 1626, chữ Quốc Ngữ đã được viết rời ra. Theo tài liệu viết tay của Francesco Buzomi: 

Thien chu = thiên chũ (thiên chúa) 
ngaọc huan = ngọc hoàng 

-        Đến năm 1632, hệ thống phụ âm, nguyên âm và các dấu thanh đã trở nên hoàn hảo. Dưới đây là một vài chữ từ tài liệu của Amaral: 

Đàng tlaõ = đàng trong, 
Đàng ngoày = đàng ngoài, 
Đđàng tlên = đàng trên 
Nhà thương đây = nhà thượng đài 

       Đến đây ta thấy chữ Quốc Ngữ đã tiến được một bước dài. Đó là có đủ năm dấu thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã và nặng), các nguyên âm, các âm kép và những phụ âm kép.

          Lần chỉnh lí đầu tiên: Từ Điển Béhaine (1772)                  

Một trang tự vị Dictionarium Abamitico Latinum của Pigneau de Béhaine (1773)

          Béhaine và một số người Việt khác đã cộng tác cùng hoàn thành quyển từ điển Annam - Latin. Bộ từ điển này gồm hai phần, phần tra chữ Nôm theo 214 bộ chữ Hán và phần từ điển Nôm - Quốc ngữ - Latin. 

          Những cải tiến trong quyển từ điển này là:

+ Thống nhất các phụ âm đầu

+ Loại bỏ các phụ âm: bl, de, ge, ml, tl và thống nhất các phụ âm cuối

           Ngoài ra vì được sự cộng tác của nhiều người Việt cho nên trong quyển từ điển này có cả trăm câu ca dao, tục ngữ rất có giá trị như: 

+ Sá bao cá chậu chim lồng, 
   Hễ người quân tử có cùng mới nên 

+ Duỗi theo ống thẳng lận theo bầu tròn 

+ Bụng làm dạ chịu 
 

+ Thắp đuốc tìm giàu, giàu chẳng thấy 
   Cầm gươm chém khó, khó theo sau. 

          Lần chỉnh lí thứ hai: Từ Điển Taberd (1832) 

         Taberd


Từ điển Taberd

        Với sự hợp tác của Phan Văn Minh và nhiều người Việt Nam khác, Taberd đã sử dụng và bổ sung quyển từ điển của Béhaine để hoàn tất hai quyển từ điển: Annam-Latin và Latin-Annam. Từ điển này có nhiều từ hơn quyển những quyển từ điển đã làm trước đó. Từ điển Annam-Latin của de Rhodes (1651) có 3772 từ, De Béhaine (1772) có 4843 từ, Taberd (1838) có 4959 từ. Công việc biên soạn phần Nôm, phần Quốc Ngữ và chú thích nghĩa là công việc của một số người Việt Nam. Còn trong việc biên soạn quyển từ điển này, Taberd chỉ chủ trương và phối hợp.

3.      Địa vị chính thức

        Sau hơn 300 năm hình thành và phát triển, chữ Quốc ngữ vẫn chưa được công nhận là văn tự chính thức cho tới khi người Pháp xâm lăng, chiếm lấy Nam Kì vào cuối thế kỉ 19. Ngày 22 tháng 2 năm 1869 Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn ở Nam Kỳ. Nghị định 82 ký ngày 6 Tháng 4, 1878 do Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký cũng đề ra cái mốc hẹn trong bốn năm (tức năm 1882) thì phải chuyển hẳn sang chữ Quốc ngữ.

        Năm 1879, chính quyền Pháp đưa chữ Quốc ngữ vào ngành giáo dục, bắt đầu ở thôn xã Nam Kì phải dạy kiểu chữ này. Ngày 14 tháng 6 năm 1880 nhà chức trách thuộc địa Nam Kì đã ra nghị định giảm hoặc miễn thuế thân và miễn sưu dịch cho thân hào hương lý nếu họ biết chữ Quốc ngữ. Đây là những động thái bước đầu của chính quyền để khuyến khích việc truyền bá chữ Quốc ngữ trong nhân dân.

        Gia Định báo là tờ báo viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên được phát hành. Câu văn mạch lạc, chính tả không khác mấy so với ngữ văn ngày nay.

