Jun 02, 2020

Tùy bút - Bút ký

Nhớ lại bài thơ Tha La xóm đạo
Thanh Khâm * đăng lúc 08:20:27 AM, May 22, 2012 * Số lần xem: 13384
Hình ảnh
#1

Chương 13

Tháng 5 năm 1968..
Tôi có ghé qua Tha La xóm đạo, và ở lại đây mất 6 tuần lễ . . Mục đích dừng chân lâu ngày như vậy, để phụ trách tái lập cây cầu sắt ở Tha La đã bị Việt Cộng phá hoại. Mục đích tái thiết cầu sắt Tha La để góp phần vào công cuộc hành quân bình định và mở rộng an ninh cho khu vực thuộc quận Trảng Bàng, Củ Chi., Hậu Nghĩa... Lúc đó, cũng là lần Tổng công kích đợt 2 của Việt cộng , vào khoảng giữa tháng 5, năm Mậu Thân 1968. Do đó đơn vị tôi rất bận rộn công tác yểm trợ hành quân trong vùng đất này.

Trong những ngày ghé thăm Tha La, làm tôi chợt nhớ lại bài thơ
Tha La Xóm Ðạo của Vũ Anh Khanh. Những phút giây rảnh rỗi ở chốn này, tôi chợt nhớ lại bài thơ Tha La,một bài thơ kỷ niệm của tuổi học trò mà tôi từng ưa thích. Do đó, hôm đặt chân đến vùng đất Tha La, cũng gợi cho tôi nhớ lại bài thơ này. Nên tôi đã đọc đi đọc lại bài thơ với hi vọng để tìm lại những cảm hứng tương tự như tác giả. Tôi đã thuộc lòng bài thơ này từ lâu mà mãi đến hôm nay vẫn còn nhớ. Giờ này có cơ hội ghé qua Tha La, rất lấy làm vui thích, khi nhớ lại kỷ niệm xưa và ngâm nga đọc lại bài thơ này với một cảm giác đầy thi vị .

Khi viết bài kỷ niệm này, tôi xin phép mượn trọn bài thơ của nhà thơ Vũ Anh Khanh,để làm đề tài chính trong câu chuyện hôm nay. Ngày tôi đến Tha La, nơi đó vẫn còn xóm đạo, nhưng có vẻ hơi khác, có lẽ có một chút biến đổi do thời gian và thời cuộc, so với mô tả trong thơ của tác giả , nên trong lòng cũng hoài nghi tự hỏi : -Không biết có phải là Tha La này của Vũ Anh Khanh đã viết trong thơ hay không? Mặc dù tôi có cái cảm nghĩ như nữa nghi nữa thật , nhưng không hiểu sao tự trong lòng vẫn có cảm giác lâng lâng khoan khoái vô hạn , nên tôi cất giọng khe khẽ ngâm nga với đoạn đầu của bài thơ:

Ðây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh....
Ngậm ngùi Tha La bảo:
Ðây rừng xanh, rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng
Khói đùn quanh nóc tranh
Gió đùn quanh mây trắng
Và lửa loạn xây thành..
Viễn khách ơi, người hãy dừng chân cho hỏi
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng

Nhìn hoa rơi lòng khách vẫn bâng khuâng
Tha La hỏi, khách buồn nơi đây vắng
Không tôi buồn vì mây trời đây trắng
Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn
Khách rùn mình nghe gió nổi từng cơn
Gió vun vút gió rợn rùn gió rít
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn
Tiếng địch càng cao não nùng ai oán
Buồn trưa trưa lây lất buồn trưa trưa

( Tha La xóm đạo, thơ Vũ Anh Khanh )

Bài thơ này Vũ Anh Khanh viết rất dài , có 8 đoạn tất cả, tôi sẽ lần lượt nhắc lại một số đoạn tiếp theo sau của bài thơ Tha La xóm đạo này. Trong khi tôi kể lại những sự việc cùng những biến cố đã xảy ra trên vùng đất Tha La, cùng những vùng sát cận Tha La, mà ngày hôm nay, có những chuyện đã đi vào lịch sử liên quan với cuộc chiến Việt Nam.

Nhắc tới Vũ Anh Khanh, tác giả của bài thơ trên đây, khiến tôi nhớ lại bài viết của Xuân Vũ trong một bài báo đã đăng trên tạp chí Phương Ðông ở Boston tiểu bang Massachusetts, vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ,năm 2002, có kể qua về Vũ Anh Khanh, đã đi tập kết ra Bắc, nhưng anh không sống nổi với chế độ Cộng sản Bắc Việt, nên anh bỏ trốn về Nam. Anh vượt sông Bến Hải, nên bị lính Cộng sản Bắc Việt bắn chết, mất tích trên sông Bến Hải.

Giờ này ngồi nhớ lại, trong khi ghi chép những kỷ niệm của một thời đã qua , khiến tôi hình dung lại trong những ngày tôi có dịp ghé qua Tha La. Cũng một phần vì ngày hôm nay, nhơn lúc đọc những tin tức trên mạng có liên hệ với những tin tức thời sự về chất độc da cam, do CSVN đang thưa kiện Chánh phủ Mỹ, trong tháng 6 năm 2007 ở New York, Hoa Kỳ. Tính đến hôm nay cũng đã trải qua gần 40 năm, khi đơn vị tôi từng có dịp sử dụng loại thuốc khai quang trên những vùng đất sát cạnh xóm đạo Tha La năm xưa, như vùng Hố Bò, Bời Lời., Khiêm Hanh, Suối Ông Hùng, Trị Tâm , Ca Tum, Xa Mát .hoặc vùng Trà Cú, Ba Thu, Mõ Vẹt sát cận biên giới Việt Miên .v.. v..

