Sep 19, 2020

Thơ xướng họa

Huệ Thu họa thơ Thái Cuồng
Thái Cuồng / Huệ Thu * đăng lúc 09:56:01 PM, May 26, 2020 * Số lần xem: 15956
Hình ảnh
#1

Những bài Xướng họa của Bác Thái Cuồng & Huệ Thu và ngược lại

*

Lời Quê Góp Nhặt

Ngẫm cảnh quê hương luống ngậm ngùi
Coi thơ xướng họa cũng nguôi nguôi
Khá khen dũng khí luôn tràn ngập
Lại phục từ tâm vẫn sáng ngời
Lẫn lộn vàng thau, nghe đã khoái
Nhiễu nhương người ngợm thấy càng vui
Tạ ơn tri kỷ, đồng thanh khí
Quê kệch, nôm na, góp mấy lời.

Thái Cuồng
Houston, đầu Thu 2000

Bài Họa

Khởi Hành đọc đến luống bùi ngùi
Nỗi nước tình nhà nhớ chẳng nguôi
Thơ họa lúc này mây sớm nổi
Tấc lòng ngày cũ nét son ngời
Người quen tìm lại càng thêm tủi
Cảnh lạ nhìn qua cũng vẫn vui
Mình có thi ca là lãi đấy
Tạ ai thật khó nói nên lời.

Huệ Thu
Sanjose, 10 05 00


Tâm Tư Kẻ Sống Lưu Vong

Lâu năm tỵ nạn chốn tha phương
Héo hắt lòng già, nặng nỗi thương
Ðất nước trong tay loài bạo ác
Nhân dân dưới ách lũ côn quang
Cộng đồng chia rẽ đầy ngao ngán
Văn bút tan tơi đậm chán chường
Bao kẻ đua tranh theo thói Mỹ
Nào ai đoái tưởng chút luân thường

Nào ai đoái tưởng chút luân thường
Xa cách ngàn trùng bởi đại dương
Mỹ tục, thuần phong theo đám khói
Tiền đồ Tổ Quốc phủ màn sương
Những mong sớm thấy điềm hưng quốc
Quá ngán toàn nghe chuyện huých tường (*)
Khúc Hậu Ðình Hoa ai hát mãi
Buồn lòng, ta khấn Tổ Hùng Vương

Buồn lòng, ta khấn Tổ Hùng Vương
Ước vọng ngày khôi phục kỷ cương
Cách mệnh khu trừ quân bạo ác
An bang suy cử bực hiền lương
Vĩ nhân xuất hiện lo bình trị
Thiện chính thi hành dẹp nhiễu nhương
Quốc thái, dân an trong hạnh phúc
Việt kiều chung tái thiết quê Hương.

(*) “Huynh đệ huých tường” : anh em
đánh nhau trong nhà
(trích trong Khi Thi Trung Hoa).

Thái Cuồng

Mai Mốt Ta Về Lại Cố Hương
(Họa Tâm Tư Kẻ Sống Lưu Vong)

Trời bốn phương lòng chỉ một phương
Năm chầy tháng lụn thấy sao thương
Ân tình khó thể đem quăng sạch
Rác rưởi làm sao dọn thật quang
Chữ đức mình mong cùng nảy ngọn
Mặt mo chúng thích cứ đem chường
Sống thời bát nháo thôi đành vậy
Chỉ chuộng hư danh cũng sự thường

Chỉ chuộng hư danh cũng sự thường
Quê nhà cách trở vạn trùng dương
Ðêm về ngoảnh lại đầy mưa gió
Chiều xuống nhìn về loạn khói sương
Dạ hợp vài cây xanh trước cổng
Hướng dương ít đóa nở bên tường
Sinh ra đã trót là nhi nữ
Sao cứ bên lòng mãi vấn vương

Sao cứ bên lòng mãi vấn vương
Bao giờ ngựa Ký lỏng giây cương
Bắc Nam góp mặt trang hào sĩ
Ðất nước ngoài tầm bọn bất lương
Ðạo chích dễ gì còn hích hích
Lưu manh đâu lẽ cứ nhương nhương
Cùng thông thời vận rồi xoay chuyển
Mai mốt ta về lại cố hương.

Huệ Thu

Gửi Bác Thái Cuồng

Nghe nói ngày nay bác Thái Cuồng
Cơn vui dù chỉ rượu thơ suông
Tiếp Dư (*) thời thế sơn mình hủi
Phạm Lãi công danh áo thõng buông
Viết báo ngoảnh về thêm chán mặt
Theo voi nghĩ lại cũng dơ tuồng
Chi bằng trăng gió còn nguyên đó
Canh vắng chùa xa mấy tiếng chuông.

(*) Tiếp Dư hiệu là Sở Cuồng ngày xưa
sơn mình cho giống hủi để tránh đời
Huệ Thu

Thi Sĩ Thiên Tài
(Tặng Nữ Sĩ Huệ Thu)

Vốn sẵn thiên năng tự thiếu thời
Quốc Gia trao giải nhất văn xuôi
Ðề thơ, phóng bút nhanh như chớp
Ứng khẩu họa vần lẹ tựa thoi
Nguồn suối văn-từ khôn lẽ cạn ?
Kho tàng thi-liệu dễ chi vơi ?
Ví còn thi cử như thời trước
Ắt hẳn Thu-nương đoạt giáp khôi ! (1)

(1)“tranh Khôi, đoạt giáp”: từ ngữ bóng bẩy
chỉ những sĩ tử dự thi đại- khoa thời xưa
Thái Cuồng
Houston, Ðầu Thu 2000

Cám ơn Bác Thái Cuồng đã quá khen,
Huệ Thu xin phụng họa:

Bài Họa 1

Chẳng qua là thế chẳng qua thời
Dòng nước xưa nay mãi chảy xuôi
Cũng thử học đòi người trưởng thượng
Dám đâu bắt chước kẻ gieo thoi
Viết bài thơ mới chưa từng mỏi
Múc mãi sông Hồng khó thể vơi
Tôi vẫn từng nghe khoa giáp cũ
Nữ nhi ai đã chiếm tam khôi ?

Bài Họa 2

Lại nhớ xưa kia có một thời
Văn thơ vào hạng cũng xuôi xuôi
Tài hoa nghĩ lại ba cơn mộng
Ngày tháng qua mau một chiếc thoi
Nỗi nhớ định quên sao vẫn chép
Biển sầu muốn tát dễ gì vơi
Cho nên võ vẽ vài câu họa
Ðâu dám tranh đua dẫu Á khôi.

Bài Họa 3

Bà Ðiểm (*) ngày xưa đã một thời
Nghĩ mình văn viết chửa hề xuôi
Ðã bao nước mắt câu thơ dệt
Biết mấy mùa xuân cánh én thoi
Thôi cứ thanh nhàn may cũng đến
Nghĩ ra duyên nghiệp lại dần vơi
Tạ người, đâu dám còn mơ hão
Cũng chẳng khoa mà cũng chẳng khôi.

(*) Bà Ðiểm : Bà Ðoàn Thị Ðiểm
Huệ Thu
Sài Thôn Lưu Ký
Một ngày mưa tháng mười năm 2000


Ngó Về Quê Hương

Buồn thay cho con cháu Hùng-Vương
Lộn giống nên thay đổi lạ thường
Lai Á, lai Phi, lai Ả rập
Dở Âu, dở Mỹ, dở Ðông-Dương
Lưu manh, cộng-phỉ đầy dinh thự
Kẻ cướp, gian thương ngập phố phường
Ma túy, bạc bài kiêm đĩ điếm
Bao giờ dân thoát khỏi tai ương?...

Thái Cuồng
Houston, Thu 2000

Bọn Trung Ương

(bài họa)

Bài I

Ra đi lòng luống những tơ vương
Ôi chuyện lưu vong cũng bất thường
Khăn khắn dám quên lời giáo huấn
Mịt mù còn nhớ sóng trùng dương
Mấy trò bỉ ổi đầy đường chợ
Những thứ lưu manh chật phố phường
Tội ác chẳng qua do tụi nó
Thằng Phiêu, thằng Khải bọn trung ương.

Huệ Thu

Trên Ðường Lưu lạc

Bài II

Mười tám đời vua nghiệp đế vương
Lên voi xuống chó chuyện bình thường
Câu thơ thuở ấy trai thời lọan
Mối hận ngàn xưa gái họ Dương (*)
Ðọc sách bên đèn tìm chuyện lạ
Rủ nhau giữa chợ nhóm thành phường
Ôi thôi! Trên bước đường lưu lạc
Còn tránh làm sao chuyện ẩm ương.

(*) Dương Quý Phi

Huệ Thu
Sài Thôn Lưu Ký Thu 2000

Nặng Nợ Thơ Ðường
(Tự Thuật)

Bẩy mươi mấy tuổi, tóc phong sương
Ngán nhẽ Thơ Ðường chẳng chịu buông
Thơ phú đôi khi sinh mối oán
Ngôn từ lắm lúc nẩy tơ vương
Tìm vần, nứt óc, toan thôi quách!
Thiếu đối điên đầu muốn bỏ ngang !
Luận, Thực gò xong, lo chuyển, Kết
Lao tâm nhưng vẫn khoái thơ Ðường.

