May 19, 2019

Tác giả

Đoàn Nguyễn Tuấn
Đoàn Nguyễn Tuấn quê làng Hải Yên, huyện Quỳnh Côi (nay là làng Hải An, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ), tỉnh Thái Bình.

Ông là con Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục (1718-1775)[1], đại thần thời Lê Mạt, là con rể Tiến sĩ Nhữ Đình Toản (1702-1773) và là anh vợ thi hào Nguyễn Du (1765-1820).

Ông thi đỗ Hương cống (Cử nhân) đời Lê (vào khoảng đời Cảnh Hưng), nhưng không ra làm quan. Khoảng 1786, ông có tụ họp người làng bàn chuyện dấy binh giúp Trịnh Bồng (ở ngôi chúa: 1786-1787), nhưng việc không thành.

Cuối năm 1787, ông cùng Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm ra giúp nhà Tây Sơn; ông được cử giữ chức Hàn lâm trực học sĩ (1788).

Tháng 9 năm sau (1789), ông được giao nhiệm vụ đón tiếp sứ giả nhà Thanh sang phong vương cho vua Quang Trung (ở ngôi: 1788-1792).

Năm sau nữa (1790), ông cùng Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, được cử vào sứ bộ của vua Quang Trung giả, sang Trung Quốc triều kiến vua Càn Long. Khi trở về nước, ông được thăng làm Tả thị lang bộ Lại, tước Hải Phái hầu.

Sau khi vua Quang Trung mất đột ngột (1792), ông tiếp tục giúp vua Cảnh Thịnh (ở ngôi: 1792-1820) cho đến khi triều đại Tây Sơn sụp đổ.

Chưa biết năm mất của ông và cũng không rõ ông có ra làm quan thời Gia Long (ở ngôi: 1802-1802) hay không.


Đoàn Nguyễn Tuấn chỉ để lại một tập thơ chữ Hán Hải Ông thi tập [2](còn có tên khác là Cựu Hàn lâm Đoàn Nguyễn Tuấn thi tập), gồm: 236 bài thơ; 5 bài phú, hành, ca...

Do thơ chép trong bản thảo[3] không theo trình tự nào, nên nhóm tác giả sách Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn, đã căn cứ vào nội dung thơ mà chia thành hai mảng:

Thơ văn làm ở trong nước: 139 bài.
Thơ văn làm khi đi sứ và bang giao: 102 bài.

Tất cả các bài của tác giả Đoàn Nguyễn Tuấn:

Chưa có bài nào trong mục này.