Qua những sự kiện này, khiến tôi liên tưởng đến những ngày mà đơn vị tôi được lệnh tái lập giao thông trên đoạn đường Liên Tỉnh lộ 10, từ ngã ba Tân Mỹ (Ðức Huệ) đến xã An Ninh, Lộc Giang,qua cầu sắt Tha La nối vào Quốc lộ 1,kế cận thị xã Trảng Bàng.Trên đoạn đường này, cầu sắt Tha La là điểm trọng yếu. Cây cầu này đã bị Việt Cộng phá hủy nặng nề . Ðơn vị tôi có nhiệm vụ phải tái lập giao thông trên con đường từ ngã ba Tân Mỹ, Ðức Huệ đi về khu Lộc Giang, Tha La,Trảng Bàng. Ðó là cả một công trình xây dựng để tái thiết rất khó khăn trong khu vực này, do cây cầu sắt Tha La đòi hỏi tốn công sức và vật liệu cũng như thời gian tái thiết. Vì con đường Tỉnh lộ số 10 này, đã trải qua một thời kỳ do Việt Cộng phá hoại theo kiểu tiêu thổ, ngăn sông cấm chợ, như đào đường, đấp mô, gài mìn gài bẫy.. Việt Cộng đã đào bới mặt lộ, gánh đá bỏ đi một nơi khác, con đường không còn nền móng. Nền đường bị đào, bị cắt ngang trông giống hình những phím đàn dương cầm (touch piano ). Do đó việc tái lập rất gian lao và rất là vất vả.

Thêm vào dọc theo khu vực sửa đường, Việt cộng đã gài đầy mìn bẫy, hầm chông lẫn bom đạn chưa nổ hết , đem gài lại... Ðã thế còn có Việt Cộng ẩn núp bắn sẻ, rình mò bắn lén, gây khó khăn cho người tái thiết.

Ðơn vị tôi đã ở lại Tha La mất 6 tuần lễ. Tuy rất gian nan và vất vả, nhưng cũng là một dịp may cho tôi, được nhận thấy tận nơi, để nhớ lại những hình ảnh mà nhà thơ Vũ Anh Khanh đã mô tả về . Tha La xóm đạo

Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù
Người nước Việt ra đi vì nước Việt
Tha La vắng vì Tha La đã biết
Thương giống nòi đau đất nước lầm than
Ngày hiu quạnh, ờ ơ hơ tiếng hát
Buồn như gió lướt
Lạnh dài như khúc nhạc
Tiếng hát rằng
Tha La giận mùa thu
Tha La hận quốc thù
Tha La hờn quốc biến
Tha La buồn tiếng kiếm
Não nùng chưa
Tha La nguyện hi sinh

O ơ hơ có một đám chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh Chúa đám chiên lành run rẩy
Lạy Ðức Thánh Cha
Lạy Ðức Thánh Mẹ
Lạy Ðức Thánh Thần
Chúng con về cõi tục để làm dân
Rồi cởi trả áo tu
Rồi xếp kinh cầu nguyện
Rồi nhẹ bước về trần
Viễn khách ơi người hãy dừng chân
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé

Ðất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vần vũ đám mây tang
Vui gì đâu mà tâm sự
Buồn làm chi cho bẽ bàng
Ơ ơ hơ tiếng hát
Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi
Tha La thương người viễn khách quá đi thôi
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ

Ðây Tha La xóm đạo chốn ven rừng
Có trái ngọt cây lành im bóng lá
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ
Về chi đây khách hỡi có ai chờ
Ai đưa đón ? Xin thưa tôi lạc bước
Không là duyên, không là bèo kiếp trước
Không ai chờ, ai đưa đón tôi đâu
Rồi quạnh hiu khách lặng lẽ cúi đầu
Tìm cánh hoa lạc loài bên vệ cỏ
Ngàn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng

Buồn xưa xưa lây lất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh
Khách rùng mình ngẩn ngơ trời hiu quạnh
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La
Ðây mông mênh xóm đạo với rừng già
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách
Khách bước nhẹ trên con đường đỏ hoạch
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng
Ðang đón mây xa khách bổng ngại ngùng
Kính thưa cụ vì sao Tha La vắng
Cụ ngạo nghễ cười run run râu trắng
Nhẹ bảo chàng em chẳng biết gì ư?

O ơ hơ có một đám chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy..

( Thơ Tha La xóm đạo, Vũ Anh Khanh)
..
Tha La ngày tôi đến thăm, là một làng theo đạo Công giáo. Ðám chiên lành rất nghèo, nhưng vui sống trong những mái nhà tranh đạm bạc. Ðời sống có lúc không yên. Thường khi gánh chịu giữa hai lằn đạn. Súng đạn rất vô tình. Bên kia bờ sông cách một khoảng dài, hướng về khu Ba Thu, cũng là mật khu của Việt Cộng, nằm giáp ranh đất Miên, thuộc khu Mỏ Vẹt. Ðoạn sông Vàm Cỏ Ðông từ Gò Dầu Hạ chảy về, ngang qua xóm đạo Tha La và xã Gia Bình, rồi đến voi đất xã Lộc Giang, rồi đến Ðức Huệ, Trà Cú, Ðức Hòa. Xuyên suốt hai bờ sông vùng này là vùng bom đạn và mìn bẫy dẫy đầy. Thời đó, Tha La không có đêm nào mà không thấy ánh hỏa châu soi sáng. Tha La tuy sát cận thị xã Trảng Bàng, nhưng Tha La vẫn thấy buồn cô đơn... Tha La nằm đó, một xóm đạo với rừng già.. Thị xã Trảng Bàng ở phía Nam, xã Gia Bình ở phía Bắc. Phía Tây giáp tả ngạn sông Vàm Cỏ Ðông, phía Ðông giáp Quốc lộ 1, đi từ Trảng Bàng đến Gò Dầu Hạ. Ngồi trên xe đò có thể nhìn thấy Tha La xóm đạo nằm về phía trái, ẩn khuất sau một bìa rừng chạy dài theo quốc lộ. Xa hơn hướng quốc lộ, về hướng Ðông là mật khu Hố Bò, Bời Lời , mật khu của Việt Cộng,và đồn điền cao su. Cầu sắt Tha La bắt ngang qua con rạch chảy ra sông Vàm Cỏ Ðông. Con rạch này chảy vào, nối liền với kinh Thầy Cai ở Củ Chi, để giúp cho việc dẫn thủy nhập điền, và khai phèn sả mặn, giúp cho các cánh đồng dọc theo kinh Thầy Cai và vùng Ðức Lập,Bàu Trai,Tân Mỹ,Ðức Huệ..