Houston, Thu 2000
Thái Cuồng

Bài Họa

Không Cần Câu Nệ

Vốn đã thăng trầm, đã gió sương
Mà thơ, sao lại chẳng hề buông ?
Vũ, Ðinh (1) ngày trước từng lưu luyến
Lý Ðỗ (2) ngàn xưa cứ vấn vương
Thực luận vậy thì đành bỏ lửng
Phá thừa thôi lại cũng quên ngang
Tam khôi thuở trước còn ai nhớ ?
Chỉ nhớ thi nhân thuở thịnh Ðường.

(1) Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng
(2) Lý Bạch, Ðỗ Phủ

Huệ Thu

Quyết Thắng Gian Lao

(Họa nguyên vận bài thuyền Tình)

Vượt biển dùng thuyền bé tí teo
Sóng va, gió giật đã nhiều keo
Ðương nhiên cực khổ khi lèo lái
Ắt hẳn vui mừng lúc thả neo
Người khoái thành công, cười “hí hí”
Mèo khoe đắc thắng, réo “ngoeo ngoeo”
Tài trai há chịu thua ai đó ?
Cỡi sóng dâng cao, tớ vững chèo !

Thái Cuồng
Thu 2000


Bài Họa

Sóng cả thuyền con, nghĩ muốn teo
Ðường cùng thôi thử một vài keo
Ðêm khuya, tay mỏi không cầm lái
Gió lớn, người đông chẳng dễ neo
Sóng bạc, lòng buồn xiêu lại vẹo
Trăng mờ biển cả ngoẹo rồi ngoeo
Người ta cứ bảo thân bồ liễu

Bồ liễu giờ đây cũng phải chèo.


Huệ Thu

Sài Thôn Lưu Ký Thu 2000


Thầy Phù Thủy Hãy Coi Chừng
(Nhân chuyến công du của Tổng Thống Mỹ
tại Việt Nam)

Nghe tin Tổng Thống Mỹ công du
Mặc oán, làm thân, xóa hận thù
Dùng món đô la “khều” lũ nhũng
Ðem nền kỹ thuật nhử phường ngu
Nga Sô, tớ đã “mời” vô... rọ
Việt Cộng, ta nay “rước” bỏ ... lu
Phù Thủy sai âm binh tát nước
Coi chừng chúng phản, “bóp”... thằng Cu ! (*)

(*) Chuyện truyền tụng trong dân gian Việt Nam:
Thầy Phù Thủy thương khoe tài, sai âm binh đi tát
nước vào ruộng của mình, nhưng vì ngủ quên đến áng,
âm binh không được thu về nên chúng quay lại
“bóp chết” thầy hoặc con thầy.


Thái Cuồng


Tổng Thống Lãng Du ?
(Bài Họa)

Tổng Thống lẽ nào lại lãng du ?
Tại sao làm bạn với quân thù ?
Ðem đồng bạc trắng xoay phường mọi
Lấy tí lợi còm dử lũ ngu
Chú Tẫu hết thời sang chú Vẹm
Con Ki còn đợi đến con Lu (1)
Clinton không phải non tay lái
Thủ đoạn anh chàng vốn bố cu (2)


(1)Ki & Lu : Việt Nam thường đặt tên cho mấy con cẩu.
(2) beaucoup : nhiều


Huệ Thu

Nữ Nhi Ai Ðã Chiếm Tam Khôi ?
(họa bài Thi Sĩ Thiên Tài)

Bài Họa I

Chẳng qua là thế chẳng qua thời
Giòng nước xưa kia mãi chảy xuôi
Cũng thử học đòi người trưởng thượng
Dám dâu bắt chước kẻ gieo thoi
Viết bài thơ mới chưa từng mỏi
Múc nước sông Hồng khó thể vơi
Tôi vẫn từng nghe khoa giáp cũ
Nữ nhi ai đã chiếm tam khôi ?

Huệ Thu

Nữ Trạng Nguyên Thời Xưa

I

Năm Thìn (1) , Mạc Chúa mở khoa thi
Hương, Hội, Ðình, ra đủ mọi kỳ
Nguyễn Thị (2) nam trang xin ứng thí
Văn tài xuất chúng dễ ai bì ?

II

Ðủ mọi kỳ thi, đã vượt qua
Tới kỳ đình đối, rõ tài hoa
Bảng vàng choi chói từng ghi rõ
Ðệ nhất Khôi Nguyên: Nguyễn sáng lòa.

III

Mũ áo, cân đai đã sẵn sàng
Tân khoa Nguyễn Trạng vẻ xênh xang
Vua ban ngự yến cùng tân Trạng
Ngự uyển, vua tôi cất chén vàng

IV

Phụng mệnh uống hoài, Trạng quá say
Mũ rơi, tóc xõa đã phơi bầy
Mặt hoa, da phấn, trang kỳ nữ
Mạc chúa vui mừng hạ chiếu ngay

V

“Bà Chúa Sao Sa”, dã sử truyền
Kính Cung Mạc Chúa đã vầy duyên
Vua băng, nàng đã xin đầu Phật
Mai một tài hoa chốn cửa thiền.


VI

Nữ Trạng đâu riêng ở nước mình ?
Nguyên Triều quốc sử chép phân minh (3)
Lệ Quân họ Mạnh từng thi đậu...
Ðệ nhất khôi nguyên sáng chói danh

VII

Cải trang thi đậu Trạng Nguyên rồi
Thùa Tướng Nguyên triều lại chiếm ngôi
Say rượu, thoát hài, chân tướng lộ
Mới cùng hoàng Phủ kết duyên trời.

VIII

Dân quê đất Việt vẫn truyền tai
Câu chuyện Tuấn Khanh, nữ Tú Tài
Há phải nữ nhi xưa chỉ biết...
Quanh nhà, xó bếp suốt hôm mai ?

IX

Giả thử Thu nương tạm cải trang
Thi cùng nam giới chốn khoa trường
Làu thông Kinh, Sử cùng thi phú
Ðoạt giáp tranh khôi há chịu... nhường ???

(1) và (2) Theo Việt Sử, sau năm 1600, nhà Mạc còn
giữ một số tỉnh và đóng đô ở Cao Bằng. Mật Thiên Dật Sử chép rằng đời Mạc Kính Cung làm vua, có mở khoa thi, và bà Nguyễn Thị Du đã cải nam trang ứng thí, đậu Trang Nguyên, được vua Mạc phong làm Hoàng Hậu. Sau khi
Kính Cung chết, bà đã thí phát đi tu.
Khi còn ở trong cung, dân chúng gọi bà là:
“Bà Chúa Sao Sa”
(3) Mạnh Lệ Quân đã cải nam trang, dự thí do
triều Nguyên Trung Hoa tổ chức, nàng đậu Trạng Nguyên
và được phong chức Tả Thừa Tướng, vì vua nghi rằng là gái nên đã bầy tiệc, cho uống rượu say, rồi cho người tháo giầy(thoát hài), nhưng bàn chân bé nhỏ đã tố cáo rằng là gái
Sau đó nàng kết duyên với Hoàng Phủ Thiếu Hoa Thừa Tướng dưới triều Anh Tôn nhà Nguyên.
Sau Hết, nữ tú tài Tuấn Khanh là chuyện dân gian Việt Nam. Một câu chuyện tình khá éo le hấp dẫn.


Thái Cuồng
Huệ Thu Xin Ðáp Họa


I

Bà Tổng (1) Hoa Kỳ cũng dự thi
Luật sư, Tiến sĩ cũng ly kỳ
Nếu vào thượng viện đâu nhường bước
Mấy lão mày râu đã dễ bì

II

Cải trang là cái chuyện hôm qua
Nào những Trạng Nguyên, những Thám Hoa
Rốt cuộc phương Ðông luôn lạc hậu
Văn minh họ sáng, chúng ta lòa.

III

Nếp cũ khư khư chẳng sảy sàng
Tưởng đâu áo mão đã cao sang
Hư văn vì trọng nên hư chuyện
Chỉ rụng mùa Thu chiếc lá vàng.

IV

Chú điển cho nhiều, rượu thật say
Phá thừa ai đặt, Luận ai bày ?
Tôi đâu dám học làm kỳ nữ
Chỉ học làm người sống thẳng ngay

V

Những câu chuyện cũ chỉ hư truyền
Bàng chiếm Tam Khôi một chút duyên
Lý Ðỗ ngày xưa thi vẫn hỏng
Câu thơ dù chẳng nhuốm mùi thiền.

VI

Nhiều buổi lòng riêng tự hỏi mình
Giờ đây xin hỏi bậc cao minh
Có cần thi đỗ làm quan Trạng
Ðể kiếm cho mình một chút danh ?

VII

Tôi nghĩ cải trang hủ lậu rồi
Bà Trưng là gái chẳng nhường ngôi
Gái trai thì cũng người ta cả
Kỳ thị gì nhau thế hở trời !
VIII

Còn nghe văng vẳng mãi bên tai
Lụy đến ngàn năm một chữ tài
Thôi chẳng vì danh mà trói buộc
Cần chi phải nghĩ đến ngày mai

IX

Tôi chẳng bao giờ chịu cải trang
Tôi không tin lắm ở khoa trường
Hồn nhiên cứ sống như cây cỏ
Hơn được may ra chữ nhún nhường.