        Sang thế kỉ 20 chữ Quốc ngữ ngày càng trở nên phổ biến, lan rộng trong các  tầng lớp nhân dân. Chữ Quốc ngữ qua những tác phẩm biên khảo, phóng sự,bình luận, du ký của những Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp chí, cùng một loạt tiểu thuyết và thơ mới của nhóm Tự lực Văn đoàn với tư tưởng mới, phong cách mới đã chứng minh chức năng toàn diện của chữ Quốc ngữ để rồi sau năm 1945 các chính quyền kế thừa đều công nhận lối chữ này.

Một đoạn viết chữ quốc ngữ theo Nguyễn Bạt Tuỵ (1949)

Dịch ra là:

"Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,

Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao.

Giã nhà đeo bức chiến bào,

Thét roi cầu Vị ào ào gió thu."

 

Gia Định báo số đầu tiên

 

Những mẩu quảng cáo đầu tiên trên Gia Định báo

 

Tiếng Dân cũng là một trong những tờ báo đời đầu viết bằng chữ Quốc ngữ

        Chữ Quốc ngữ góp một phần quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Những tác phẩm Hán và Nôm có thể được Quốc ngữ hóa một cách thuận tiện. Nhiều tác phẩm được phát hành rộng rãi, tạo nên những trào lưu và biến động trong làng văn học Việt Nam. Chữ Quốc ngữ cũng là chiến sĩ chiến đấu trên mặt trận chính trị và vận động dân tộc. Nó đã tạo điều kiện cho nền văn học Việt Nam phát triển một cách toàn diện. 

Tác giả: Vân Anh

Nguồn tin: Wikipedia, dactrung,..


*******


Hai bức thư và tập lịch sử nước An Nam

Người Việt Nam sử dụng được chữ quốc ngữ sớm nhất ở thời điểm nào? Thật không dễ có đáp án chính xác cho câu hỏi có vẻ đơn giản này nếu không có những bản văn viết tay của hai người Việt được lưu lại đến ngày nay.

Trang cuối lá thư của Igesico Văn Tín viết ngày 12-9-1659 bằng chữ quốc ngữ - Ảnh tư liệu

Đây được coi là những sản phẩm đầu tiên mà người Việt gieo trồng và thu hoạch được trên cánh đồng quốc ngữ vừa được khai mở...

Hai bức thư

Trong bài viết “Một vài văn kiện bằng quốc âm tàng trữ ở Âu châu” đăng ở tập san Đại Học số 10, tháng 7-1959 tại Sài Gòn, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã viết về việc Viện bảo tàng dòng Tên ở La Mã (Ý) còn giữ được những tư liệu quan trọng. Đó là bức thư và tập lịch sử của Bentô Thiện gửi cho giáo sĩ G. Philippo de Marini đề ngày 25-10-1659 và bức thư của Igesico Văn Tín cũng gửi cho vị giáo sĩ này, đề ngày “mươy hay thánh chính D.C.J. ra đờy một nghìn sáu tram nam muoy chinh” (mười hai tháng chín Đức Chúa Jesus ra đời một nghìn sáu trăm năm mươi chín).

Trong sách Lịch sử chữ quốc ngữ (1620-1659), linh mục Đỗ Quang Chính, S.J. - người tiếp cận nhiều tư liệu gốc cho việc nghiên cứu sự hình thành chữ quốc ngữ ngay tại các bảo tàng và văn khố ở châu Âu - đã chép lại toàn văn các văn bản của Igesico Văn Tín và Bentô Thiện để người đọc có thể thấy chữ quốc ngữ ở thời khởi nguyên được viết thế nào.

Có thể nói những người học và sử dụng chữ quốc ngữ sớm nhất ở nước ta là những tân tòng - người mới theo đạo (Công giáo) - trẻ tuổi và ham học hỏi bởi họ gần gũi, tiếp xúc thường xuyên với các vị giáo sĩ truyền đạo vốn là những người đang sử dụng chữ quốc ngữ buổi đầu. Igesico Văn Tín và Bentô Thiện đều là tân tòng rồi dần trở thành thầy giảng (đạo). Bức thư của Igesico Văn Tín được viết ở vùng Kẻ Vó (Đàng Ngoài/tức miền Bắc). Còn bức thư của Bentô Thiện được viết tại Kẻ Chợ (tức Thăng Long, cũng thuộc Đàng Ngoài).