Những ngày tạm trú ở Tha La, ngoài công việc chính là tái lập giao thông trên Liên tỉnh lộ 10, đơn vị tôi còn làm những công tác dân sự vụ. Như anh em trong đơn vị có đạo Công Giáo vào giúp nhà thờ sở tại, sửa chữa trạm y tế, sửa chữa các bàn ghế học trò của trường học tại xã Tha La. Gửi biếu thực phẩm thuốc men cho đồng bào thiếu thốn. Trong khu vực này hoặc các khu kế cận với Tha La, đơn vị thường đóng góp công sức để làm những công việc lợi ích cho đồng bào sở tại.

Thời đó, các đơn vị Công binh Hoa Kỳ, như Tiểu đoàn 65 Công binh Hoa Kỳ thuộc Sư đoàn 25 Bộ binh Hoa kỳ, đóng tại căn cứ Củ Chi, thường hay làm những công tác dân sự vụ, giúp cho các quận các xã và các ấp, khi dân chúng địa phương cần đến. Trong thời gian đơn vị tôi , Tiểu Ðoàn 25 Công Binh Sư Ðoàn trực thuộc Sư đoàn 25 Bộ Binh VNCH và Tiểu đoàn 65 Công Binh Hoa Kỳ giúp cho công việc hành quân bình định tỉnh Hậu Nghĩa,lúc đó có Ðại tá Mã sanh Nhơn là tỉnh trưởng Tỉnh Hậu Nghĩa, tỉnh này gồm có 4 quận như Ðức Hòa, Ðức Huệ, Củ Chi và Trảng Bàng.

Ngoài ra, trong thời gian ở Tha La, đơn vị tôi cũng đã phối hợp với Tiểu đoàn 65 Công binh Hoa Kỳ hành quân khai hoang, vùng Hố Bò, Bời Lời, Chà Rầy, Khiêm Hanh, và Trị Tâm. Việc khai hoang thường dùng xe ủi đất loại“Rome Plow”. Nhờ thời gian khai hoang này mà các đơn vị hành quân đã tìm ra các đường hầm, địa đạo của Cộng sản trong vùng hành quân khai quang. Mà về sau này Cộng sản đem ra khoe với cái tên là Ðịa đạo Củ Chi !

Tôi chưa có dịp xem qua địa đạo Củ Chi do người Cộng Sản Việt Nam trình diễn sau ngày 30/4/75. Tôi tự nghĩ cái huyền thoại về hang động Củ Chi , CSVN chắc hẳn phải cải trang, phải vẽ vời, tô son trét phấn cho ra vẻ có hào quang, để tuyên truyền về người du kích Cộng sản có tinh thần cao trong chiến đấu. Ðồng thời cũng để đề cao cái đất Củ Chi là tường đồng vách sắt ? Như vậy để đánh bóng cái địa đạo, hầu lôi cuốn dễ gạt du khách đến xem Mục đích để quảng cáo cái hào quang chiến đấu “ Chống Mỹ cứu nước” của người du kích CSVN ở Củ Chi.?

Riêng tôi là người từng chứng kiến tận chỗ, tận nơi tại vùng Hố Bò, Bời Lời, Khiêm Hanh,Chà Rầy, Suối Ông Hùng, Trị Tâm, Phú Hòa Ðông, Paris Tân Qui., Ðức Hòa, Ðức Huệ.. v v.... Lần ấy đơn vị Hoa Kỳ đã tìm ra một số địa đạo gần sát trung tâm huấn luyện Trung Lập và khu Chà Rầy nằm phía Bắc Củ Chi... Trong suốt thời gian hành quân khai hoang, các địa đạo bị phát hiện do đơn vị tôi và đơn vị Mỹ đã tìm thấy. Có những đường hầm dài, cũng có tổ chức , có nơi chứa lương thực, máy móc, tuy thế cũng chẳng có gì gọi là qui mô to tát đáng kể, đáng nói.. Tương tự như các loại hang ổ, rất thô sơ vì đào bằng tay, và đào lén lút để ngụy trang, che giấu, để tránh phát hiện. Dĩ nhiên , chắc chắn làm sao đẹp như loại đường hầm được tái tạo với tư tưởng của kẻ tự cho là chiến thắng để trình diễn ? Nếu đem so sánh các đường hầm và hang động của Bin Laden ở Tora Bora, Afghanistan, thì địa đạo Củ Chi có thấm vào đâu?
Sau này, tôi có những người bạn người Mỹ đã từng phục vụ đơn vị Công binh Hoa Kỳ, có thời gian từng trú đóng tại Củ Chi và Trị Tâm năm 1968- 1969. Họ đã từng khám phá thấy qua tận mắt trước đây những địa đạo của du kích Cộng sản ở trong vùng Củ Chi, Hố Bò, Bời Lời., Chà Rầy .v.. v. Về sau này vào năm 1986,họ có trở lại thăm Việt Nam ,như khách du lịch. Họ đã có đi xem qua địa đạo Củ Chi,. để biết và so sánh với sự thật năm xưa mà họ đã có dịp tận mắt khám phá ra sao!
.Khi trở về Mỹ , tôi có gặp hai anh cùng làm chung một sở làm ở hãng Boston Scientific Corporation ở Quincy và Boston thuộc tiểu bang Massachusetts với tôi. Trong khi trao đổi qua câu chuyện về Việt Nam , anh ta có khoe là có đi xem qua địa đạo ở Củ Chi, trong chuyến du lịch Việt Nam. Tôi có hỏi :- anh có ý nghĩ và cảm tưởng gì sau khi xem ở nơi đó ? Hai anh chỉ mỉm cười và nhún vai ,có vẻ chê bai hơn là khen tặng. Vì nó không thật., như hai anh đã từng thấy trước đây, trong thời gian đơn vị của hai anh từng tham chiến trên các vùng đất Củ Chi. Hai anh còn trả lời tôi một cách khôi hài:- Thật ra Củ Chi mà đã anh xem qua ,cũng như là Không Có Chi. Anh nói tiếng Việt rất rành như người Việt , rất vui tính và hay thích pha trò...
.
Những ngày tôi ở Tha La là những ngày tham gia hành quân phối hợp với đơn vị Công binh Hoa Kỳ trong vùng này. Vì thời đó đơn vị tôi được Tiểu đoàn 65 Công binh Hoa Kỳ huấn luyện thực tập tại chỗ, tức huấn luyện tại nơi hành quân (OJT - On Job Training ). Nhờ những dịp này ,tôi có cơ hội ghé qua Tha La và nghe thấy những gì xảy ra trong khu vực trách nhiệm của các đơn vị hành quân phối hợp với các đơn vị Việt Mỹ.