Huệ Thu

Ðáp Lại Thơ Họa của Nữ Sĩ Huệ Thu

I

Ai xui nương tử cải nam trang
Giả tỉ thôi, sao đã vội vàng...
Cải chính rằng không ưa đỗ Trạng
Chẳng cần thi cử lối từ chương

II

Từ chương không ủy mị con người
Lịch sử từng ghi chép rạch ròi
mãnh lực vô biên : Thơ đuổi giặc
Hành quân ca khúc dự muôn đời

III

Truyền hịch thông tin há chuyện chơi ?
Từng đoàn quân mạnh đã tan tơi
Nghe lời chính khí, quân bừng tỉnh
Súng đạn, gươm, đao quảng khắp nơi

IV

Nhật bản xưa nay trọng Ðạo Nho
Nhân Luân, Chính Khí vẫn tôn thờ
Kinh, Thương, kỹ thuật đều tinh tiến
Riêng món Ðường Thi chẳng bỏ lơ

V

Sử xanh ghi chép Tướng Nô Gi (1)
Chiến thắng quân Nga lúc trở về
Cao hứng ghi vài câu tuyệt diệu
Khải hoàn tâm sự, gửi Ðường Thi (2)

VI

Văn minh kỹ thuật rải nơi nơi
Dân Việt đua nhau học quá “trời”...
Thế kỷ trôi qua mà vẫn mạt
Do người chỉ biết học... theo đuôi.

VII

Ðạo Nho không chỉ trọng hư văn
Trị quốc, tề gia, bảo vệ dân
Chỉ tại Triều Ðình ta hủ lậu
Không theo Nhật bản sớm canh tân.

(1) và (2) Ðai tướng Nogi của Nhật Bản đã chỉ
huy quân đánh tan Thủy Lục Quân của Nga Hoàng
vào năm 1904 ố 1905.
Khi ca khúc khải hoàn, ông đã cao hứng làm bài thơ
Tứ Tuyệt sau:


Hoàng sư bách vạn chinh kiêu lô
Dã chiến công thành, thi tác san
Quí ngã hà nhan khan phụ lão
Khải ca kim nhật kỷ nhân hoàn???

Tạm dịch:
Trăm vạn quân của Thiên Hoàng chinh phạt giặc dữ
Thành công trong các trận dã chốn, như thây người
chất thành núi
Thẹn rằng ta mặt nào nhìn các bực phụ lão
Vì: Khải Hoàn hôm nay, còn bao người trở về???


Thái Cuồng


Ðáp Lời Bác Thái Cuồng
(họa bài Ðáp bài thơ họa)

I

Thi cử mà sao phải cải trang ?
Thế ra trai đáng quý như vàng
Nay mai Hill (1) sẽ “tông tông” đấy !
Sử sách từ đây lật mấy chương.

II

Câu chuyện từ chương, cái chuyện người
Ðông Phương cam phận sống xưa rồi
Nhưng mà nghèo đói thua thiên hạ
Ông lẽ nào quên được sự đời ?
III

Văn chương nào phải để mà chơi
Cũng giúp gì cho lũ chúng tôi
Lại cứ “chi, hồ” năm tháng tụng (2)
Chẳng xem khoa học tiến muôn nơi

IV

Cho rằng ông học đạo nhà Nho
Có phải thì ta nhất định thờ
Những cái tầm phào ta phải bỏ
Lẽ nào thiên vị cứ làm lơ ?

V

Việt Nam họ vẫn bảo Man Di
Họ chặn đường ta lối trở về
Ta vẫn hòa đồng cùng ngoại quốc
Lúc nhàn vẫn thú mấy câu thi .

VI

Ông hãy nhìn xem khắp mọi nơi
Lên trăng, khoa học đã làm trời
Ông còn luẩn quẩn thơ biền ngẫu
Có phải là ông chỉ vuốt đuôi ?

VII

Tôi vốn yêu thơ, vốn thích văn
Nhưng tôi vẫn muốn cả toàn dân
Từ nay no ấm và sung sướng
Muốn khá ta sao chẳng cách tân ?

(1) Hillary Clinton - (2) Chi, hồ, giả :
lối nói châm biếm cái học của nhà Nho.


Huệ Thu

Xin hỏi thêm
Bác Thái Cuồng

Ông coi cụ Khổng đúng hay không ?
Bởi lẽ mày râu nhất các ông
Bà Thacher kia tuy phận vợ
Anh Kim Trọng ấy dẫu là chồng
Việc làng coi gái như đồ bỏ
Tiệc rượu mời trai để kể công
“Thập nữ viết vô” nghe phát ghét !
“Nhất nam” đã chắc cứu non sông ?

Huệ Thu


Gửi Bác Thái Cuồng

Nghe nói ngày nay bác Thái Cuồng
Cơn vui dù chỉ rượu thơ suông
Tiếp Dư (*) thời thế sơn mình hủi
Phạm Lãi công danh áo thõng buông
Viết báo ngoảnh về thêm chán mặt
Theo voi nghĩ lại cũng dơ tuồng
Chi bằng trăng gió còn nguyên đó
Canh vắng chùa xa mấy tiếng chuông.

(*) Tiếp Dư hiệu là Sở Cuồng ngày xưa
sơn mình cho giống hủi để tránh đời


Huệ Thu

Thằng Tôi
(Họa)

Ẩn sĩ thời xưa khéo giả cuồng
Thằng tôi, nay chỉ mấy câu suông
Ðường thi cổ hủ còn lo giữ
Niêm luật ương gàn chẳng chịu buông
Chán ngấy do nhìn bao thói rởm
Buồn nôn bởi thấy lắm trò tuồng
Cho nên mắc bệnh ngông cuồng dở
Dám ghé làng thơ thử đấm chuông.

Thái Cuồng

Cuồng Sĩ Thời Xuân Thu
(Bài Họa)

Giữa buổi Xuân Thu có bác Cuồng
Tài năng quán thế, vẫn ngồi suông
Nịnh Dư (1) yêu nước nên cầu kiến
Vua Sở vô tình mới bỏ buông
Ngại kẻ hung tàn chơi ngón... độc
Mượn trò điên dại sắm vai tuồng
Gặp khi Phu tử toan qua Sở
Liền chạy theo xe gắng gióng... chuông (2)

(1) Cuồng sĩ nước Sở tên là Nịnh Dư, không phải
Tiếp Dư Hai chữ Nịnh và Tiếp viết giống nhau quá
nên người ta hay lầm
(2) Sách Luận Ngữ chép rằng : Ðức Khổng Tử định
sang nước Sở yết kiến vua nước ấy đển mưu quốc
chính, trị thiên hạ. Ninh Dư liền chạy theo xe ngài
mà hát rằng: “Phượng hề phượng hề! Lả đức chi suy?
Vãng giả bất khả gián, lai giả do khả truy! Dĩ nhi! dĩ nhi!
Kim chi tòng chính giả đãi nhi!!! Tạm dịch như sau:
Chim phượng ơi ! Chim phượng ơi! Sao mà đức suy
quá vậy ! Cái gì đã qua rồi, không thể can ngăn! cái gì
còn ở tương lai thì còn có thể theo mà can gián.
Thôi đi! Thôi đi! Kẻ làm chính trị thời nay bị nguy
lắm vậy!!!
(*) chim phượng là linh điểu, vua các loài chim ví
như thánh nhân trong loài người.


Thái Cuồng

Kính thưa Bác Thái Cuồng,

Cháu là kẻ hậu sinh từ trước đến nay đọc sách
cứ thấy ghi Tiếp Dư (Sở Cuồng). Nay bác cho biết phải đọc là Nịnh Dư (Sở Cuồng) mới đúng. Thưa bác không hiểu bác đã căn cứ vào đâu mà khẳng định như vậy ? - Cháu hiện có hai bộ từ điển và quyển Luận Ngữ (bản dịch của Ðoàn Trung Còn) trong tay, một là “Thành Ngữ Ðiển Tích Danh Nhân Từ Ðiển” của Trịnh Vân Thanh Quyển 2 trang 1150 (xin gửi photo copy để bác xem) và một cuốn là Thành Ngữ Ðiển Tích của Diên Hương trang 331, và quyển Luận Ngữ bản dịch của Ðoàn Trung Còn Xuất bản tại Sài Gòn năm 1954 trang 287 đều nói Sở Cuồng là Tiếp Dư.
Xin gửi đến bác 3 bản Copy của cả 2 cuốn Từ Ðiển và Luận Ngữ . Mong bác cho biết tôn ý. Rất cám ơn Bác.

Huệ Thu

Trò Hề Diễn Mãi

Nực cười chế độ ngả hoàng hôn
Việt Cộng còn đua diễn lắm đòn
Nhũng lớn bỏ tù đàn nhũng nhỏ
Tham già khiển phạt đám tham non
“Mâm trên, mâm dưới chung loài cẩu
Cấp thấp, cấp cao: một giống chồn
Trên, dưới, mặt đều như ... mõm chó
Lại lo trát phấn với thoa son.

Thái Cuồng

Bài Họa
Ngày xưa bế trẻ bác Hồ hôn
Cả nước giờ đây mới thấm đòn
Ðâu phải tuổi già chơi trống bỏi
Lại còn đầu bạc gối đùi non
Dân tuy lành vẫn lòng đang giận
Tiền dẫu nhiều sao bước chẳng chồn
Dựng mãi thây ma làm quảng cáo
Thôi đừng điểm phấn với tô son.

Huệ Thu

Cảm Hoài

Thao thức canh thâu một tiếng gà
Bao giờ sông núi lại về ta ?
Thấy tình dân chúng con tim héo
Nghĩ cảnh đồng bào nước mắt sa !
Tôn giáo vốn không tin Chúa, Phật
Gia đình nào biết có ông cha ?
Ðã vô tổ quốc sao yêu nước ?
Vạn dặm trông về luống thiết tha.

