Jun 18, 2018

Biên khảo

Đường Thi - Chủ Đề Biên Tái 13
Nguyễn Ngọc Kiên * đăng lúc 03:06:40 PM, Aug 03, 2017 * Số lần xem: 287
Hình ảnh
#1

               ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI

(Kì 13)

 Nguyễn Ngọc Kiên  chọn dịch và giới thiệu thơ

 

Đỗ Phủ 杜甫 (Thịnh Đường)

Cuộc đời thăng trầm của một thi thánh
Đỗ Phủ
杜甫 (712-770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Thời niên thiếu tính từ năm 712 khi ông mới chào đời cho đến năm 746 kết thúc đợt ngao du lần thứ ba, với khoảng thời gian 35 năm, Đỗ Phủ sống giữa thời kỳ phồn vinh của xã hội phong kiến thời Đường. Công việc chính của ông lúc này là làm thơ, ngao du sơn thuỷ. Với trí thông minh hơn người, Đỗ Phủ bắt đầu sáng
tác thơ ca vào lúc bẩy tuổi. Tài cộng với sự cần cù…

杜甫








 

Phiên âm:

TIỀN XUẤT TÁI KÌ 1 – ĐỖ PHỦ

Thích thích khứ cố lý,
Du du phó Giao Hà.
Công gia hữu trình kỳ,
Vong mệnh anh hoạ la.
Quân dĩ phú thổ cảnh,
Khai biên nhất hà đa!
Khí tuyệt phụ mẫu ân,
Thôn thanh hành phụ qua.

 

Dịch nghĩa:

TRƯỚC KHI RA ẢI KÌ 1 – ĐỖ PHỦ

Lủi thủi rời khỏi làng cũ,
Rầu rầu đi đến Giao Hà.
Nhà nước đã định sẵn ngày ra đi,
Nếu mà trái lệnh đó là tội liên luỵ cha mẹ.
Vua đất đai đã có nhiều rồi,
Thế thì còn mở rộng biên giới làm gì.
Dứt bỏ công ơn cha mẹ,
Nín khóc mà vác dáo lên đường.

 

 

 Dịch thơ:

TRƯỚC KHI RA ẢI KÌ 1 – ĐỖ PHỦ

Lủi thủi rời làng cũ

Rầu rầu đến Giao Hà

Đi  nhà nước định sẵn

Trái lệnh tội mẹ cha

Đất đai vua đã có

Còn mở rộng thêm ra

Bỏ công ơn cha mẹ

Nín khóc vác giáo qua!


(Năm 752)

"Xuất tái", "Nhập tái" là tên những bài nhạc phủ đời Hán, một loại quân ca lấy đời sống binh lính làm đề tài. Đỗ Phủ có 9 bài "Tiền xuất tái" và 5 bài "Hậu xuất tái" nói tình cảm tư tưởng của binh lính ở biên cương Tây Bắc. Năm Thiên Bảo, tướng Kha Thư Hàn đánh với Thổ Phồn, mộ nhiều lính ở Quan Trung đi đánh Tây Bắc. Đây là một chùm thơ châm biếm việc dùng vũ lực mở rộng biên cương.

 

杜甫














 

Phiên âm:

HẬU XUẤT TÁI KÌ 1 – ĐỖ PHỦ

Nam nhi sinh thế gian.
Cập tráng đương phong hầu.
Chiến phạt hữu công nghiệp.
Yên năng thủ cựu khâu?
Chiêu mộ phó Kế Môn,
Quân động bất khả lưu.
Thiên kim mãi mã yên,
Bách kim trang đao đầu.
Lư lý tống ngã hành,
Thân thích ủng đạo chu.
Ban bạch cư thượng liệt,
Tửu hàm tiến thứ tu.
Thiếu niên biệt hữu tặng,
Hàm tiếu khán ngô câu.