Hồi tưởng lại những ngày qua, liên tưởng với những gì đã xảy ra trong vùng sát cận Tha La. Thực hư và hư thật của con người tạo ra, biết sao mà đo lường lòng dạ con người. trong cuộc chiến và sau cuộc chiến. Nhất là về phía của Việt Cộng đã tự biên tự diễn những trò ma giáo, do đầu óc công thần ngạo mạn của con người, tự xưng mình là kẻ chiến thắng, nhưng thực chất chỉ là thời cơ? Xét ra cũng chẳng có gì gọi là mưu trí sáng tạo ,là tài tình, nói theo kiểu khoa học kỹ thuật.của Cộng sản cả. Còn những cái đã có đem ra trình diễn, chỉ là trò ảo thuật, do những tiểu xảo mánh khóe của kẻ thất phu, để gạt gẫm đánh lừa thiên hạ mà thôi. Nhưng những người biết rõ sự thật , khi xem qua họ chỉ mỉm cười.bỏ đi mà thôi.

Nhân cơ hội này, nghĩ ra cũng nên nhắc lại những ngày tháng hành quân trong khu vực sát cận Tha La, tôi cũng có dịp biết qua việc sử dụng chất hóa học để khai hoang (Orange Agent ) mà CSVN dịch ra gọi là chất dộc hóa học màu da cam. Do tư tưởng lệch lạc, nên CSVN dịch hai chữ Orange Agent theo dã tâm để kết án chứ không đúng nghĩa của chữ. Vì đơn vị tôi cũng có dịp từng sử dụng qua hóa chất này, trong công tác khai quang, khi hành quân trong khu vực Phú Hòa Ðông và Paris Tân Qui, Ðức Hòa, Trà Cú, Ðức Huệ, Ba Thu, Trị Tâm .. v.. v

Ngày xưa đơn vị tôi từng sử dụng thuốc khai quang, là loại thuốc bột thường được chứa trong loại thùng phuy 55 gallons, gần tượng đương 200 lít. . Khi đơn vị tôi đem sử dụng thuốc khai quang , phải pha trộn với dầu hôi , có nơi gọi là dầu lửa, hoặc dùng dầu cặn , dầu diesel. Ngày xưa chúng tôi trộn với tỷ lệ, 1 kílô thuốc bột khai quang với 1 can (Jerrican ) loại thùng 20 lít, chứa dầu hôi hay dầu cặn. Sau khi pha trộn đều,cho vào bình xịt bằng tay , giống như loại bình xịt thuốc diệt muỗi.. Chúng tôi xủ dụng hóa chất này như một loại thuốc diệt cỏ (herbicide ) Khi thi hành công tác này phải có bao tay và khẩu trang bảo vệ an toàn .Mục đích sử dụng làm cho cây cỏ mất đi chất xanh , chất diệp lục tố trong lá, sẽ bị khô héo đi , và đổi màu ,sau đó 72 giờ, dùng lửa đốt cho cháy. Về hiệu quả diệt cỏ ,chỉ sau một mùa mưa, cây cỏ sẽ xanh lại, và chất độc dioxin trong thuốc khai quang cũng tan biến dần đi, do nước mưa của một mùa rửa sạch, vì tỷ lệ dioxin chỉ có 1/100 trong thuốc khai quang không nhiều, như kết quả do phân tích khoa học đã chứng minh..

Ðối với những vùng rừng cây cao to lớn, hay vùng cỏ rậm rạp, mà việc sử dụng bình xịt tay, không thỏa mãn nổi yêu cầu, thường phải dùng máy bay đi rải thuốc khai quang. Như tôi thường thấy đơn vị khai quang của Mỹ ở Củ Chi , đã dùng máy bay loại C123 hoặc C130 đi rải thuốc khai quang. Sau thời gian rải thuốc khai quang 72 giờ, thường dùng xăng đặc pha chế để đốt cháy. Thường dùng cách tắm lửa (Flame bath ) hoặc bom Napalm đốt cháy . Dùng Flame bath tôi thấy nhiều hơn là dùng bom Napalm, Mỗi lần đi ném Flame bath . thường dùng 30 thùng phuy loại 55 gallons,chứa đầy chất Thickerner - M1 ( xăng đặc ) pha với dầu lửa hoặc đầu cặn hoặc dầu Diesel.. Mỗi thùng đều có gắn một ngòi nổ (VT fuse = Variable Time fuse ) có bộ phận điều chỉnh thời nổ, khi sử dụng phải điều chỉnh thời nổ trước với việc xác định độ cao , tức còn cách mặt đất từ 100 feet đến 150 feet, mới cho nổ . Mục đích làm cho tung tóe chất xăng dầu đã pha chế đổ ra, trải khắp trên vùng khai hoang, đồng thời cũng đốt cháy lan rộng ra luôn khu vực đã rải thuốc khai quang trước đó 72 giờ. Tại Củ Chi, phần lớn do máy bay C130 đảm trách công việc này, đã bay vào vùng đã rải thuốc khai quang, ném Flame Bath và đốt cháy. Ðó là trường hợp những vùng rừng chồi cây nhỏ và cỏ tranh, cỏ đế, hay lau, sậy... v .. v..