Huệ Thu


Ước Mơ

Quốc nội lòng dân đã sẵn sàng
Ðường về mai mốt rộng thênh thang
Mùa Xuân đôi ngả hoa chào đón
Tuổi trẻ năm châu bước rộn ràng
Quê mẹ tưng bừng ngào ngạt nắng
Lúa thơm xao xuyến ngẩn ngơ vàng
Anh ơi! Và chị và em đó
Ruột thịt làm sao nỡ phũ phàng ?

Huệ Thu

Gửi Bác Thái Cuồng

Bài 1

Năm nay nghe bác bảy mươi tư
Tôi mới năm lăm đã khật khừ
Lên núi cũng mong làm ẩn sĩ
Vào đời lại khó học thiền sư
Thơ từng đêm lạnh bao lần viết
Mưa ướt mùa Xuân mấy lá thư
Cuồng sĩ những ai trong bốn bể
Nam Dương còn nhớ mái Sơn Lư (*)

(*) Nam Dương nơi ở ẩn của Khổng Minh
Sơn Lư mái nhà nhỏ ở trên núi.

Huệ Thu

Bài Họa

Ðại thọ còn thêm cộng với... tư
Ði mươi bước đã thở khừ khừ
Sức tuy hồ cạn còn ham sách
Ðời có hơi buồn, chẳng khoái sư
Ngán nhẽ ham làm thơ Cổ Luật
May thay ! Tiếp nhận lá hương thư
Thấy lời hoa gấm ngâm sang sảng
Tựa án, bên đèn bóng lắc lư.

Thái Cuồng

Gửi Bác Thái Cuồng

Bài 2

Bác Thái Cuồng nay nhớ Sở Cuồng
Gỗ tròn sao dễ lắp ô vuông ?
Công danh nghĩ tới ba cơn mộng
Sự nghiệp nhìn ra mấy tấn tuồng
Son phấn lỡ trao sao lại rẻ ?
Thi ca trót nắm dễ gì buông ?
Người xưa trăng gió kho vô tận
Canh vắng chùa xa vẳng tiếng chuông.

Huệ Thu

Bài Họa


Báu ngọc chi đâu tính ngạo cuồng
Vót tròn quá vụng hóa ra vuông
Nhà tranh nằm khểnh, quen lười biếng
Sân khấu chen vô phải diễn tuồng
Trót múa cho nên đành phải tiếp
Lỡ cầu nhưng vẫn tính toan buông
Ngặt vì vướng nợ thơ “con cóc”
Như tiểu Hàn San nghiện đấm chuông.

Thái Cuồng

Buồn

Chiếc bách xuôi dòng phận nổi nênh
Lênh đênh đâu nữa cũng lênh đênh
Nghĩ khi biển động lòng run rẩy
Nhớ lúc thuyền nan sóng bập bềnh
Bến cũ đò chiều bơi chểnh mảng
Ðường về mây trắng nổi mông mênh
Chợt nhìn xa lộ xe chằng chịt
Tiếc lúc quê nhà áo rộng thênh

Huệ Thu

Họa Nguyên Vận Bài Buồn

Con gái làng ta vốn nỏ nênh (1)
Sớm khuya chạy chợ, gánh đong đênh (2)
Trời chiều, đông khách, đò nghiêng ngả
Nước ngập, hàng trôi, thúng nổi bềnh
Gái đảm đâu lo trời chạng vạng
Gan bền chẳng ngại nước mang mênh
Ra tay vớt hết hàng trôi nổi
Nặng gánh quay về, dạ thoáng thênh.

(1) và (2) Thổ ngữ Quảng Bình

Thái Cuồng

Dơ Dáng,
Hão Huyền

Bầu cử năm nay, thú vị thay
Cộng Hòa, Dân Chủ múa đều hay
Phe kia cậy khỏe, vung gươm bén
Phía nọ khoe hay múa gậy tầy
“Ðình đám” (1) Huê Kỳ luôn nhộn nhịp
“Mẹ con” (2) Giao Chỉ khéo thày lay
Buồn thay mấy kẻ theo đuôi hão
Ăn... giải gì đâu, múa tối ngày ?...

(1) và (2): “Ðình đám người, mẹ con ta” ; tục ngữ
Việt Nam ám chỉ những kẻ thấy người khác có việc
vui mừng, tuy không liên quan gì tới mình mà cũng
bặng nhặng múa may hão


Thái Cuồng
Cuối Thu, 2000

huệ thu họa :
Vẫn Hay

Buồn thay mà nghĩ cũng vui thay
Dân chủ người ta thế mới hay
Tính toán đã đành còn kẽ hở
Tự Do hỏi có chỗ nào tày ?
Việc dân vốn dĩ tùy tâm lựa
Cây cả làm sao sợ gió lay ?
Tuy tốn của công nhiều thật đấy
Ô tô xa lộ chạy đêm ngày.

Huệ Thu

Máy Ðiện Toán Gian Manh

Huê Kỳ vốn tự thị văn minh
Vượt cả năm châu đủ mọi ngành
Kỹ thuật siêu cường bao kẻ ngán
Kinh tài xuất chúng, dễ ai tranh ?
Cớ sao “bầu bí (1) đâm hư đốn ?
Chẳng lẽ người ta kém tốt lành ?
Chắc hẳn ai kia chơi chước quỉ
Cho nên điện toán hóa gian manh!...

(1) Tại Bang Florida, trong cuộc bầu Tổng Thống
nhiệm kỳ 2001 ố 2004, có nhiều nghi vấn khi số phiếu
của hai ứng viên có quá ít sai biệt, và máy kiểm
phiếu nhiều sai sót !


Thái Cuồng
Cuối Thu 2000

Phản Bác
bài Máy Ðiện Toán Gian Manh

Ông thật là người khá bất minh
Ðã hay, hay đủ mọi nghề ngành
Cứ như huề vốn cần im lặng
Thì dễ làm sao có đấu tranh ?
Tuy vụng về đây nhưng cẩn trọng
Tưởng ghê gớm đấy vẫn yên lành
Máy đâu có phải ông trời nhỉ ?
Sai sót đôi khi chút mỏng manh.

Huệ Thu

Lưu Vong Mừng Ðại Thọ
(nhân vụ hai ông bà ngoại tám mươi khoe mới đậu Quốc tịch
Hoa kỳ, mừng Ðại Thọ, lại được hưởng “oeo phe”)


Kìa ai dơ dáng đủ trăm chiều
Vong gia, thất thổ vẫn hiêu hiêu (hưu hưu)
Xếp hàng xin giúp, lo trăm thứ
Ðợi kẻ ban ơn hạch đủ điều
Chẳng tủi thân già ra thế ấy
Còn mừng tuổi thọ được bao nhiêu
Nếu còn nhớ lại câu... “đa thọ”...
Hẳn đã không đầy vẻ tự kiêu.

Thái Cuồng
Cuối Thu, 2000

Thưa Bác Thái Cuồng, nếu để câu đầu như thế này thì
câu thứ hai chữ “gia” bị thất niêm!
Vì vậy cháu xin mạn phép viết lại câu đầu:
“Dơ dáng làm sao đủ mọi chiều”
rồi mới họa.


Bài Họa

Tuổi hạc giờ đây đã xế chiều
Ông chê gì những vượn cùng hiêu (hưu)
Cho vào quốc tịch là danh giá
Ðược hưởng oen phe cũng bọc điều
Gối mỏi lưng đau chừng mấy nả
Tiền khan mắt kém có là nhiêu ?
Ông nên thể tất tình thiên hạ
Chẳng đáng kiêu mà cũng cứ kiêu .

Huệ Thu

Mừng Thọ Bác Thái Cuồng

Sang năm mừng Bác bảy mươi lăm
Xin gửi lời thăm, ngại đến thăm
Xứ lạ đã từng buồn vợi vợi
Ðường về sao cứ lạnh căm căm
Tiếc thương tuổi trẻ thoa môi đỏ
Tưởng nhớ người xưa gối sách nằm
Nghĩ lại lăng xăng cùng chữ nghĩa
Chút danh thi sĩ có ăn nhằm ?!!

Huệ Thu

Hỏi Thêm
Bác Thái Cuồng

Ông xem cụ Khổng của nhà ông
Có phải bao nhiêu chuyện bất công ?
Việc nước không cho con cái dự
Chuyện nhà để mặc bọn trai trông
Ðức vua kén những ba trăm vợ
Phụ nữ riêng lo một tấm chồng
“Tiết Hạnh Khả Phong” là bố láo
Vua đâu tiết hạnh dám đem phong ?

Huệ Thu


Kiều Cư Cảm Tác

I

Sống mãi nơi đây chắc hóa rồ
Nửa như giam lỏng, nửa thầy tu
Hè về luẩn quẩn trong phòng lạnh
Ðông tới loanh quanh trước của lò
Viếng hội cao niên tình lạc lõng
Thăm làng báo chí chuyện vu vơ
Câu thơ, chẳng biết cùng ai đọc
Cám cảnh Kiều cư đất tự... “ro”

II

Cám cảnh kiều cư đất tự... “ro”
Nhìn dân lao động nghĩ buồn so
Ngày ngày cuốc đủ chừng mươi tiếng
Tối tối cầy thêm khoảng mấy giờ
Da trắng, da đen, da xám xịt
Tóc vàng, tóc bạc, tóc quăn co
Lũ người hổ lốn nai lưng cuốc
Bảo hiểm, ngân hàng hốt tỉnh bơ...