 

Dịch nghĩa:

SAU KHI RA ẢI KÌ 1 – ĐỖ PHỦ

Chàng trai sinh ra ở trên đời này,
Lớn lên đương nhiên là phải lập công danh.
Gia nhập quân đội ấy là xây dựng sự nghiệp,
Như thế mới giữ được xóm làng cũ.
Được tuyển mộ rồi đưa ra Kế Môn,
Việc quân thì di động không thể ở yên một chỗ.
Cái yên ngựa giá cả ngàn vàng và vũ khí,
Giá cả trăm để trang phục cho người lính.
Làng xóm tiễn mình lên đường,
Thân thích đứng chật đường để đưa.
Các cụ tóc hoa râm ngồi chiếu trên,
Rượu uống kèm nhiều món ăn.
Chàng trẻ ra đi có quà tặng,
Miệng mỉm cười nhìn con dao quý.


Những bài thơ này làm năm 755 lúc An Lộc Sơn vừa khởi binh. Đây là lời một người lính trốn thoát khỏi doanh trại An Lộc Sơn kể về những gì thấy ở biên cương

 

Dịch thơ:

SAU KHI RA ẢI KÌ 1 – ĐỖ PHỦ

Sinh ra ở đời này

Lớn phải lập công danh

Gia nhập quân đội ấy

Giữ xóm cũ yên lành

Tuyển mộ  ra Kế Môn

Việc quân luôn di động

Yên ngựa giá ngàn vàng

Vũ khí và phục trang

Làng xóm ra đưa tiễn

Thân thích đứng chật đường

Các cụ già đầu bạc

Rượu uống, thức ăn sang

Chàng trai có quà tặng

Miệng cười, dao quý  thương.

 

杜甫












 

Phiên âm:

HẬU XUẤT TÁI KÌ 2 – ĐỖ PHỦ

Triêu tiến Đông Môn doanh,
Mộ thượng Hà Dương kiều.
Lạc nhật chiếu đại kỳ,
Mã minh phong tiêu tiêu.
Bình sa liệt vạn mạc,
Bộ ngũ các kiến chiêu.
Trung thiên huyền minh nguyệt,
Lệnh nghiêm dạ tịch liêu.
Bi già sổ thanh động,
Tráng sĩ thảm bất kiêu.
Tá vấn đại tướng thuỳ,
Khủng thị Hoắc phiêu diêu.

 

Dịch nghĩa:

SAU KHI RA ẢI KÌ 2 – ĐỖ PHỦ

Sớm tới cửa trại phía đông,
Chiều tới cầu Hà Dương.
Bóng chiều tà chiếu lên lá cờ lớn,
Ngựa hí, gió lồng lộng.
Nơi bãi cát bằng phẳng có hàng vạn bộ chỉ huy,
Các đội ngũ đều tề chỉnh.
Trăng sáng treo giữa trời,
Quân lệnh uy nghiêm nên ban đêm rất yên tĩnh.
Vài tiếng tù và kêu ảm đạm,
Người lính chiến buồn nhưng không kiêu ngạo.
Thử hỏi viên đại tướng là ai vậy,
Sợ chính là tướng phiêu diêu họ Hoắc.

 



Dịch thơ:

SAU KHI RA ẢI KÌ 2 – ĐỖ PHỦ

 Sáng phía đông cửa trại

Cầu Hà Dương buổi chiều

Bóng chiều soi cờ lớn

Ngựa hí gió lộng reo

Cát bằng hàng vạn bộ

Lệnh  nghiêm đêm yên theo

Vài tiếng tù ảm đạm

Người lính buồn không kiêu

Đại tướng là ai vậy

E là Hoắc Phiêu Diêu

  

-- 杜甫












 

Phiên âm:

HẬU XUẤT TÁI KÌ 5 – ĐỖ PHỦ

Ngã bản lương gia tử,
Xuất sư diệc đa môn.
Tướng kiêu ích sầu tứ,
Thân quý bất túc luận.
Dược mã nhị thập niên,
Khủng cô minh chúa ân.
Toạ kiến U Châu kỵ,
Trường khu Hà Lạc hôn.
Trung dạ vấn đạo quy,
Cố lý đãn không thôn.
Ác danh hạnh thoát thố,
Cùng lão vô nhi tôn.