Nếu rừng rậm có nhiều cây to, dùng thuốc khai quang không có kết quả tốt, thường đem sử dụng xe ủi loại Rome Plow. Loại xe ủi đất gắn lưỡi xẻng như lưỡi cày để cắt những cây to. Khi ủi quang xong chờ một thời cây khô héo. Sau đó phải dùng Flame bath để đốt cháy. Xe Rome Plow là một loại xe ủi đất loại lớn (Bulldozer của hãng Caterpillar là loại D7 hay của hãng Allis Chalmers loại HD16) được biến cải bằng cách thay lưỡi xẻng ,hình giống lưỡi cày kiểu La Mã (Rome Plow Blade ) để ủi cắt các cây to ở những vùng rừng rậm . Thân xe ủi còn được trang bị thêm khung sắt bao che buồng máy và buồng tài xế. Mục đích tránh nguy hiểm cho tài xế, và hư hỏng xe, khi cây cối bị ủi ngã đập vào xe...

Công tác khai quang (Defoliation )hoặc (Land Clearing )õ trong vùng Hố Bò, Bời Lời , Chà Rầy, Khiêm Hanh,Trị Tâm do Công Binh Hoa Kỳ đảm trách. Họ có một Ðại đội chuyên về khai quang (Land Clearing Company ) có đầy đủ phương tiện tối tân hiện đại. Khi khai quang trong rừng rậm có trực thăng (LOH ) hướng dẫn và trực thăng võ trang Cobra bảo vệ, cùng với lực lượng Bộ binh và Thiết giáp yểm trợ sát cận

.Về phía VNCH, có Liên Ðoàn 30 Công Binh Chiến đấu (Combat Engineer Group) đồn trú tại Hốc Môn, cũng có Ðại đội 318 Khai Quang, được trang bị xe ủi đất loại Rome Plow ờ do Hoa kỳ giao lại trong thời kỳ Việt Nam hóa chiến tranh. Ðã từng khai quang vùng Thiên Ngôn , Xa Mát, Ca Tum, Tây Ninh. Nhưng không có đủ phương tiên hiện đại như dùng trực thăng để hướng dẫn lúc làm công tác ủi quang, như đơn vị Mỹ từng làm ở Hố Bò, Bời Lời, Củ Chi

Các đơn vị khai quang dùng thuốc khai quang không riêng gì Agent Orange mà còn có loại như Agent Purple , màu tím,, Agent White, màu trắng, Agent Green, màu xanh v.. v.. Thường được phân phối ra đơn vị sử dụng, chứa trong thùng phuy 55 gallons, bên ngoài thùng sơn màu khác nhau tùy theo mỗi loại để. dành cho các chuyên viên phân biệt khi sử dụng.
Căn cứ vào tài liệu khoa học, theo Tiến sĩ Mai Thanh Chuyết , tiến sĩ Hóa học ở Ðại học Besancon, Pháp, đã cho biết khi trả lời trong cuộc phỏng vấn của Trường Giang:
ờ Cho đến nay nhiều người vẫn lầm lẫn dioxin là Chất Ðộc Màu Da Cam Tôi xin thưa, cụ thể là dioxin có thành phần hóa học là 2, 3, 7, 8 tetrachlorodibenzo - para - dioxin, hay gọi chung là 2, 3, 7, 8, TCDD . Trong thời gian chiến tranh từ năm 1962 đến 1971, người Mỹ đã phun xịt những Chất Ðộc Màu Da Cam và một số chất khác.

Trong chất độc màu da cam đó, nó gồm có hỗn hợp 50% của 2 loại hóa chất sau đây 2, 4-D hay là dichlorophenoxy - acetic và 2, 4. 5-T là trichlorophenơxyacetic. Trong quá trình sản xuất chất 2, 4, 5-T, đó là một chất thuốc diệt cỏ dại đã sử dụng ở Hoa Kỳ, trong quá trình sản xuất , dioxin là một phế phẩm và cái hàm lượng của dioxin chỉ là 1/100 trong cái quá trình sản xuất đó. ( Trích theo bài phỏng vấn Tiến Sĩ Hóa Học Mai Thanh Chuyết, của Trường Giang, tuesday, 17 September, 2002, ở Chương 39 , trang 381, quyển Câu Chuyện Da Cam/ Dioxin Việt Nam , xuất bản do Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam (VAST ).

Theo kinh nghiệm sử dụng, tất cả những chất hóa học khai quang đều có đặc tính chung là diệt chất diệp lục tố trong lá cây hay cỏ, bị khô héo đi, sau khi xịt thuốc khai quang vài ba ngày. Theo tôi được biết qua căn cứ vào các tài liệu khoa học kỹ thuật , sách vở và báo chí, khi nói về độc tố dioxin, không phải chỉ có thuốc khai quang mới có nhiều Dioxin như thế, mà còn có trong các môi trường khác, như cháy rừng , mùi khói xăng dầu , mùi khói thuốc lá, đốt củi, đốt than cũng có Dioxin .Kể cả trong thịt cá, sửa cũng vẫn có dioxin. Các loại thuốc trừ sâu xủ dụng trong nông nghiệp cũng có dioxin., như DDT và PCB.( Polychlorynatic byphenil ) Như đã tìm thấy có dioxin trong kỹ nghệ sản xuất ximăng, cụ thể như trường hợp nhà máy ximăng Hà Tiên đã phóng thích ra trên 30 tấn PCB, hiện chưa biết xử lý thế nào ( theo Câu chuyện Da Cam/ Dioxin Việt Nam, trang 383, xuất bản do VAST.)