III

Bảo hiểm ngân hàng hốt tỉnh bơ...
Bất bình, ngao ngán chửi bâng quơ
Muốn tìm thức giả trao tâm huyết
Lại gặp phàm phu khoái bạc cờ
Cam phận làm tôi vơ của... thí
Cùn đời ở đậu hốt cơm thừa
Quay về cố quận lòng chua xót
Chẳng thấy anh hùng chuyển thế, cơ

IV

Chẳng thấy anh hùng chuyển thế, cơ
Ngó phong tục Mỹ, ngỡ đang mơ
Tiền tài, thế lực lo tranh cướp
Ðạo lý, nhân luân bị phớt lờ
Cha mẹ già nua nên bỏ mặc
Chó mèo hôi hám vẫn tôn thờ
Ta như lạc lõng nơi hoang dã
Ngắm ngọn cờ hoa luống sững sờ!!!

Houston, cuối hè 1993

*

Bài Họa
Kiều Cư Cảm Tác

I

Bác cho ở Mỹ thật điên rồ
Sang được Hoa Kỳ mấy kiếp tu
Cuộc sống mình chui trong đống rác
Dân đen chúng đút cả vào lò
Ðứng nhìn tuổi trẻ buồn ngao ngán
Ngồi nhặt tiền già nghĩ vẩn vơ
Giá được như xưa ngài chắc chịu
Bàn đèn ngả sẵn kéo ro ro

II

Bàn đèn ngả sẵn kéo ro ro
Như thế thì ai đã dám so ?
Thương nước thương nhà thương thuở ấy
Nhớ năm nhớ tháng nhớ bây giờ
Ði hoài mỏi gót thôi đành ngả
Thẳng mãi đau xương lại phải co
Dù chẳng công hầu không đế bá
Thiếu gì sữa đặc, thiếu gì bơ ?

III

Thiếu gì sữa đặc, thiếu gì bơ
Già yếu gặp gì cũng thích quơ
Thua được coi như vài tấm kịch
Dở hay đâu khác một bàn cờ
Chen vai phấn đấu tin rằng thiếu
Than cảnh bon chen nghĩ thật thừa
Bác học đạo nho sao chẳng nhớ
Ðến câu quyền biến, nghĩa thời cơ

IV

Ðến câu quyền biến nghĩa thời cơ
Bác tỉnh hay là bác vẫn mơ
Gai mắt mong ngài càng phớt tỉnh
Trái tai xin cụ hãy phe lờ
Sao đành năm tháng hoài ngao ngán
Mà lại ngày đêm cứ thẩn thờ
Hội nhập cho nhanh, đời sẽ khá
Ðứng ngoài chi vậy mỏi tay sờ !

Huệ Thu

Cứ Tưởng ... Bở !

Ðứng xa tưởng bở, chẳng đo lường
Tới Mỹ rồi ra mới tỏ tường
Máy móc, nhà, xe, lo trả góp
Bảo kê, điện, nước, “cấu” vào lương
Trắng tay, rút lại hoàn tay trắng
Trường hận, đành cam nuốt hận trường
Trả nợ xong, nhà, xe đã nát
Con người cũng ốm đến trơ xương

Thái Cuồng
Houston hè 1997

Họa Bài Cứ Tưởng Bở
Khoa học văn minh chẳng thể lường
Cứ quay mặt lại khó tinh tường
Không rơi nước mắt mà ngồi “xế”
Chẳng đổ mồ hôi vẫn lãnh lương
Nằm khểnh khó nghe câu sở đoản
Ði xa mới rõ bước đường trường
Cho dù đau ốm, sao đi nữa
Hơn ở quê nhà sẽ nát xương.

Huệ Thu

Cám Cảnh Kiều Cư

Nước nát, nhà tan, nghĩ xót xa
Giận phường lái súng miệng điêu ngoa
Kiếm ăn chạy riết, thương bầy trẻ
Bỏ nước ngồi vêu cám cảnh già
Việt Cộng hung tàn chưa lụn bại
Huê Kỳ xảo quyệt vẫn thăng hoa
Công bằng xã hội : chiêu bài bịp
Dân chủ, nhân quyền, tởm quá... ta !!!

Thái Cuồng
Houston, Ðông 1998

Bài Họa
Cám Cảnh Kiều Cư

Ngồi rỗi làm thơ xót với xa
Những điều bác nói thật sai ngoa
Nếu không đóng thuế nhờ đàn trẻ
Sao có lương hưu khỏe tuổi già
Trà mạn thơ Ðường còn hội họp
Cà phê thuốc lá lại trăng hoa
Cuộc đời như vậy, sao than thở
Nước Mỹ đâu cần nợ chúng ta ?

Huệ Thu

Thầy (Tự Thuật)

I

Thầy ngồi thầy tính chín năm rồi
Bao cảnh thăng trầm diễn khắp nơi
Các đấng quan to đi cải tạo
Riêng thầy bụng nhỏ được ngồi chơi
Ung dung “thực khổng” * nhi thành... đạt
Túng tiếng thêm gì cũng tốt... thôi
Tiến, đạt, quan, sư sinh phúc ** cả
Quan tham, thầy thuốc vẫn thằng tôi . ***

II

Có phúc trời ban, há phải lo ?
Thầy đây chính thống gốc làng Nho
Gặp khi nhiễu loạn, lui tàng ẩn
Ðến buổi thanh bình, tiến tự do
Nghiệp cũ đành trôi theo vận nước
Nghề xưa lại phải đóng vai trò
Ðội ơn cụ Lãn, tay thầy ... mát
Ðông kẻ xin thầy “bốc hốt”... cho.

* Ăn không
** Tên hiệu thuốc là Sinh Phúc Dược Phòng
***“Tiến vi quan, đạt vi sư”
Thiên chức của Nho sĩ thời xưa

Thái Cuồng
Sài Gòn Hè 1984

Bài Họa

Thầy

I

Cứ buổi ra đi, cứ thế rồi
Phiêu bồng đã trải khắp nơi nơi
Miền Nam lúc trẻ tung hoành thử
Nước Mỹ về già phụng dưỡng chơi
Thắc mắc thêm nhiều làm hỏng việc
Băn khoăn cho lắm thế mà thôi
Chi bằng tri túc ta thường túc
Thơ thẩn qua ngày bác với tôi .


II
An sinh xã hội khỏi cần lo
Bác xuất thân từ học Ðạo Nho
Dâu bể chắc là quên gốc rễ
Ðược thua chắc phải rõ nguyên do
Hoa Ðà vốn trước từng theo nghiệp
Biển Thước từ nay thử đóng trò
Phụ tử, phòng phong, sâm, quế phụ
Gặp thời trời Phật giúp công cho .

Huệ Thu

Hải Ngoại Ðón Nguyên Tiêu

Hăm mấy năm qua trải đã nhiều
Năm trâu ngắm họ đón Nguyên Tiêu
“Ra dô” bặng nhặng mời mua sắm
“Cờ lớp” ồn ào họp hát nghêu
“Khố đỏ” “moong căng” còn diệu võ
Quạ đen “phú lỉnh” vẫn ra chiêu
Lưu vong, thấy lắm trò dơ dáng
Càng thấy bao nhiêu thẹn bấy nhiêu

Thái Cuồng
Hous ton 1997

Bài Họa
Hải Ngoại Ðón Nguyên Tiêu

Thăng trầm chưa mấy, khổ chưa nhiều
Vẫn bạn, vẫn bè vẫn chửa “tiêu”
Lúc rảnh điểm qua trò ốc hến
Khi buồn xem lại cảnh sò nghiêu
Lòng vui Ðường Luật khua vài vận
Thơ láo Khởi Hành nện mấy chiêu
Gặp Tết mừng nhau nâng chén rượu
Cuộc đời thật khoái biết bao nhiêu.

Huệ Thu

Hoa Kỳ Hết Khôn

Mỹ Quốc văn minh quá cỡ rồi
Người mang lốt thú nhẩy khơi khơi
Hết khôn nẩy lắm trò nhăng nhít
Dồn dại sinh bao chuyện nực cười
Thiếu nữ nằm kềnh, ôm chó ngủ
Mẹ dòng nhẩy cỡn ấp tiều(1) ... chơi
Tự do, phóng túng, đâm cuồng loạn
Thị dục làm tiêu bản tính... người.

(1) “tiều”: con khỉ

Thái Cuồng
Houston, Xuân 1997

Họa Huê Kỳ Hết Khôn

Hoa Kỳ bác hiểu thật sai rồi
Mới vượt muôn trùng vạn dặm khơi
Chưa thấy đời hay sao muốn chán
Thoạt nhìn cảnh lạ đã mau cười
Trăm đường thiên hạ đi đường lớn
Mỗi nước người ta một cách chơi
Bác lấy tục mình làm mẫu mực
Coi như thiên hạ chẳng là người ?

Huệ Thu

Chó Nhảy Bàn Ðộc

Trẻ tạo gây chi cuộc biển dâu ?
Khiến bao thức giả chạnh lòng đau
Cóc kia khệnh khạng chân lê guốc
Khỉ nọ nghênh ngang mãi đội đầu
Gấu ngự xe hơi ngồi chổm hỗm
Chó leo bàn độc sủa gâu gâu
Ai coi sở thú cho ta nhắn...
Bắt lũ sổng chuồng, nhốt lại mau !!!

Thái Cuồng
Hè 1975


Bài Họa
Chó Nhảy Bàn Ðộc

Từ xưa bãi bể với nương dâu
Cho đến bây giờ vẫn thấy đau
Bác ghét môi son nơi dạ vũ
Tôi thương trăng sáng chốn giang đầu
Chất men buổi sớm vài câu láo
Chú khuyển canh trường một tiếng gâu
Bác nhớ nhập gia cần nhập cuộc
Muốn vui thì phải tiến cho mau.

