Aug 24, 2019

Biên khảo

Cha Rồng Mẹ Tiên dạy con cái Lạc Việt hát ca kiểu 6 – 8 lục bát từ thời nào?
LS Nguyễn Công Bình * đăng lúc 10:35:41 AM, May 01, 2018 * Số lần xem: 541
Hình ảnh
#1

.

 

CHA RỒNG MẸ TIÊN

dạy con cái LẠC VIỆT

 hát ca kiểu 6 – 8 lục bát

từ thời nào?  
     
                                                 

 

Kính Nhớ Ngày Giỗ Tổ Lạc Việt

LsNguyenCongBinh@gmail.com

Sử chép rằng  vào năm các năm 38-40 sau CN, tiếng sấm Trống Ðồng làng làng Lạc Việt cùng gầm vang lời thúc giục cứu nước theo cờ Hai Vua Trưng. Tiếng sấm Linh Thiêng của Trống Ðồng Nam Quan (thôn Bản Giốc, xin bàn trong phần sau), Ngọc Lũ (hình bên), Sông Ðà, Miếu Môn, Yên Tập, Ðào Xá Quảng Xương, Pha Long …  và cả ngàn trống đồng cổ khác cùng vang rền khiến Tô Ðịnh, Mã Viện và đoàn quân Tầu xâm lăng run sợ. Ta khó lòng nghe lại được tiếng trống xưa của Vua Trưng song có thể chiêm ngắm hình ảnh vài Trống Ðồng Lạc Việt Cổ. Nhiều Trống đã được đúc từ thời  Mười Tám Vua Hùng nay đã hơn  3000-3500 năm, và đã  rền vang Tiếng Thúc Quân Kêu Gọi Lòng Yêu Nước cả trước ngày Hai Vua Trưng sanh ra. Nhiều trống hùng dũng đi chung với đoàn quân để ra hiệu lệnh nhờ 4 chiến sĩ gánh trên vai. (Ta còn có thể gọi Cối đòng thay cho trống đồng   phải dùng chày giã  thẳng từ trên cao xuống mặt cối để làm trống gầm)  

          Song Mã Viện hiểu rõ hàng năm Nước Việt phải chịu mưa giông bão lớn lại bị nước lũ từ miền núi chẩy xuống khoảng tháng 6 tháng 7 nên năm 42 sau khi đóng sẵn thuyền chiến thì y chờ con nước dâng rồi cho nội gian đập vỡ đê khiến lũ lụt tàn phá Lạc Việt. Hai Vua phải phân tán quân lính để cứu Dân bị nạn. Hai Vua thua và tự trầm mình. Mã Viện đáng bị truy tố tội diệt chủng trước Tòa Án Quốc Tế.  Y còn phạm đại tội thóa mạ Quốc Tổ. Danh Lạc Việt  雒戉Mẹ Tiên Nuôi Trăm Con bị y đổi ra Lạc Việt   trâu ngựa trốn chậy. (cước chú 2). Mã Viện còn hận thù cho nấu  chẩy cả ngàn trống đồng cho đúc thành cột đồng ngạo nghễ của y  để trả  hận tiếng Trống Ðồng Lạc Việt Linh Thiêng đã làm y run sợ. Trong Hậu Hán thư quyển 14  Mã Viện thú nhận rằng : "Dân Giao Chỉ có trống đồng là vật linh thiêng, nghe tiếng trống nổi lên khi lâm trận thì lòng họ rất hăng say.”     Trống Ngọc Lũ và nhiều trống khác kịp trốn dưới lòng đất nay ta tìm lại được

   Ðây là   Mặt Trống Ngọc Lũ >>     

.Ngày 10 Th Ba âm lịch (25 Tư 2018 dl)  là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.

