Giọt Nhớ Sương Tan


                        Hạ Quốc Huy


…tương truyền rằng những người tìm trầm trong rừng sâu, phải ngậm ngải để khỏi lạc lối về. Tôi không ngậm ngải, chỉ ngậm đắng cay. Tôi không tìm trầm, chỉ tìm một giọt nhớ nơi nàng, cho dù giọt nhớ ấy đã tan trong sương…

1*
Đã ba mùa mưa về xuôi trên tóc
Như một bất chợt hỏi lại thời gian
Nhòe trang thư giọt nước mưa chan
Tôi quay quắt trong vòm xanh kỉ niệm

2*
Đã ba mùa đông sũng ướt nỗi niềm
Cái lạch cạn nay thành con suối đổ
Áo hào hoa đã bạc màu gian khổ
Mà phong sương cay nghiệt vẫn chưa buông

3*
Đã ba mùa mưa đường chia đôi ngã
Nhớ làm sao cơn nắng hạ thân yêu
Có loài hoa sớm nở tàn chiều
Mình sợ lắm, tình nàng thay đổi

4*
Cuộc tóc tơ ưa thử đá thử vàng
Người bỏ cuộc vẫn là người hay nhẹ dạ
Từ một cánh rừng già đang thay lá
Tôi níu hoài không giữ được hoàng hôn

5*
Bỏ mặc ta cho núi rừng mưa gió
Người quay đi quên mất câu thề
Trong tình em bỗng dưng thành bất hạnh
Gọi hồn ta thảng thốt điên mê

6*
Niềm đau đớn hôm nay. Ngày sau vẫn thế
Nghiệt ngã, bồi hồi trong nhịp thở hỗn mang
Xin đừng mắng tôi , người tù điên thuở…
…Ngậm ngải từng giờ tìm giọt nhớ sương tan.

Hạ Quốc Huy
Tổng trại 2 Kỳ Sơn Quảng Nam
Bịnh xá trại mộc, 1977

 
 

ĐÔI GIÒNG VỀ MỘT BÀI GIỌT NHỚ SƯƠNG TAN


Bài Giọt Nhớ Sương Tan nầy tôi viết trong thời gian giả ho lao nằm Bệnh xá ở trại Mộc thuộc Tổng trại 2 Kỳ Sơn Quảng Nam.

Xin vắn tắt, bỏ qua một số chi tiết vì dài quá. Lý do tôi phải giả ho lao vì tại trại 2 Kỳ Sơn trong một buổi đi nhổ cỏ đậu, tôi bị chửi, đánh, nạt nộ bắt quỳ. Lầm lì nhìn trời, nó chửi, nó nghe. Tôi bị đánh, nghiến răng chịu, không thể chống cự. Nhưng nhất định không quỳ. Tôi tự nhắc mình là kẻ sĩ. Đã là một họa sĩ tên tuổi. Là một võ sư Trưởng Tràng. Là một sĩ quan Miền Nam.. Phải bảo vệ. Phải bảo vệ. Không quỳ. Không quỳ là không quỳ. Danh dự cuối cùng của một thằng thua trận, của một kẻ sĩ Miền Nam. Cùng lắm nó bắn gục thì ráng chống cuốc đứng lên. Đứng thẳng chết. Chết cho ngon. Chết mà Mẹ tôi hãnh diện có thằng con khá. Không uổng công bà thủ tiết thờ chồng nuôi con.

Từ Hải ngang dọc, chết đứng vì vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề Thúy Kiều. Hạ Quốc Huy nầy chưa được ngang dọc. Nay chết đứng vì kẻ thù. Chỉ tiếc là kẻ thù chỉ là một tên lính nhóc miệng còn hôi sữa. Mà cũng không có sữa để hôi.

Cho tới khi nó hét liên tục tau biểu mầy quỳ xuống, quỳ xuống…Bị dộng hộc máu, bị nạt ra lệnh tới tấp. Tôi đột nhiên không còn tự chủ được. Nghiến răng hừ lại, quắt mắt long lên như một con hổ cùng đường. Tên lính cảnh vệ điên tiết hạ mũi súng nả ngay một viên AK 47 vào chân. Phước đức ông bà để lại, đạn lọt vào giữa 2 chân. Trúng vào chiếc dép râu bàn chân trái.

Mạng ông thầy bự lắm các con ạ. Cắc ké kỳ nhông như chúng bây chưa đủ tầm giết ông đâu.

Ngay trưa hôm đó khi về trại, anh em biểu tôi tìm cách đừng đi làm chiều nay vì sợ tên Cảnh vệ đó nghe lũ chúng xúi, sẽ bắn lần thứ 2. Nghe lời anh em, tôi xuống nhà y tế. Trước sân nhà y tế có một cây bã đậu. Thứ cây quỷ quái nầy chỉ cần vài lá rớt vào chum nước , uống vô là đau bụng thí tổ. Ngồi lén nhai nuốt mấy chiếc lá. Muốn chắc ăn, tôi nhai nuốt luôn 1 quả tươi. Đắng nghét. Chỉ chừng 5 phút sau bụng đau quằn quại, nôn ọe, mửa ra cả mật xanh mật vàng.
Chiều hôm đó tôi được Trung úy Toàn là người coi tổ y tế chứng nhận bịnh cho nghỉ, vì tôi mửa và ôm ruột giả đau, có anh ấy thấy. Mà thiệt tình là đau lắm.