Huệ Thu

Chữ Nghĩa Ðổi Ðời

Chữ nghĩa ngày nay đã đổi đời
Nôm na, hổ lốn phịa khơi khơi
“Ấn in”, “hiu nghỉ”, nghe mà ớn
“Sinh sống”, “thương buôn”, nghĩ nực cười
“Ðồ cưới cho thuê” nêu khắp phố
“Tốp ca” biểu diễn, sủa... trên đài
Tự khoe: “ý đẹp, lời trong sáng”:
“Ỉa, đái” tương vô mới... tuyệt vời (1)

“Ngục Trung Ký Sự” của Hồ Chí Minh có 2 câu thơ :
“Ðệ nhất buồn là mất tự do
Ðến buồn đi... ỉa cũng không cho”
Bọn Việt Cộng vẫn khoe lời thơ của Hồ Chí Minh là ý đẹp lời trong
sáng.

Thái Cuồng

Bài Họa
Chữ Nghĩa Ðổi Ðời

Chữ nghĩa từ sinh giữa cuộc đời
Ðèn ai nấy rạng dễ gì khơi ?
Nói năng nhiều lúc đừng nên giận
Biến đổi tùy khi chớ vội cười
Tuy rủi phải rời xa nước mẹ
Cũng may còn được dịp nghe đài
Không “no”, không “yes” là vui chán
Tiếng Việt Nam nghe đủ tuyệt vời !

Huệ Thu

Bỡn Bạn Già

Văn chương chữ nghĩa vốn... bề bề
Khí phách “yêng hào” hết chỗ chê
Diện mạo khôi ngô, tài quảng bác
Thân hình tráng kiện, dáng uy nghi
Dân sinh, quốc kế đầy kinh nghiệm
Ðịa lý, thiên văn đủ ngón nghề
Ðến tuổi hoàng hôn đâm... đổ đốn
“Thần kia” ám ảnh hóa u mê.

Sài gon Thu 1992

Bài Họa
Bỡn Bạn Già
Dù ông lịch sự đủ trăm bề
Thiên hạ người ta cũng vẫn chê
Công Trứ đã từng nương cảnh ngộ
Nguyễn Du có lúc phải tùy nghi
Giở pho tình sử càng thương bạn
Ðọc truyện Tân Thanh chắc ngứa nghề
Tóc bạc lẽ nào lòng cũng bạc ?
Tuổi bao nhiêu nữa vẫn đam mê

Huệ Thu

Vĩ Nhân Thời Ðại

Nực cười “Văn Xã”, lũ ong non (1)
Bốc lộn già Hồ đại ác ôn
Từng diếc muôn người trong đấu tố
Lại chôn triệu trẻ khắp đường mòn (2)
Mậu Thân đốt sạch quân anh Thọ
An Lộc tiêu tùng lính bác “Tôn”
“Thắng lớn”, ông “mừng” nên tắt thở (3)
Ðàn em bêu xác để... ghi ơn

(1) Văn Hóa Xã Hội quốc tế tôn Hồ Chí Minh là vĩ nhân thời đại
(2) Ðường mòn Hồ Chí Minh
(3) Thualớn trong trân Mậu Thân, nhưng VC vẫn khoe “thắng lớn”

Thái Cuồng
Hè 1991

Bài Họa


Ðừng nhắc chuyện buồn chuyện nước non
Quan văn gì nó ? Lũ quan ôn !
Chữ nhân vạn thuở không hề đổi
Bia miệng ngàn năm vẫn chẳng mòn
Vì nước vì dân mà phản động
Ðại gian đại ác lại suy tôn
Vĩ nhân thời đại, thôi đừng nói !
Dạy chúng bao giờ chúng biết ơn.

Huệ Thu


TÂM TRẠNG LÃO HỦ

I
Lão già hủ lậu bất tri thời
Canh cánh ưu tư, dạ khó nguôi
Cám cảnh giang sơn đầy hỗn loạn
Buồn lòng dân chúng mãi tan tơi
Vong nô xuẩn động, khoe tài thánh
Quỉ đỏ hung tàn, tưởng sức voi
Cố níu bạo quyền vơ vét mãi
Muôn thằng vô sỉ vẫn theo đuôi

II

Bản tính xưa nay biếng... rạp mình
Xương lưng một gióng tự sơ sinh
Theo thời, cũng muốn tìm thầy uốn
Ngán nỗi không cam chịu “chíp” hành
Cay đắng bao phen từng gánh chịu
Ngọt bùi lắm lúc vẫn coi khinh
Mặc ai chê trách, cười mai mỉa !
Thanh bạch nhưng tâm trạng thái bình !

Thái Cuồng
Houston , Ðông 2000

Huệ Thu Phụng Họa

I

Ai bảo cuồng ngông chẳng thức thời
Ngứa gan nhiều lúc khó mà nguôi
Ba câu trào phúng buồn nghiêng ngả
Một mảnh dư đồ rách tả tơi
Thây họ dư mồm toàn đánh võ
Mặc ai bã mía cứ theo voi
Gặp nhau ta hẹn ngày quang phục
Ðừng nói làm gì chuyện vuốt đuôi .

II

Nếu như bác chẳng chịu khom mình
Thì dĩ nhiên là sự phải sinh
Nếu chịu buông xuôi cam ủng hộ
Chẳng cần suy nghĩ cứ thi hành
Ngọt bùi cuộc thế đâu là trọng ?
Cay đắng đường trần vẫn phải khinh
Mừng Bác từng noi gương chính khí
Mai về đất nước hưởng thanh bình .

Huệ Thu

BIẾNG

Biếng ăn, biếng ngủ, biếng “lo vơ”
Biếng cả “in doi”, biếng cả... sờ
Mặc kệ ai kia chê “cả quỷnh”
Bất cần kẻ nọ riễu tay mơ
Buồn tình đả kiết dăm thằng ngợm
Cao hứng ngâm chơi mấy đoạn thơ
Xướng họa say mê, quên mệt mỏi
Mấy ai hiểu rõ biếng hay ... khờ ?...

Thái Cuồng


BIẾT AI KHỜ

Ðô thành hoa lệ vẫn bơ vơ
Cái lũ đuôi voi chẳng được sờ
Vào đất tạm dung nhiều chuyện lạ
Quay về cố quốc một cơn mơ
Lẽ nào buồn tại không tiền triệu
Ðành cũng vui vì có bạn thơ
Chút ít mê say là lãi đó
Ai rằng cao quý biết ai khờ ?


Huệ Thu

Thanh Khí Tương Tầm

Người Nam, kẻ Bắc nối duyên thơ
Ngàn dặm xa xôi, chẳng hẹn hò
Xướng họa thi ca, đời cá nước
Ứng cầu thanh khí, kiếp tằm tơ
Luật, vần nghiêm cẩn, không gò ép
Lời , ý thanh tao, chẳng mập mờ
Tri kỷ qua vần thơ xướng họa
Tinh thần phóng khoáng, dạ chân như .

Thái Cuồng

Vẫn Cứ Như

Chẳng hiểu vì sao nợ mãi thơ
Nào ai đã hẹn, có ai hò
Bởi vì còn giấy nên in sách
Chắc hẳn vì tằm phải nhả tơ
Thương nỗi đường xa đầu gối mỏi
Nhớ khi nhà vắng ngọn đèn mờ
Chợt nghe khúc hát bên hàng xóm
Ta vẫn là ta vẫn cứ như...

Huệ Thu



Mặt Trái Xứ Cờ Hoa


Hội nhập Cờ Hoa, xét kỹ rồi !
Có đâu như lũ xẩm “sờ” * voi ?
Vô luân, bất hiếu, coi rành rẽ
Bại tục, đồi phong, thấy rạch ròi
Xã hội lung tung nhiều ... thứ lạ
Gia đình lộn xộn lắm trò vui
Ngán thay trẻ nít ham dùng súng
Bạn học, thầy, cô đã ... bỏ đời !...

* Câu kết của bài thơ do Huệ Thu họa vần bài thứ 4 trong
Liên hoàn “Kiều Cư Cảm Tác” như sau:
Hội nhập cho nhanh, đời sẽ khá
Ðứng ngoài chi mãi, mỏi tay “sờ”...

Thái Cuồng


Có Cuộc Ðời


Nhập tịch chưa ông ? - Ðã nhập rồi
Thôi thì xuống chó, lại lên voi
Ô long đôi lúc dường không chát
Phó mát nhiều khi cũng có ròi
Ở đất Hoa Kỳ nhiều chuyện lạ
Dưới trời lưu lạc lắm trò vui
Ðồng tiền sấp ngửa đều hai mặt
Có thế cho nên có cuộc đời !

Huệ Thu


Gửi Thi Sĩ Huệ Thu


Quý hữu xa xôi, chẳng thấu cho
Lão đây đại kị món “ro - ro”
Phì phèo thuốc lá, chưa từng thử
Nhấm nháp men cay, đã chịu thua
Mấy tách trà thanh tẩm buổi sáng
Vài lưng cơm, chắc dạ ban trưa
Niềm vui chỉ có “thơ con cóc”
Mọi món ăn chơi, vốn hững hờ

Houston Ðông 2000
Thái Cuồng

Biết Ðâu


Bác Thái Cuồng ơi bác hiểu cho
Hình như thơ hợp với vần ro
Cũng đùa đôi chút dầu hơi kém
Ðừng nhắc làm gì chuyện được thua
Lý Bạch rượu vào thơ lại tỉnh
Ðinh Hùng khói đậm ngủ càng trưa
Tưởng rằng tuổi bác đều như thế
Ai biết ăn chơi bác hững hờ !