Cũng do đọc tin tức trên mạng, nhân khi đọc tin CSVN đòi tiền thiệt hại cho các nạn nhân cho là bị nhiễm Dioxin gây bệnh do thuốc khai quang của Mỹ cách đây gần 40 năm, để bắt chẹt phía Mỹ trách nhiệm về hâu quả của thuốc khai quang có độc tố dioxin gây ra.Còn về tác hại do Dioxin của các loại thuốc trừ sâu mà CSVN đã sử dụng trong nông nghiệp sau thời gian chiến tranh thì không kể vào ? Hoặc những thực phẩm hoặc trái cây nhập từ Trung Quốc. ? Khi đọc tin về một nhà khoa học CSVN ,như theo tin báo Lao Ðộng tại Việt Nam viết. Tiến sĩ Nguyễn quốc Tuấn, trưởng phòng Môi Trường Bộ Khoa học -Công nghệ của CSVN, cho biết cam trồng ở tỉnh Hà Giang , Bắc Việt Nam,cũng có chứa chất 2,4-D, và trái cây nhập từ Trung Quốc cũng có chất 2,4-D và thêm chất 2,4,5-T, như vậy ở đâu cũng có chất dioxin bám vào..

Còn báo Thanh Niên cũng tại Việt Nam, lại đăng bài giải thích của Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm lại đính chính , rất buồn cười, khi nói chỉ có chất 2,4-D chứ không có chất 2,4, 5-T, ngụ ý bảo là không có chất 2,4,5-T là không có dioxin ? Báo Thanh Niên ở Việt Nam không phân biệt rõ ràng,về vấn đề này ( Theo tài liệu về Orange Agent trong http:// www. người viet . online. com )

.Như vậy, dù trái cây ở Bắc Việt Nam hay nhập từ Trung Quốc đều có phải do nhiễm chất thuốc khai quang đem phun rải tại miền Nam do quân đội Mỹ xủ dụng cách đây hơn 40 năm hay không? Không chỉ riêng miền Nam Việt Nam mới có chất dioxin do thuốc khai quang? Vì thực tế ở đâu cũng có dioxin , chú không riêng gì ở miền Nam Việt Nam mới có? Làm sao phân biệt dioxin nào do chất khai quang của Mỹ rải ? Vì thời gian phun xịt thuốc khai quang của Mỹ tính đến nay đã gần 40 năm qua. Khó mà hiểu được xuất xứ chất dioxin này do lòng dạ con người ?

Trên thực tế, CSVN không có một việc làm nào hay hành động nào mà không lồng vấn đề chánh trị vào. để tuyên truyền hoặc bắt chẹt nhau? Tại sao CSVN không nêu lên vấn đề để xin cứu trợ nhân đạo cho các nạn nhân bị nhiễm dioxin, hơn là đi thưa kiện ồn ào như thế? Chưa chắc đã thắng kiện, vì sự thật chứng minh về tác hại của dioxin không rõ ràng xuất xứ.Nhưng trường hợp thuốc khai quang mà tôi có dịp sử dụng qua ,cũng như đã thấy sử dụng trong những ngày tháng hành quân trên vùng đất ở Củ Chi Trảng Bàng ,Tha La, trong cuộc chiến tại Việt Nam , theo tôi biết chỉ hoặc 2 hoặc 3 mùa mưa là dioxin đã rửa sạch và cỏ dại vẫn lên xanh như lúc chưa xịt thuốc..

Ðiều này cũng chứng minh theo suy luận của các khoa học gia, chẳng hạn theo TS Mai Thanh Chuyết đã cho biết :

ờ Tôi nghĩ với hàm lượng dioxin trên trong môi trường Việt Nam trong thời kỳ đó cho đến hôm nay, nó không còn tác dụng gì. Thêm nữa, cái thời gian bán hủy của dioxin là khoảng từ 7 năm tới 10 năm. Kể từ năm 70 tới bây giờ, suốt hơn 30 năm, tôi nghĩ sự hiện diện của dioxin trong đất chỉ là huyền thoại. Tôi nghĩ thực chất của vấn đề này, nó nằm trên lãnh vực chính trị nhiều hơn là khoa học.( Trích câu trả lời phỏng vấn của TS Mai Thanh Truyết, trong cuộc phỏng vấn do Trường Giang, ngày 17 tháng 9 năm 2002, trang 383 và 384, chương 39, sách Câu Chuyện Da Cam/ Dioxin Việt Nam, xuất bản do VAST, năm 2008 )

Chuyện tuy cũ, chuyện đã trải qua gần non nữa thế kỷ, mà hôm nay vẫn còn âm ỷ trong lòng dạ con người, để làm rầm rộ lên do sự sách động do tâm địa gian xảo của con người. Khó mà lường kết quả của sự việc như vậy..

Cũng vì đó, mà tâm trạng của tôi khi đọc bài nói về thuốc khai quang và sách Câu Chuyện Da Cam/ Dioxin Việt Nam, làm tôi nhớ đến Tha La. Khiến tôi hồi tưởng những ngày gian khổ đã qua trên vùng đất này. Ðặc biệt trên vùng đất Củ Chi, Hố Bò, Bời Lời,Trị Tâm, Suối Ðá, Thiện Ngôn, KaTum, Xa Mát và Tống Lê Chân.. v.. v .. Những địa danh đó đã thu gọn vào đời lính của tôi bằng những ngày tôi ghé qua vùng đất Tha La, làm tôi liên tưởng đến một quá khứ đầy vinh nhục trong cuộc đời. Ôi bao hình ảnh ngày xưa, giờ này như diễn lại trong tâm trí tôi. khiến tôi vẫn còn nhớ từng nơi từng chỗ mà tôi đã đi qua.Dù đến nay đã quá lâu, nhưng vẫn làm tôi nhớ lại những kỷ niệm đó cũng gần 40 năm qua, vẫn chưa phai mờ mỗi khi nhắc lại vùng đất Tha La

Tất cả một chuỗi dài hồi tưởng về những ngày đã qua trong đời lính. Trong đó có hình ảnh của vùng đất Tha La , Trảng Bàng Củ Chi, Hố Bò, Bời Lời.. Tất cả là những kỷ niệm buồn đã đi vào đời. Ðời của con người từng gánh chịu gian khổ và chứng kiến biết bao chuyện xuyên suốt 20 năm đời lính. Rồi kế tiếp 10 năm do đời tù, bị CSVN giam giữ tại các trại cải tạo tập trung trên rừng rú của đất Bắc Việt Nam. May mắn. còn sống sót. ra tù , sống tiếp đến đời lưu vong xa xứ, cùng với những ngày đầy trăn trở, bùi ngùi nơi xứ lạ quê người.