Tối hôm đó tôi nấu một lon gô trà đậm . Uống để thức, khỏi ngủ. Hút thuốc Lào hết hơi nầy đến hơi khác, đi tới đi lui khục khặc giả ho. Tôi phải giả như như ho lao thật vì biết chắc, trước sau gì cũng có ăngten báo cáo.

Nhờ hút thuốc Lào cả đêm, sáng ra đờm xanh lè đặc quánh. Tôi khạc đờm vào một mảnh sành, cắt máu nhỏ giọt vào. Khi quậy với đờm, máu không tan ra trong đờm mà giây ra thành từng dây máu. Màu đỏ của máu lẫn trong đờm xanh. Đẹp như ngọc. Gớm và dễ sợ như đờm ông ho lao gần chết. Đưa xuống tổ y tế chứng minh ho ra máu.

Nhờ vậy tôi khỏi đi lao động, khỏi ra rừng ngày hôm sau. Vì nếu ra rừng là chúng sẽ dễ dàng tìm cách bắn nữa.Vì vậy tôi phải tìm phương kế bất chấp hủy hoại thân xác mình, để thoát khỏi cái trại với thằng cảnh vệ hắc ám đầy hận thù nầy.

5 ngày liên tiếp giả ho, thức suốt đêm, sáng khạc đờm, cắt máu trộn tươi, kèm thêm uống 2 viên thuốc chống sốt rét cực mạnh. Thuốc Chloroquine của Mỹ, bình thường mỗi sáng thứ 2, Tiểu đoàn 10 Chiến Tranh Chính Trị chúng tôi làm lễ chào cờ đầu tuần. Từ Tiểu đoàn trưởng xuống binh sĩ, mỗi người được phát 1 viên. Phải uống 1 viên trước mặt ông Thượng sĩ y tá Quân Y. Nghĩa là chỉ được uống 1 viên một tuần. Khoảng chục phút trước khi xuống tổ y tế khám bịnh, tôi nhắm mắt nuốt 2 viên. Chốc lát là đầu hoa lên, sao đóm chập choạng bay múa trước mặt. Nhà cửa cây cối nghiêng qua đổ lại. Hai chân đi như hỏng khỏi mặt đất. Mạch nhảy cao, tim đập hỗn loạn. 2 tròng mắt khờ đi,lồi ra. Mắt thụt sâu vô hố mắt trên khuôn mặt hốc hác tiều tụy. Hai viên chloroquine Mỹ, cho mỗi buổi sáng bụng còn đói, tàn phá thân thể, máu, óc hết biết. Biết, nhưng phải uống để mạch lên cao như bị sốt thì mới thể hiện bịnh nặng được.

Chỉ trong 5 ngày sau khi bị bắn, cọng thêm nỗi thất thần vì sợ ban đêm chúng lôi ra bắn rồi hô là trốn trại, người tôi gầy rộc xuống, như một xác ma . Y tá trại thấy tình trạng thê thảm vậy, phải báo cáo lên ban giám đốc trại chuyển tôi đi bệnh xá gấp vì sợ lây cho anh em khác.

Tại đây bài thơ GIỌT NHỚ SƯƠNG TAN nầy, sau bài Biến Thành Con Vượn Hú, được đau đớn viết ra khi đã bị người con gái quay lưng bỏ mặc tôi cho núi rừng mưa gió.

Cũng bài thơ GIỌT NHỚ SƯƠNG TAN NẦY nầy có một kỷ niệm với nhà thơ Hoàng Lộc. Tôi không hy vọng ông nhớ, vì chuyện chỉ nhỏ như con thỏ với ổng.
Số là trong thời gian trước Giáng Sinh độ chừng 1 tháng. Tất cả tù binh các trại 1, 2, 4…được lệnh tập trung về trại 3 Kỳ Sơn học tập. Trại nầy tương đối dễ thở hơn, vì mỗi buổi chiều sau khi học tập, được ra khỏi cổng trại quanh quẩn tìm rau cỏ cải thiện.