Xin cùng dâng nén hương lên bàn thờ Cha Rồng Mẹ Tiên Quốc Tổ lạy tạ tổ tiên sanh ra chúng ta và dạy ta nói tiếng Việt.   Quốc Tổ đúc ra trống đồng để dạy con cái lòng Yêu Nước và còn để dạy con cái bảo toàn tiếng Việtcác điệu ca múa Lạc Việt.  Tiếng ta nhờ 6 dấu trầm bổng có âm dương trắc bình khiến âm thanh phát ra nghe như điệu nhạc nhất là qua kiểu   văn vần 4 - 4 - 4 – 4  là những chuỗi câu 4 chữ vần điệu với nhau song thánh thót hơn nữa khi ta hát ca theo văn vần 6 - 8 -  sáu tám lục bát.   Cách hát Vè và Văn vần 6 - 8  đã có từ ngày có Lạc Việt theo lịch sử 4000 năm văn hiến,  và đã được tổ tiên dạy lại cho chúng ta qua những chữ khắc ghi trên các bộ sử bằng đồng là các trống đồng (và những dụng cụ khác ta chưa tìm ra được) : 

Xin xem Cha Rồng vẽ trong vành tròn thứ 2 Ngọc Lũ  một đoàn 6 chim-con-dẫn-theo-10-nai- tiếp nối với 8-chim-con-dẫn-theo-10-nai.   

Cha Rồng dạy ta đan từng cặp câu 6 chữ và câu 8 chữ liên tiếp nhau, lồng vào nhau,  tạo ra các bài ca dao, câu hát mừng ngày mùa, lời tỏ tình êm dịu và cả các bài ca yêu nước  Con dân  Lạc Việt từng làng mỗi chiều tối tụ tập bên nhau quanh trống đồng cùng nhau múa hát  trao nhau những câu Vè 4 chữ những câu 6 - 8 lục bát.  

Tổ tiên ta không chỉ hát ca xuông mà từng đời còn dạy con tay nắm tay nhẩy múa nhịp nhàng quanh trống đồng theo điệu nhạc rền vang của trống.  Mà cho đến thời Ðức Trần Hưng Ðạo, tức khoảng năm 1225 , tập tục trai gái cùng nhau múa hát với tiếng trống qua những điệu ca tổ tiên truyền lại vẫn còn.  Sử kể lại anh em xem nhau đồng đẳng vì dù làm vua dù làm quan, song cùng ăn một mâm, cùng uống một bát rượu;  chén chú chén anh xong thì cùng nắm tay nhau mà hát múa. (Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư Quyển Bản Kỷ Toàn Thư các trang 18a, 18b 32a; ViệtNam Sử Lược -cụ Trần Trọng Kim -Q1- các trang 125, 128). Xin nói là Ðức Thánh Trần và các tướng tá thảy thảy đều xâm hình Rồng vào ngực vào lưng vào tay vào đùi để qua điệu nhảy xom xom nhìn nhau ra là Quan Lang[Con(kwon/quan)Rồng (long/lang) Ðời con cháu của ngài là vua Trần Anh Tông không muốn xâm mình nữa.) 

                              <<Ðây là Mặt Trống Sông Ðà  

Khi nhẩy múa quanh trống đồng tay nắm tay cùng một lòng hát những bài 4 chữ hay những bài 6 - 8 - 6 - 8 hùng tráng giữ nước thì Hai Vua Trưng và các nữ tướng có xúng xính đội mũ Chim Tiên,  đeo kiềng Rồng Chim trước ngực và đeo nhạc khí nhỏ ở cổ tay cổ chân hay không? Tôi tin là và các nàng Mỵ Nương con gái Mẹ Chim Tiên ấy cũng hiền thục dịu dàng mà cũng hiên ngang cùng đám quan lang[ Con Trai Cha  Rồng] nắm tay quay vòng quanh trống đồng.

Hai trống Ngọc Lũ Sông Ðà cùng viết lên lời  cảm tạ Ông Trời ban Mặt Trời mang tia nắng ấm cho hột Lúa nuôi Dân  Lạc Việt.  Hai trống cũng cùng viết số 6 và số 8.  Trên Sông Ðà là một đoàn 6 quan lang theo 4 trống đồng nối tiếp với  8 mỵ nương theo 4 trống đồng cùng múa hát theo một hướng . Chen giữa 6 quan lang  và 8 mỵ nương là hai dàn nhạc khí chiêng, trống da, kèn, lúc lắc …phụ họa cho buổi nhẩy vui nhộn thêm. 