Mọi chuyện tưởng đâu đã đi vào quên lãng, vì những nỗi đau của quá khứ đầy đen tối bất hạnh đó. Nay nhơn lúc đọc những bản tin thời sự, sách báo , khiến tôi nhớ lại quá khứ của một thời , cũng là một hội chứng dai dẳng, khiến tôi nhớ lại những hình ảnh trên vùng đất Tha La đầy tang tóc và máu lửa của cuộc chiến năm xưa.Như vậy nỗi nhớ vẫn chưa nguôi ,vì cơn đau chưa dứt.?

Kể từ ngày cởi bỏ áo lính do thời cuộc gây nên , tôi không có dịp về thăm Tha La và thăm lại Trảng Bàng, để có dịp thưởng thức những món ăn đầy hương vị của vùng đất này, như bánh canh và cháo lòng Trảng Bàng.. mà tôi có dịp thưởng thức qua trong những ngày tôi đến với Tha La. Cũng để nhớ lại những kỷ niệm trong thời kỳ chiến tranh tàn khốc trên quê hương do Việt Cộng gây ra..

Giờ viết ghi lại những ngày tháng mà tôi đã ghé qua Tha La, bỗng dưng những hình ảnh năm xưa như gợi về . Ngẫm nghĩ lại trong cuộc đời con người thường sống bằng những nguyện ước cho tương lai khi còn trẻ tuổi, nhưng lúc về già, thường sống bằng những kỷ niệm. Như những kỷ niệm của thời trai trẻ, đôi khi cũng làm nhớ lại những hình ảnh của một thời, làm tâm tư mình rung động hoặc xao xuyến, trước những hư thực của cuộc đời đầy man trá và lừa đảo, do bản chất hung bạo của con người.. Những cảnh tượng, những hình ảnh đã xảy ra năm xưa trên vùng đất Tha La, giờ này nhớ lại thấy lòng quá xót xa như dao cắt và quá ngậm ngùi, ray rứt, như những lời thơ của bài thơ Tha La Xóm Ðạo :

Ðất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vần vũ đám mây tang
Vui gì đâu mà tâm sự
Buồn làm chi cho bẽ bàng..
Ò ơ hơ tiếng hát

Lá vàng cao, vàng rụng lá rừng bay
Giờ khách đi Tha La nhắn câu này
Khi hết giặc khách hãy về thăm khách nhé
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tha La dâng ngàn hoa gạo
Về suối mát rừng xanh
Thăm đám chiên lành thương áo trắng
Nghe trời nổi gió nhớ quanh quanh
( Tha La xóm đạo, thơ Vũ Anh Khanh )

Nhà thơ Vũ Anh Khanh đã một lần ra đi, rồi đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại với Tha La. Riêng viễn khách cũng đã từ giã vùng đất năm xưa để ra đi . Dù đã hết giặc, nhưng vì lòng người vẫn còn ngăn cách, nên khách không thể về thăm Tha La sớm đạo năm xưa được. Ðành xin hẹn lại, sẽ về thăm Tha La khi một ngày nào đó quê hương sớm có được thật sự hài hòa giữa con người với con người. Con người biết thương con người. Không còn cảnh con người hành hạ đánh đập con người do lừa dối nhau.để thống trị. Không biết đến bao giờ quê hương mình mới chấm dứt cảnh bạo tàn này ? Hi vọng khi đó khách sẽ về thăm Tha La và Trảng Bàng.như ngày nào./

Austin, mùa hè 2007
Thanh Khâm

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.
Thông tin thêm:
Thuydaonguyen Jan 09, 2012
Vũ Anh Khanh tên thật là Võ Văn Khanh [1] (1926-1956); là nhà thơ, nhà văn Việt Nam thời kháng Pháp. Ông sinh tại Mũi Né (trước thuộc quận Hải Long, nay thuộc thành phố Phan Thiết), tỉnh Bình Thuận.

Không rõ thân thế, chỉ biết trước năm 1945, ông vào ở Sài Gòn và làm báo, viết văn. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19 tháng 12 năm 1946), ông cùng hoạt động với Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà...trong nhóm văn học yêu nước ở Sài Gòn.

Năm 1950, bị nhà cầm quyền Sài Gòn lùng bắt, ông và một bạn bè trốn thoát ra chiến khu. Năm 1945, ông tập kết ra miền Bắc, rồi mất tại Quảng Trị năm 1956, lúc mới 30 tuổi [2].

Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông phần lớn được in trong năm 1949 tại Sài Gòn, với số lượng phát hành chiếm kỷ lục trong số ấn phẩm thời đó, gồm:
*Truyện dài:
-Cây ná trắc (Nxb. Tân Việt, Sài Gòn, 1947)
-Nửa bồ xương khô (2 tập, Nxb. Tân Việt Nam, Sài Gòn, 1949)
-Bạc xỉu lìn (Nxb. Tiếng chuông, Sài Gòn, 1949)

*Tập truyện ngắn:
-Sông máu (Nxb. Tiếng chuông, Sài Gòn, 1949)
-Đầm Ô Rô (Nxb. Tiếng chuông, Sài Gòn, 1949)
-Bên kia sông (Nxb. Tân Việt Nam, Sài Gòn, 1949, 1949)
-Ngũ Tử Tư (Nxb. Tân Việt Nam, Sài Gòn, 1949)

Ngoài ra, ông còn sáng tác thơ, nổi bật có bài "Chiến sĩ hành", "Tha La xóm đạo",...

Nhìn chung, các tác phẩm trên đều là những bức tranh bi thiết nhưng hào hùng của người dân Nam Bộ, trên những chặn đường lịch sử chống Pháp gay go. Vì vậy, chúng có giá trị tiêu biểu cho dòng văn chương thời kỳ kháng Pháp ở Nam Bộ. Nhưng, dường như nhiều người chỉ nhớ đến Vũ Anh Khanh với bài thơ Tha La xóm đạo.