Tôi lủi vô một bãi sắn, tìm rau má, cải trời, bồ công anh hoặc thứ gì có thể bỏ vô miệng được, hoặc móc trộm một củ sắn nhai sống tại chỗ…thì tình cờ gặp thi sĩ Hoàng Lộc (ở trại 4 thì phải). Tôi quen Hoàng Lộc khi ổng thuyên chuyển về bộ chỉ huy Tiểu đoàn 10 Chiến Tranh Chính Trị. Trung úy Hoàng Lộc làm ở Ban 3 hành quân, huấn luyện, kế hoạch… Tôi làm trưởng ban Ấn Họa, trông coi một nhà in offset tối tân nhất Quân Khu 1 vùng 1 Chiến thuật. Khi đó Hoàng Lộc đã là một nhà thơ trẻ, nổi bật cùng với Luân Hoán, Thành Tôn, Thiếu Khanh , Đinh Trầm Ca, , Hà nguyên Thạch, Phan nhự Thức, Vũ Hữu Định, Thái Tú Hạp , vv…(xin lỗi vì quên tên một số tài danh khác của QN). Họ đa số là dân Quảng, thơ trên các báo dân sự như Bách Khoa, Văn. (Còn tôi thì vẽ, thơ trên nguyệt san Tiền Phong của Tổng chục Chiến Tranh Chính Trị, số ấn bản hạn chế chỉ dành cho sĩ quan VNCH, và loanh quanh trong các báo của các quân binh chủng bạn)

Trở lại với Hoàng Lộc. Câu chuyện bình thường giữa 2 thằng tù ở 2 trại khác nhau. Mừng gặp lại sau mấy năm tù tội. Tôi chắc là ông đã quên. Riêng tôi thì nhớ vui với người thi sĩ chuyên trị thơ tình hiền lành lù khù rinh cái lu mà chạy nầy. Hihi.

Tôi và HL nhìn quanh, không có ai. Ngồi xuống bên nhau (quy chế tù các trại không được trò chuyện, trao đổi khi gặp nhau). Tôi quan sát kỹ thêm, không thấy Cảnh Vệ và tù khác, bèn moi bài thơ Giọt Nhớ Sương Tan dấu trong lai quần ra cho chàng đọc . HL đọc tới lui vài lần. Tôi nghĩ vậy, vì thấy lâu, không phải đọc thoáng qua.

Đưa lại tôi bài thơ, HL khen hay quá. Có hỏi thêm một câu trật lất, ngớ ngẩn, nhưng đậm đặc, đầy chất Quảng Nam : Huy làm hả?
Tôi không kịp suy nghĩ gì hết, trả lời : mình chớ ai. Còn ai trồng khoai đất nầy.
Câu chuyện chấm hết. 2 thằng tù lảng ra, lại tiếp tục tìm rau. Lẽ cố nhiên cái thơ nhỏ hơn cái đói thường trực trong tù.

Mãi đến bây giờ, qua bao dâu bể, nhớ lại chuyện 40 năm qua. Có lẽ vì dưới bài thơ tôi không đề tên mình, đề phòng rủi bị chụp thì có cớ chối nói là thơ tiền chiến của cha nội thi sĩ Việt Cộng nào đó (đã bị chụp mấy bài thơ khác. Đã chối phéng lung tung. Đã bị làm kiểm điểm dài dài. Cái mục phải bị kiểm điểm thì tại hạ bảo đảm không ông tù nào vượt qua số lượng của tôi), mà HL khi đó thì không biết tôi đang bị lâm vào đoạn tình ca tận tuyệt. Hồn gần như tắt thở.

Một buổi hoàng hôn trong rừng của 2 tên tù làm thơ. Hai cái đói gặp nhau trong vạt sắn, cùng kiếm rau trong khúc đời cùng khổ. Mà còn nhẩn nha khoe thơ, đọc thơ thì đúng thi sĩ là number one, dù : đời nghệ sĩ lăn lóc gió sương. Rớt xuống mương. 3 ngày sau vớt lên sình chương. Và tôi cũng hổng biết bạn tôi, giờ đã xác nhận bạn mình chút xíu tài hoa ? có tin bạn mình tài hoa ngất ngưởng, hay tài hoa chưa tới, hay chưa tới tài hoa? Hihihaha.

Tôi viết lại cho vui, để nhớ về một thời tù đày của mấy thi sĩ sĩ quan Miền Nam mần thơ là sở trường. Không phải như bên tụi thắng trận đem cái sở đoản là mần tù dộng vào đời chúng ông.

Tiếp theo, tôi xin được post một bài thơ có tựa Phượng Giữa Mùa Đau hay Hoa Cũng Ngập Ngừng. Để tặng người con gái đánh trống trong nhạc cảnh Trấn Thủ Lưu Đồn của trường Hồng Đức mà tôi được mời làm giám khảo chấm tuyển chọn trong một kỳ thi văn nghệ toàn trường trung học Đà Nẵng, do sở Học chánh ĐN tổ chức. Bài thơ có thể không hay. Nhưng đó là một tâm tình rất thật. Vực tôi dậy, khuây khoa chút ít buồn đau. Thành những phút giây ấm áp trước ngày tôi vượt trại.

Sau, nếu không có gì trở ngại, xin được tặng Mái hiênTây để cảm ơn người đã vì xúc động thơ tôi, cảm nhận sâu xa được. Bình một số bài. Mất đi một số bạn. “Đứt gánh” với một người.
Thơ đã là một tai họa với tôi trong tù. Bây giờ ngoài đời, với nàng lại là tai ương. Huhu, chỉ biết xin lỗi nghe
Phạm Hiền Mây nữ sĩ.

 

Hạ Quốc Huy