     

1.  Tổ tiên Lạc Việt dùng trống đồng dạy con  nói tiếng Việt  cách độc đáo theo kiểu văn vần 6-8 Lục Bát

 

Trống Ngọc Lũ dạy ta hát câu 6 (câu lục). Quan lang mỵ nương tụ tập trên sân đình làng dưới ánh trăng  sau một ngày cày cấy lam lũ để nắm tay nhau vừa nhẩy nhịp nhàng vừa hát. Chẳng hạn :

Bầu ơi (2 chữ)  thương lấy Bí cùng (4 chữ)

<< Xin xem 6 chim bay theo nhau trong vành 2

Ðây là câu 6 chữ   (câu lục) do bè nữ ra đối,

Câu 6 nào cũng mở đầu với câu 2 chữ:  

Bầu ơi (2 chữ)   rồi tiếp với câu 4 chữ:

 thương lấy Bí cùng “(4 chữ)

Sau câu 6 thì đám trống vang lên 10 nai tức 10 tiếng trống  để chờ bè nam ra câu 8 đáp lại

             tùng tùng  tùng tùng

tùng tùng tùng tùng  tùng tùng

Bè nam đối lại câu 8 chữ  theo hàng 8 chim>> 

             Tuy rằng khác giống (4 chữ)   

nhưng chung một giàn (4 chữ)   

rồi lại giã 10 nai cho 10 tiếng trống 

tùng tùng  tùng tùng

tùng tùng tùng tùng  tùng tùng

Xin đếm câu 8 (bát) gồm hai câu 4 chữ ghép liền với nhau.

-----------------------------------------------------

<6 quan lang8 mỵ nương  vừa nắm tay nhau vừa nhẩy quanh trống Sông Ðà.  Bè nam hát câu 6:        

Khôn ngoan (2) đá đáp người ngoài(4)

Cả dàn 8 trống đồng vang tiếng

tùng tùng tùng tùng …bập bùng

sau đó 8 mỵ nương  bè nữ nhún nhẩy đối lại câu 8 chữ  >>

gà cùng một mẹ (4)  chớ hoài đá nhau (4)

Rồi cả dàn 4 trống đồng lại vang lên tiếng tùng tùng tùng tùng bập bùng vui nhộn.  Rồi đám Con Trai Cha  Rồngcon gái Mẹ Chim Tiên ấy cứ thay phiên nhảy theo vòng tròn mà hát nối tiếp những câu lục câu bát khác.

 

Tổ tiên ta có những lý lẽ cao xa khi viết những chữ (tức hình ảnh) trên từng vòng tròn trống đồng theo con số 2, tiếp nối là số 4, 6 và 8 v.v.. nhất là làm nhịp cho ta múa hát

Anh chị em cùng nắm tay nhau mà nhảy giật giật theo 10 tiếng trống sau từng câu 6 câu 8 ấy thì thật là đúng ý Cha Rồng Mẹ Tiên

 dạy qua các trống, Ngọc Lũ và Sông Ðà là biểu tượng. Nếu không thương nhau thì họ chẳng nhảy với nhau chẳng hát với nhau. Họ đang nhảy song đúng ra họ đang ôn lại với nhau những bài học căn bản Cha Rồng Mẹ Chim Tiên dạy.  Theo Ðạo của Cha Rồng, họ là anh em Nhà Hùng Lạc, Ðàn Chim Trăm Con.  Ðạo dạy từng quan lang từng mỵ nương phải theo Mẹ Chim Tiên nối cánh nhau cùng cố gắng vươn lên để bay cao
                  

 

Nói cho rõ hơn, vành ngoài  trống Ngọc Lũ dạy rằng từng chim lớn bé phải cùng dắt dìu nhau để có sức bay từ đêm tối  đến Phía Ðông đón chào Mặt Trời mọc. Tổ tiên mong ta vì là Ðàn Chim Trăm Con Một Tổ nên không bước đi mà cùng dìu nhau bay lên , bay cao thành đàn dắt nhau vào tương lai. Ðây: vành ngoài  trống Ngọc Lũ  và Trống Trường Giang- [Nông Cống -Thanh Hóa-hình bên] cùng ghi khắc lời dạy rằng Ðàn Trăm Chim phải nối  kết ấp ủ nhau thành một khối  chống lại ngoại xâm.