Huệ Thu










Ðạo Người


Người và thú vật khác chi nhau ?
Khác ở nhân luân đứng hạng đầu !
Kính mẹ thờ cha, lo giữ trước
Thương anh mến chị tiếp theo sau
Vợ chồng phối kết, ân tình nặng
Bè bạn giao du, tín nghĩa sâu
Ví bỏ nhân luân cùng đạo đức...
Loài người, giống vật khác chi đâu !!!...

Thái Cuồng


ÐÓ CHỨ ÐÂU

Nay đã quen nhau đã biết nhau
Dẫu chưa ý hợp chẳng tâm đầu
Vào ra vốn dĩ theo nền nếp
Ăn ở từ xưa có trước sau
Ðất nước tình kia là chất ngất
Mẹ cha ơn ấy thật cao sâu
Lời người hậu bối xin ghi dạ
Ðạo đức luân thường đó chứ đâu .

Huệ Thu

Tái Họa Bài Cứ Tưởng Bở
(do Huệ Thu họa nguyên vận)

Hận lũ lưu manh khéo lật lường
Dồn nhau mãi mãi tới chân tường
Con đua làm mướn cần mua “xế”
Mình ngại ăn xin chẳng nhận lương
Ngồi ngắm tranh đời nơi khách địa
Lãng quên súng nổ chốn sa trường
Ðợi ngày quang phục Giang Sơn Việt
Coi Cộng quân đền nợ máu xương .

Thái Cuồng


Ðói Trơ Xương

Trò đời điên đảo biết sao lường
Phải cố truy nguyên thật tỏ tường
Sấp mặt cầu xin vài hột vãi
Còng lưng để nhận mấy đồng lương
Ðền đài miếu vũ chưa chung cuộc
Mũ áo cân đai cũng hý trường
Máu đỏ da vàng thân phận ấy
Ðồng bào lụt lội đói trơ xương

Huệ Thu

Tái Họa Hoa Kỳ Hết Khôn
(do Huệ Thu họa nguyên vận)

Có lẽ ta nay quẩn quá rồi
Ngồi trên mặt đất, ngỡ ngoài khơi
Nhìn ai “Kính” mẹ đâm ra sợ
Thấy họ “thờ” cha bỗng bật cười
Mỹ quốc văn minh nhiều kiểu... nhẩy
Huê Kỳ tiến bộ lắm “phom” * ... chơi
Nên chăng nhất nhất đều theo... Mỹ
Nhắm mắt đưa chân, bỏ Ðạo Người ?

* form
Thái Cuồng


Tờ Lịch Cuối Năm
(Sao ÐượcCho Ra Cái Giống Người)

Tờ lịch cuối năm đã bóc rồi
Nhớ khi vào biển trốn ra khơi
Cái vần bằng trắc vui mà khổ
Cuộc sống bon chen khóc lẫn cười
Tài tử góp vào cho biết mặt
Phong lưu lấn tới thử mà chơi
Tú Xương chợt nhớ, xưa người chúc :
Sao được cho ra cái giống người .

Huệ Thu

Ðố Ai ...

Thái Cuồng, nguyên bút hiệu : Vi Thiềng
Vốn thẳng lưng hoài, khó ngả nghiêng
Chửi bọn gian manh chuyên cúi rạp
Gặp hồi quốc biến suýt ... lăn chiêng
Mới qua nước bạn liền lo viết
Vốn đã quên hèn chẳng chịu kiêng
Bút hiệu thường gần tên chính thức
Ðố ai đoán trúng được tên riêng .

Thái Cuồng

Biết Làm Gì

Nếu chẳng Vi Thiềng sẽ bất Thiềng
Ðừng nên nhìn thẳng phải nhìn nghiêng
Áo quần thuở ấy ba trò nhảm
Hương, bái * ngày nào mấy tiếng chiêng
Thơ phú việc này thôi cứ việc
Lợi danh món ấy cũng nên kiêng
Ở đời biết lắm càng thêm mệt
Có cái chung mà có cái riêng !

* Ðứng lên, cúi xuống , mấy tiếng hô ở Ðình Làng ngày trước mỗi khi tế lễ (Tiếng Hương là do chữ Hưng là đứng dậy đọc trại ra)

Huệ Thu

Nịnh Dư Hay Tiếp Dư ?

“Nịnh Dư” hay “Tiếp” , có hề chi ?
Cuồng Sĩ xa xưa , sá kể gì ?
Luận Ngữ Ðại Toàn khôn kiếm được
Thi Thư chính bổn khó tìm ghê
Tam sao, thất bản do dâu bể
Thập gia, đơn châu trải loạn ly
Thánh, Trạng xưa kia còn thiếu sót
Mình nay cố chấp mãi đâm ... “quê”

Thái Cuồng


Chẳng Hề Chi

Ðã biết rằng là chẳng có chi
Nịnh hay là Tiếp đã hề gì ?
Tam sao thất bản thôi thì kệ
Tứ đốm, tam khoanh * thật chán ghê
Bỏ nước vui gì câu trích cú
Xa nhà buồn mãi chuyện chia ly
Ông ơi ! Việc lớn sao không luận ?
Luận chuyện trời ơi thật cũng quê .

* Tục ngữ

Huệ Thu

Mời Bác Thái Cuồng Họa

Vi thiềng bổng lộc cũng nhiều khi *
Có đó rồi không nghĩa lý gì ?
Tri túc ** nhìn đời đâu đáng chán
Thái Cuồng *** nệ sách chỉ là vì ...
Thơ xem trước án toàn mơ hão
Rượu uống trùm chăn lại ngủ khì
Ở nước Cờ Hoa tân tiến ấy
Vi Thiềng bổng lộc vẫn cu ky .

*Vi Thiềng là của đút lót , các quan được tiền người ta vi thiềng cho gọi đó là bổng lộc . Thiền là chữ thành đọc trại đi .
** Tri Túc : Biết đủ
*** Thái Cuồng nghĩa là điên quá, hiểu theo nghĩa đen

II

Bỗng dễ vào tay bác Thái Cuồng
Ðã Cuồng chữ nghĩa chỉ còn suông
Vi thiềng khó thể làm nên chuyện
Tận lực may ra sắm nổi tuồng
Ga xép nhớ ngày nằm Phủ Lý *
Hồ to mơ buổi dạo Thuyền Cuông **
Tháng Tư rã đám còn chi nữa
Lớn nhỏ đem đi nhốt một chuồng!

* Bác Thái Cuồng hình như người Phủ Lý (nay thuộc Nam Ðịnh ?)
** hồ Thuyền Cương ở Hà Nội

Huệ Thu





Kính Gửi Bác Thái Cuồng

I

Hậu sinh xin lỗi bậc đàn anh
Viết lách xem ra mới tập tành
Bởi chẳng nhún nhường nên láo lếu
Dù chưa kiêu ngạo cũng đành hanh
Ðiển chương học lóm tuy đồ bỏ
Thi phú làm ra vẫn hạng sành
Có khách văn chương còn chiếu cố
Nhìn ra gió động bức mành mành

II

Vẫn đọc lâu nay bác Thái Cuồng
Nước người bắt chước cũng đem chuông
Chiều chiều trước án câu thơ cũ
Tối tối bên đèn chén rượu suông
Họ ghét họ rằng khôn hóa dại
Người thương người bảo méo thành vuông
Luật thi như bác bây giờ hiếm
Chúng cứ nhi nhô mấy tấn tuồng.

III

Bác cũng người cuồng nước Sở ư ?
Văn chương còn mối hận phần thư
Chưa theo được gót người Công Trứ
Ðừng học trò ngông gã Tiếp Dư
Ðã giận câu thơ thời khứ quốc
Và chung mối hận kẻ di cư
Giữa trời nguyên tử, thời khoa học
Bác vẫn đề cao bách thế sư.

Huệ Thu


Thái Cuồng Chúc Tết Huệ Thu

Lại Một mùa Xuân nữa tới rồi
Chân thành chúc quí hữu đôi lời
Huệ Thu thi sĩ tăng khang thái
Bác sĩ nha khoa đại phát tài
Phóng bút vui đề câu cẩm tú
Ra tay tái tạo vẻ xinh tươi
Xuân về sáng tác thêm phong phú
Thi phẩm lừng danh khắp mọi nơi .

Thái Cuồng
Xuân Tân Tỵ


Bài Họa

Một năm mới đó đã qua rồi
Ða tạ lòng nhau viết mấy lời
Vui cùng thiên hạ ba câu chúc
Góp với nhân gian một chữ tài
Tồ Quốc Bắc Nam đều hỉ hả
Gia đình trên dưới thẩy vui tươi
Việt Nam dân tộc luôn hưng Vượng
Hạnh phúc tràn đầy dâng mọi nơi .

Huệ Thu

THƠ LÁO


Thiên hạ chê bai món cổ văn
Lão nay chỉ khoái lối thơ vần
Phanh phui thủ đoạn phường buôn máu
Ðã kích hành vi lũ phản dân
Ngòi bút chưa cùn, tay chửa mỏi
Nguồn thơ chửa cạn, óc chưa cần
Nhiều tay chê lão mần thơ ... “láo”
Láo đấy ! Nhưng mà láo ... có căn !