Bức thư của Igesico Văn Tín gồm hai trang, trang đầu viết trong khổ 17x25cm, có 27 dòng chữ cỡ trung bình, trang hai trong khổ 16x9cm có 11 dòng. Thư của Bentô Thiện cũng gồm hai trang, cỡ chữ nhỏ, viết trong khổ 21x31cm. Cả hai bức thư đều là những lời thăm hỏi, kể về tình hình của những tân tòng, công việc truyền đạo trong vùng cũng như bày tỏ lòng tôn kính, nhớ mong của họ với giáo sĩ Marini.

“Ơn đức Chúa Blờy blả’ caõ cho thầi đờy đờy. Bấi nhieu mlờy tôy chép tháng mươy ĩ Igreja mà thư nầi thi ngài Lễ Bà Thánh Daria cũ õn Thánh Chrisanto tử vì đạo, tôy lại ơn thầi là cha vì thương đến con cũ tôy xin cha chớ quên làm chi. Từ Đức Chúa Jesu ra đờy cho đến rài một nghìn sáu trăm năm mươy chín năm. Bentô Thiên tôy tá nhà Thầi (Ơn đức Chúa Trời trả công cho thầy đời đời. Bấy nhiêu lời tôi chép tháng mười Igreja, mà thư này thì ngày lễ bà thánh Daria cùng ông thánh Chrisanto tử vì đạo. Tôi lạy ơn thầy là cha thì thương đến con cùng. Tôi xin cha chớ quên làm chi. Từ Đức Chúa Jêsu ra đời cho đến rày một nghìn sáu trăm năm mươi chín năm. Bentô Thiện tôi tá nhà thầy) - những câu cuối thư của Bentô Thiện. Và câu cuối thư của Igesico Văn Tín “D. C. Blờy blả’ cõn cho Thài đờy nài và đờy sau (Đức Chúa Trời trả công cho thầy đời này và đời sau). Cả hai cho thấy phần nào cách dùng từ, văn phong và cách viết quốc ngữ ở giai đoạn tiên khởi.

 

Bìa quyển Tự điển An Nam-Bồ Đào Nha-Latin của giáo sĩ Đắc Lộ được in ở La Mã năm 1651 - Ảnh tư liệu

Và tập lịch sử nước An Nam

Ngoài bức thư gửi giáo sĩ G. P. de Marini, thầy giảng Bentô Thiện còn viết một tập Lịch sử nước An Nam (LSNAN) gửi cho vị giáo sĩ này. (Tác giả Bentô Thiện không đặt tên cho tập tư liệu lịch sử của mình, nhưng căn cứ vào nội dung tập tư liệu của ông, linh mục Đỗ Quang Chính đã đặt tên là Lịch sử nước An Nam).

Qua lời trong thư của Bentô Thiện gửi giáo sĩ Marini, rõ là tập LSNAN được Bentô Thiện viết gửi cho giáo sĩ Marini theo đề xuất của vị giáo sĩ này. Căn cứ từ những dữ liệu xác tín, linh mục Đỗ Quang Chính khẳng định tập tư liệu này được Bentô Thiện viết ở khoảng đầu năm hoặc giữa năm 1659. Nhờ đích thân Bentô Thiện viết cho một tư liệu lịch sử, giáo sĩ Marini không chỉ nhắm đến năng lực chữ quốc ngữ mà còn ở vốn kiến thức của người thầy giảng mà giáo sĩ từng biết qua thời gian truyền đạo ở vùng Kẻ Vó.

Với sáu tờ giấy viết chữ cỡ nhỏ ở hai mặt, tức 12 trang, phần nhiều được viết trong khổ 20x29cm, có thể nói tập LSNAN là văn bản quốc ngữ “dài hơi” đầu tiên của người Việt được lưu lại. Nhận thức rằng đây là “công trình” có giá trị với người nước ngoài, mà cụ thể là với vị giáo sĩ mình yêu kính, Bentô Thiện đã viết thành hai bản để gửi đến giáo sĩ Marini qua hai chuyến tàu, mỗi chuyến tàu một bản, để phòng rủi bị thất lạc ở chuyến tàu này thì còn có bản gửi ở chuyến tàu kia. Bản gửi theo chuyến tàu thứ nhất được tác giả ghi ở đầu thư là 1a via, còn bản gửi theo chuyến tàu thứ hai được ghi là 2a via. Và may mắn cho bảo tàng chữ quốc ngữ, cả hai bản sử lược này đều đến tay giáo sĩ Marini, tất cả đều còn được lưu giữ trọn vẹn ở văn khố dòng Tên tại La Mã.