       Ðó chẳng hề là huyền sử

 

       Người Tầu thấy hướng Trăm Chim bay ngược chiều kim đồng hồ - từ trái qua phải- xem ra  ngược ngạo nên chê bai gọi là ta tả nhậm tức đi ngược ngạo) lại thấy quan lang mỵ nương lớn rồi mà còn tắm chung một bến, nắm tay nhẩy quanh trống đồng chẳng đúng lễ nghĩa của Tầu thì gớm ghiếc  (theo VNSL TTKim Q1. trg 259). Xin nói thêm là tổ tiên Hai Vua Trưng và Ðức Thánh Trần đúc ra Nam Quan, Ngọc Lũ và nhiều trống lắm và tạo ra những câu ca cộng với nhiều điệu múa nhảy xập xình theo những kiểu mà chính các nhà nho người Việt cũng cho là kệch cm. Sử gia  Ngô Sĩ Liên lắc đầu nói rằng: ‘Tuy bấy giờ vua tôi (nhà Trần) cùng vui, không gò bó vào “lễ” mà theo phong tục giản dị chất phác, song không còn chừng mực gì nữa.’ Cụ nhà nho Trần Trọng Kim nhìn theo con mắt  vua quan Tàu mà phê phán rằng vua quan 'không giữ lễ phép nghiêm khắc như những đời sau' song tôi trộm nghĩ rằng nếu không có những câu vè 4 chữ, những câu lục bát,  những điệu múa nhảy ấy mà cứ chỉ răm rắp theo hệ thống vua quan và quân giai rập khuôn mẫu Trung Hoa thì có lẽ các tướng đời Nhà Trần đã chẳng theo Ðức Thánh Hưng Ðạo Ðại Vương mà anh và em cùng tuốt gươm ra chỉ xuống sông Bạch Ðằng, cùng vang lời thề anh em không thắng giặc Mông Cổ xâm lăng thì sẽ cùng không có ngày về. Nhờ các ngài, Việt Nam vẫn còn. Tôi ngưng mộ và kính yêu các ngài.  

Cụ Nguyễn Du và nhiều thi sĩ có tài đã biến Lục Bát từ văn vần thành thơ với đầy hồn Việt.  Truyện Kiều  với 3254 câu thơ lục bát, lục bát, lục bát quện với nhau ta càng nghe càng thích và Kiều đã trở thành tinh hoa  tiêu biểu cho văn chương  Việt Nam.

Song ai ai cũng đều  có thể dùng khuôn khổ 6-8 ấy để làm ra những câu hát ngắn (ca dao) để dậy dỗ con cháu, hoặc để nói cho có văn có vần cho dễ nhớ. Các câu Lục Bát

 

đã đi vào lòng chúng ta khi yêu khi ghét, khi ăn khi ngủ, khi nhớ khi mong. Lục bát còn được dùng để dậy dỗ để truyền đạo lý… Hầu  như Lục Bát của Lạc Việt luôn sẵn ở đầu môi chúng ta vậy. Xin cùng nghe vài câu:

Trâu ơi ta bảo trâu này    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nếp nhà ta   Ta đây, trâu đấy, ai mà quản công
Bao giờ cây lúa trổ bong Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
 

Nao nao giòng nước uốn quanh,   nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Sè sè nấm đất bên đàng,           dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

-------------------------------------------------------    

Trên đồng cạn dưới đồng sâu        chồng cầy vợ cấy con trâu đi bừa     

Yêu nhau cau sáu bổ ba.               Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười …

------------------------------------------------------- 

Bảo vâng, gọi dạ, con ơi,             Vâng lời sau trước, con thời chớ quên.
Công cha, nghĩa mẹ, khôn đền,   Vào thưa, ra gửi, mới nên con người.