 

Dịch nghĩa:

SAU KHI RA ẢI KÌ 5 – ĐỖ PHỦ

Mình vốn con nhà làm ăn lương thiện,
Đầu quân là việc của nhiều nhà.
Vị tướng kiêu căng càng làm thêm buồn chán,
Thân này chẳng đủ bàn tới.
Cưỡi ngựa đã hai mươi năm nay rồi,
Chỉ ngại rằng ơn vua chưa trả hết.
Ngồi coi đoàn quân kỵ mã ở U Châu,
Buổi tối rong ruổi nơi vùng Hà Lạc.
Nửa đêm đi về qua đường hẹp,
Làng cũ nay thành thôn hoang vắng.
Tiếng xấu may không bị mang lây,
Thân già này khốn đốn không có con cháu.

 
Dịch thơ:

SAU KHI RA ẢI KÌ 5 – ĐỖ PHỦ

Mình con nhà lương thiện

Đầu quân việc muôn nhà

Tướng kiêu thêm buồn chán

Thân này chẳng bàn ra

Ngựa hai chục năm đấy

Chưa trả hết ơn vua

Coi U Châu kị mã

Rong ruổi Hà Lạc xa

Nửa đêm qua đường hẹp

Làng thành thôn xác xơ

May không mang tiếng xấu

Không cháu con lúc già! 



NHÀ THƠ TRƯƠNG HOÀNH -  張紘

Trương Hoành 張紘 (153-212) tự Tử Cương 子綱, người Quảng Lăng đời Hậu Hán. Ông thuở nhỏ theo học ở kinh đô. Khi chiến sự xảy ra, ông tị nạn tới Giang Đô, gặp lúc Tôn Sách 孫策 sáng nghiệp, được làm Chính nghị hiệu uý, Tòng thảo Đan Dương. Trương Hoành bày kế cho Tôn Sách nên rời khỏi Đan Dương sang Ngô quận và Cối Kê tập hợp binh mã, chiếm lấy vùng này làm căn bản, rồi thâu tóm Dương Châu và Kinh Châu để dựng nghiệp lớn. Đồng thời, ông đứng ra tập hợp thêm lực lượng theo giúp Tôn Sách. Tôn Sách qua đời năm 200, ông theo giúp Tôn Quyền, khuyên Quyền phát triển huyện Mạt Lăng làm đất đóng đô.

Năm 212, Trương Hoành qua đời khi 60 tuổi. Tôn Quyền nghe theo lời ông, dời đô đến Mạt Lăng, sau này dựng nước Đông Ngô, đổi tên đất này là Kiến Nghiệp.

 

- 張紘




 

Phiên âm:

KHUÊ OÁN – TRƯƠNG HOÀNH

Khứ niên ly biệt nhạn sơ quy,
Kim dạ tài phùng huỳnh dĩ phi.
Chinh khách cận lai âm tín đoạn,
Bất tri hà xứ ký hàn y.

 

Dịch nghĩa:

NỖI OÁN PHÒNG KHUÊ – TRƯƠNG HOÀNH

Năm ngoái xa nhau khi nhạn bay về nam,
Đêm nay cắt vải may áo, đom đóm bay.
Gần đây những người đi chiến đấu xa không còn tin tức,
Áo lạnh may xong không biết gửi đi đâu.

 

Dịch nghĩa:

NỖI OÁN PHÒNG KHUÊ – TRƯƠNG HOÀNH

Năm ngoái xa nhau nhạn theo bầy

Đêm nay cắt áo, thấy đóm bay

Người đi chinh chiến không tin tức

Áo may xong biết gửi đâu đây?

 

 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.