Chỉ với 12 trang viết, LSNAN được viết hết sức đại lược. Tuy vậy những sự kiện chính yếu diễn ra ở các triều đại đều được tác giả kể ra, cả các chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh, Trọng Thủy - Mỵ Châu, Thánh Gióng cũng được ghi lại với những tình tiết hấp dẫn. Ngoài phần lược sử các triều đại, cây bút “viết quốc sử bằng chữ quốc ngữ đầu tiên” này còn dành phần nói về văn hóa: phong tục tập quán, việc hành chính, địa lý, điểm qua một số chùa chiền, nhà thờ...

“Họ nhà Mạc thì trốn lên Cao Bằng hết, còn có ai ở đâu thì Chúa (tức Chúa Trịnh) lại bắt. Nước Annam đã an hết về làm một nhà Lê mà thôi. Còn ông Đoan là cha ông Thụy ở trong Hóa xưa, thì Chúa Tiên đòi ra ở làm tôi, mà ông ấy thấy chúa chẳng yêu đãi cho đủ bao nhiêu, thì ông ấy lại trốn vào ở Quảng, thì Đức Chúa ngờ là về Thanh Hóa; chẳng ngờ ông ấy đã vào Hóa, thì Đức Chúa theo. Song le chẳng theo kịp, thì lại trở ra Kẻ Chợ mà trị cho đến con cháu bây giờ. Rày lại đánh nhau cùng Kẻ Quảng. Song le chửa biết đời trị loạn, thì chửa có tra vào sách” (trích).

Trong thời hoàng kim của chữ Việt - quốc ngữ hôm nay, đọc hai bức thư của hai thầy giảng Igesico Văn Tín và Bentô Thiện, nhất là bản LSNAN, sẽ giúp chúng ta thấy được phần nào tiến trình cùng tài năng, công sức lao nhọc của những người dựng xây ngôi nhà quốc ngữ buổi đầu.

HUỲNH VĂN MỸ - BẢO TRUNG

Hai sách quốc ngữ đầu tiên

Hai sách chữ quốc ngữ đầu tiên được xuất bản là Tự điển An Nam - Bồ Đào Nha - Latin và Phép giảng tám ngày. Được in và xuất bản tại La Mã năm 1651, Tự điển Việt-Bồ-La và Phép giảng tám ngày, theo linh mục Đỗ Quang Chính, được giáo sĩ Đắc Lộ viết ở Áo Môn khoảng từ năm 1637-1645.

Nhận thấy ý nghĩa và giá trị của hai quyển này, Tòa thánh La Mã đã cho phép Bộ Truyền giáo - vốn mới được thành lập từ giữa năm 1622 - in ấn và xuất bản ngay. In ấn sách chữ Việt lần đầu là một việc làm tốn nhiều công sức. Với các thanh điệu mới, cách ghép vần khác hẳn với chữ viết của các nước dùng mẫu tự Latin trong vùng vốn đã quen thuộc, để có thể in được chữ quốc ngữ, xưởng in của Bộ Truyền giáo đã phải đúc khuôn chữ in mới.

Với gần 500 trang, Tự điển Việt-Bồ-La, lúc đầu giáo sĩ Đắc Lộ chỉ soạn bằng hai loại chữ quốc ngữ và Bồ Đào Nha. Về sau, theo ý các vị bề trên ở La Mã, ông soạn thêm phần chữ Latin vào để tiện cho người Việt học tiếng Latin.

Phép giảng tám ngày - công trình về giảng dạy giáo lý - được Đắc Lộ viết bằng hai thứ chữ quốc ngữ - Latin. Theo nhà nghiên cứu Võ Long Tê dẫn theo linh mục Nguyễn Khắc Xuyên, quyển sách nổi danh về truyền dạy giáo lý này được Đắc Lộ biên soạn hay khởi thảo từ những năm 1627-1629.



 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.