 

2. Cha Rồng Mẹ Tiên đầu óc siêu phàm song đầy tình người và dạy con cách hữu hiệu qua trống đồng

 

Chẳng ai dám nói bao giờ sẽ có câu cuối cùng của thể lục bát trong tiếng Việt cả. Mong quý vị cùng đồng ý tổ tiên ta đã dùng trống đồng dạy ta tình đoàn kết và cách ca hát theo lục bát; song một vị tại San Jose cho rằng cách sắp xếp 6 chim 10 nai và 8 chim 10 nai của trống đồng Ngọc Lũ;  hay 6 quan lang 8 mỵ nương của Sông Ðà có thể chỉ là một tình cờ. Vậy tôi xin trưng thêm hai trống Nam Quan Yên Tập và mong còn nhiều trống đồng khác tôi tin tổ tiên ta đã dùng để dậy ta làm văn vần 6-8.  

 

<<Ðây là Mặt Trống Yên Tập (Hà Nam Ninh). Xin nói đến trống Nam Quan trong phần sau. 

Trống dạy ca câu 6 theo 6 chim bay,  - nối với câu 8 theo 8 chim đậu).  Song vị đàn anh ấy nhất định đòi  phải trả lời câu hỏi:

Tại sao câu 6 phải đi trước,  tiếp nối  là câu 8 mới thành câu lục + bát Lạc Việt?

 

Xin mạn phép trả lời tạm và cho tôi nếu cần thì bổ túc thêm sau. Ðể trả lời câu hỏi này thì trước hết tôi phải xin mọi người nghiêng mình kính cẩn đề cao CHA RỒNG MẸ TIÊN của LẠC VIỆT.  Tôi đề cao Cha Rồng Mẹ Tiên không chỉ vì tôi là con cháu các Ngài mà vì các Ngài là vĩ nhân của thế giới . Ba bốn ngàn năm trước Công Nguyên, các Ngài đã là những vị THẦY dạy cho con dân Lạc Việt và cộng đồng quốc tế triết lý về Nguồn Gốc Sự Sống và Khoa Học Biến Chuyển để Sự Sống phát triển: Khoa học ấy chúng ta hậu thế gọi là môn dịch học do các Ngài sáng tạo. [Dịch là xê dịch biến chuyển.  Sử của Tầu qua sách Cương mục Tiền biên của Kim Lý Tường chép như vậy. Xem Cước chú 1 ]. Trong khi các kỹ thuật gia thời nay đã hiểu rõ và ứng dụng môn dịch học vào khoa học kỹ thuật số (digital power science) nhờ đó sáng tạo ra  computer và các máy móc hiện đại khác thì người Tầu  cũng học theo song  chú trọng về phần lý số âm dương, địa lý và bói toán.

CHA RỒNG MẸ TIÊN còn hướng dẫn cho con dân Lạc Việt và cộng đồng quốc tế cách tổ chức  xã hội ấm no hạnh phúc hơn nhờ đoàn kết và nhờ cách phát triển kinh tế nông nghiệp qua việc trồng lúa và phương pháp  luyện kim đúc lưỡi cày , dụng cụ nông nghiệp…. Tổ tiên ta hiểu biết  trọn vẹn nguồn gốc và triết lý Sự Sống và phát triển Sự Sống nhờ Ðoàn Kết và Kỹ Thuật mà còn biết qủang diễn  các  lý thuyết trừu tượng ấy cách giản dị qua trống đồng. Ta cần rất nhiều bài để chứng minh  rõ hơn song cho tôi  tóm tắt trình bầy giản dị theo một ví dụ ngộ nghĩnh rằng khi nhà tôi có sẵn rượu ngon,  có sẵn thịt cá thì mới dám mở tiệc thết đãi khách bởi cái gì ta có thì mới biếu ra được. Tổ tiên ta đã cho hậu thế những hiểu biết và lý lẽ cao xa của con số 2, 4, 6 và 8  và diễn tả điều ấy theo dịch học và cả trên trống đồng.