Thái Cuồng


HỎI AI YÊU NƯỚC THƯƠNG NÒI


Vận nước xem chừng vẫn chửa thông !
Nhìn lui, ngó tới cánh lưu vong
Nhân danh chính giới chuyên bàn nhảm
Mượn thế cộng đồng chỉ nói suông
Quốc nội liên tôn đang tử chiến
Bạo quyền Việt Cộng chẳng khoan dung
Mấy tay tẫu quốc đang ...” bôn tẫu”
Nằm nệm “cao su”, nếm ... mật ong ! ...

Thái Cuồng

THƠ LÁO
(bài Họa)


Cổ văn chưa học, mới kim văn
Nói Tự Do , thơ khỏi phải vần
Chữ chữ khơi nguồn cho mấy cõi
Lời lời tác dụng , đến toàn dân
Ôm hoài khuôn sáo thưa không lợi
Giữ đúng trường quy hỏi có cần ?
Miễn viết làm sao thiên hạ hiểu
Thế nào là bản ? Thế nào căn ?

Huệ Thu

Họa Bài
HỞI AI YÊU NƯỚC THƯƠNG NÒI

Chửa thông mình hãy thử khai thông
Vong quốc nhưng tâm vẫn bất vong
Tranh đấu phải cần nhiều chước lạ
Hô hào đâu chỉ mấy lời suông ?
Ngẩng đầu vui đón Xuân Quang phục
Cúi mặt buồn trên đất tạm dung
Năm mới xin quay về nước cũ
Lẽ nào tổ chức lại thua ong ?

Huệ Thu

ƯỚC MONG

Dù ai “tẩu quốc” sống ung dung
Nằm “củi” cao su, nếm mật ... ong
Giới trẻ hăng say đang vận động
Sinh viên sốt sắng đã xung phong
Toàn cầu chính giới đang can thiệp
Bốn bẻ kều bào quyết góp công
Nội ngoại đồng tâm lo phục quốc
Ðập tan giặc Cộng, cứu non sông

Thái Cuồng

Ước Mong

Tôi tuy võ vẽ học trung dung
“Tự đắc” (1) dù cho phận kiến ong (2)
Ðừng tưởng dã sài (3) cùng bạc hạng (4)
Cần gì minh nguyệt với thanh phong
Chưa đem công sức ra khai thác
Dễ lấy thi ca vội tấn công
Tị nạn lẽ ra cam với phận
Bể kia bát ngát góp muôn sông

(1) Quân tử tố kỳ vi nhi hành ...
Quân tử vô nhập nhi bất tự đắc yên : người quân tử chiếu theo địa vị mà hành sử - Quân tử không ở chỗ nào mà không thấy thoải mái cả (trung dung)
(2) Con ong cái kiến kêu gì được oan
(3) Dã sài : củi tầm thường
(4) Bạc hạng : Ngõ nghèo

Huệ Thu

TẾT HAI MẶT

Tết đến nơi rồi, các bạn ơi !
Có ai nghỉ Tết giống thằng tôi ?
Nhìn về Giao Chỉ bao người khổ
Ngó lại Huê Kỳ lắm cảnh vui
Hội chợ vui Xuân , chơi mệt nghỉ
Nhẩy đầm họp bạn , “nhót” quên thôi
Bầu, cua, cá, cọp bao tên khoái
“Cầy” cả năm theo mấy trận ... cười

Thái Cuồng


Họa Bài Tết Hai Mặt

Tờ lịch cuối cùng bạn hữu ơi !
Tết này ai có nhớ thương tôi ?
Ca vài bản nhạc tuy không tẻ
Học mấy vần thơ kể cũng vui
Chợt thấy nắng xanh màu nắng mới !
Bỗng buồn mình biết lấy mình thôi
Chỉ vui , chỉ Tết khi dân chủ
Cờ tự do bay, bát ngát cười .

Huệ Thu


Món Vi Thiềng
(Giảng bài Ðố Ai)

Thông lệ muôn đời chẳng biến thiên
Mấy ngài đảm nhiệm việc công quyền
Tiền lương, chính phủ lo cung cấp
Bỗng ngoại, thằng dân vẫn biếu riêng
Quan lớn dạy : “Làm chi vẽ sự”
Dân đen bẩm : “Có chút Vi Thiềng”
Cho nên quan chức luân giầu lớn
Do đám cầu ân huệ ... “Lễ” tiền

Thái Cuồng

Bài Họa

Người xưa nước Kỷ lại ưu thiên (1)
Việt Cộng nhi nhô chuyện cửa quyền
Ông bự chỉ lo vơ lộc lớn
Của chung khổ nỗi lại tình riêng
Vuốt ve con đỏ là chuyên nghiệp
Nặn bóp dân đen vốn thập thiền (2)
Ðã bổng (3) làm sao không có lộc (4)
Thi nhân mà cũng kiếm ra tiền !

1 - Người nước Kỷ lo trời đổ (Kỷ nhân ưu thiên . Cho nên cụ Bùi Kỷ mới lấy tự là Ưu Thiên)
2 - Thiền là chữ thành đọc trại ra
3 - Tên Tiên Sinh là Bổng,
4 - Lộc là của đút lót (Vi thiền)

Huệ Thu

Cảm Nghĩ Về ... Xuân

Mấy độ mai , đào nở rộ hoa
Có ai cảm thấy tuổi thêm già
Ðường lên thượng giới dường thu ngắn
Nẻo xuống A Tỳ cũng bớt xa
Các đấng tu hành mau đắc đạo
Những tên Cộng Sản hóa ra ma
Gian thương, lái súng, phường buôn máu ...
Sắp sửa đầu thai kiếp độc xà

Thái Cuồng
Houston, Xuân Tân Tỵ

Bài Họa

Khắp chốn nhìn đâu cũng thấy hoa
Hỏi Xuân sao lại có Xuân già ?
Thiên đường nẻo ấy cho dù ngắn
Ðịa ngục đường kia cũng vẫn xa
Gió bụi mà chưa là quỷ sứ
Nhục vinh thây kệ lũ yêu ma
Thôi về gối sách ngâm thơ cổ
Nâng rượu đầy ly cứ “nhẩm xà”!

Huệ Thu

Tặng Vi Thiềng (tức Tham phịa)

Tham “phịa” phen này lại “đánh soong” (1)
Khen thay chú cháu quả tinh khôn !
Ba mươi năm lẻ còn chưa ngán
Năm chục xuân dư vẫn chẳng chồn
Soong Nhật, soong Tây đều “uýnh” tuốt
Soong Anh, soong Mỹ cũng thầu luôn
Dường như muốn đánh thêm xoong Ðức
Rất tiếc em không luyện “võ luồn” (2)

(1) Biệt ngữ chỉ việc học ngoại ngữ có ý riễu cợt người học làm bồi bếp cho ngoại quốc
(2) Chỉ hành vi nịnh nọt, luồn cúi kẻ có quyền

Hải Pháo

Ðây là bài thơ của ông anh họ, hiệu là Hải Pháo tặng Vi Thiềng khi tôi học tiếng Anh - Saigòn hè 1977


Bài Họa

Xưa kia nào “mẹc” lại “cô soong”
Nay nói hê lô đã biết khôn
Lo vét cho đầy làm lũ cáo
Lủi đâu cũng lại tấm thân chồn
Nô nô, yes yes làm ta hoảng
Ô kể ô kê chúng sợ luôn
Soong Pháp hay là soong của Nhật
Hoa Kỳ soong mỡ dễ ta luồn !

Huệ Thu

Nhận được loạt bài thơ họa vần của cô, tôi đã đọc một cách rất kỹ càng, say mê và thích thú, trong đó có câu kết của bài : “Kiều Cư cảm Tác” là : “Ðứng ngoài chi mãi mỏi tay... “sờ”, làm tôi thắt mắc, suy nghĩ mãi, và đã nẩy ra mấy bài họa lại và vài bài thơ bày tỏ tâm trạng một cách chân thành, nếu có gì sơ xuất, có thể gây hiểu lầm, mong cô vui lòng tha thứ...

Thái Cuồng

Thưa Bác Thái Cuồng,
Ðược xướng họa thơ với bác là vui rồi , lẽ nào cháu còn dám trách móc, xin bác chớ quá nhún nhường...

Huệ Thu



TỰ THUẬT

Thiên hạ cho rằng lão hủ nho
Biết đâu lão đã sắm bao trò
Vai Tây đóng mãi nên đâm chán
Trò Nhật chưa từng mới thử qua
Màn kịch Huê Kỳ đang tập diễn
Ðồi phong Mỹ quốc khó dung hòa
Ðóng hoài “kịch cục” trong thiên hạ
Xét chẳng chi bằng đạo lý ... ta

Xuân Tân Tỵ
Thái Cuồng
Vận bài này hơi trúc trắc cháu xin được phép miễn họa
HT
Giã Từ Xướng Họa

Nhắn người tri kỷ một đôi lời
Xướng họa duyên thơ có thế thôi !
Cánh nhạn đi về chưa chút mỏi
Nguồn thơ xúc tích chẳng hề vơi
Ngặt vì gia sự đang bề bộn
Nên khiến nhân tâm khó thảnh thơi
Thầm ước duyên thơ còn hứa hẹn
Giã từ Xướng Họa chỉ lâm thời !

Houston, đầu Xuân Tân Tỵ Thơ

Thái Cuồng cẩn bút
(2001)


***
*

 

 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.
trinh quang ngoc Oct 13, 2018
tho hay qua