Vũ Anh Khanh viết bài thơ Tha La xóm đạo vào năm 1950, sau ngày ông đến thăm Tha La. Đây là một xứ đạo Thiên Chúa đã có từ lâu đời, nay thuộc xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Bài thơ là một câu chuyện kể về xóm đạo Tha La trong thời khói lửa chiến tranh. Lời thơ dung dị, gần gũi. Nhịp điệu của bài thơ nhẹ nhàng như lời tâm tình, đã lay động tâm hồn của biết bao người. "Tha La xóm đạo" đã được nhạc sĩ Dũng Chinh, cũng là người Phan Thiết, phổ nhạc vào năm 1964. Sau đó một năm, nhạc sĩ Sơn Thảo phổ thành bài hát mang tên "Hận Tha La", và cũng trong năm này nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành ca khúc mang tên "Vĩnh Biệt Tha La". Ngoài ra, soạn giả cải lương Viễn Châu cũng đã phỏng theo ý tưởng của Vũ Anh Khanh để viết ca khúc tân cổ giao duyên "Tha La xóm đạo"

[1] Ghi theo Lê Ngọc Trác, bài viết trên website Hội nhà văn TP. HCM. Nguyễn Q. Thắng (Từ điển văn học, bộ mới, tr. 2017) ghi tên thật của Vũ Anh Khanh là Nguyễn Năm.

[2]Nhà văn Xuân Vũ trong bài viết “Người chết không mồ”, đăng trên Văn Hóa Việt Nam số 14 năm 2001, cho biết Vũ Anh Khanh nhân kỳ nghỉ phép, đã sửa thông hành từ Vĩnh Phúc thành Vĩnh Linh, để vào Quảng Trị vượt biên vào Nam. Ông bơi qua đoạn sông Bến Hải, phía trên thượng nguồn cầu Hiền Lương chừng vài cây số, thì bị bộ đội biên phòng bờ Bắc bắn chết bằng tên tẩm thuốc độc để không bị ai phát giác. Xác của người bạc mệnh được kéo lên vùi dập đâu đó trong khu phi quân sự. Ông Võ Hồng Cương, Cục phó Cục Tuyên Huấn quân đội nhân dân Việt Nam, cũng kể tương tự [http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/read-poems-on-xmas-eve-12242011131439.html]
Tha La Xóm Đạo
Minh Son Le Jul 12, 2010
Mến chào hai tác giả THANH KHÂM và THANH HOÀNG;

Là người quê Trãng Bàng nhưng thuộc thế hệ sau các anh, đọc qua hai bài viết này lòng thấy dạt dào cảm xúc và thật gần gũi. Gĩưa quê hương hôm nay Tình Người đã Sa Mạc Hóa... bởi vì sao chúng ta ai cũng hiểu... để rồi buồn!
Còn mõt bài thơ cũng viết về THA LA XÓM ĐẠO, kể lại một câu chuyện tình thời binh lửa đã đi vào thi ca. Xin được mượn trang này để gửi đến những ai còn thương về một vùng quê đất Trãng.
MINH SƠN LÊ

HOA TRẮNG THÔI CÀI TRÊN ÁO TÍM
Thơ: Kiên Giang

Lâu quá không về thăm xóm đạo
từ ngày binh lửa cháy quê hương
khói bom che lấp vùng quê mẹ
che cả người thương nóc giáo đường

Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh.
Quen biết nhau qua tình lối xóm
cổng trường đối diện ngó lầu chuông
mỗi lần Chúa nhật em xem lễ
anh học bài ôn trước cổng trường.
Thuở ấy anh hiền và nhát quá!
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
để nghe khe khẽ lời em nguyện
thơ thẩn chờ em trước giáo đường.
Mỗi lần tan lễ chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng chung một lối về
E lệ… em cầu kinh nho nhỏ…
thẹn thùng… anh đứng lại không đi…

Sau mười năm lẻ anh thôi học
nức nở chuông trường buổi biệt ly
rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
tiễn nàng áo tím bước vu quy.
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
chiếc áo tang chôn mái tóc sầu
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
giữ làm chi kỷ vật ban đầu.
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông…
vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
nên tình thơ ủ kín trong lòng.

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
giữ màu áo tím, cành hoa trắng
giữ cả trường xưa, nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây gác súng,
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh gom gạch nát xây tường lũy
chiếm lại lầu chuông, giết kẻ thù.

Nhưng rồi người bạn đồng sông ấy,
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ chiều hôm em nức nở…
tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ.
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nếp áo quan tài
điểm tô công trận bằng hoa trắng
hoa tuổi học trò mãi thắm tươi.

Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ đổ khóc người ngàn thu
từ đây tóc rủ khăn sô
em cài hoa trắng lên mồ người xưa…

Minh Sơn Lê (ghi lại)
Cám ơn THANH KHÂM.
thanh hoàng Jul 07, 2010
Đang đọc mà tâm hồn cứ trào dâng niềm cảm xúc.Đọc xong một đoạn lời dẫn giãi cuả Thanh Khâm và tiếp đọc một đoạn của bài thơ "THA LA XÓM ĐẠO",tâm hồn tôi xao xuyến và rung động vô cùng !!!
Đọc đoạn kết, Thanh Khâm đã đưa lòng tôi đi theo từng hàng lời dẫn giãi của anh vào suối,nguồn thương cảm : Thương nhớ và tiếc nuối sự ra đi không bao giờ trở lại của tác giả bài thơ nầy - Thi Sĩ Vũ Anh Khanh.
Xin chân thành cám ơn Thanh Khâm.Qua anh,tôi đã đọc được một tuyệt phẩm qúa hay.Bài thơ đã vĩnh viễn để lại trong tôi một một nỗi buồn và luyến tiếc !!!
Anh Thanh Khâm mến.
Thanh Hoàng xin hứa với anh :"Khi đất nước được thanh bình ,nếu tôi còn sống thì cũng tìm về THA LA XÓM ĐẠO để thăm,để thương để nhớ sau khi trở lại quê hương tạm dung thứ hai nầy.
Xin cám ơn anh Thanh Khâm.
Thân qúy chào anh.
THANH HOÀNG