Nov 21, 2019

Biên khảo

Một Lối Vào Vườn Thơ Đường kỳ 9
Hoàng Xuân Thảo * đăng lúc 09:01:15 PM, Jun 20, 2017 * Số lần xem: 432
Hình ảnh
#1

MỘT LỐI VÀO VƯỜN THƠ ĐƯỜNG - KỲ 9

            MC chẳng đặng trên sân khấu

            Trên mạng làm chơi cũng đỡ buồn

 

                        MC Hoàng Xuân Thảo, Canada

                               Nguyễn Văn Bảo, Hoa Kỳ

                               Nguyễn Đương Tịnh, Pháp

 

 

ĐỀ TÀI:

1.      Hoàng Hạc Lâu                                          Thôi Hiệu

2.      Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài             Lý Bạch

3.      Hoàng Hạc Lâu                                          Nguyễn Du

4.      Đăng Hoàng Hạc lâu                                 Phan Thanh Giản

 

 

HOÀNG HẠC LÂU                                           THÔI HIÊỤ

           

            Thôi Hiệu (704-754) người Biện Châu, nay là huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam, đỗ tiến sĩ, làm quan tới chức Viên Ngoại Lang, tính tình lãng mạn, ham rượu chè, cờ bạc, lấy vợ bốn lần. Công trình sáng tác chỉ có một tập thơ, nhưng bài Hoàng Hạc Lâu lại được văn học Trung Hoa đánh giá là bài thơ thất ngôn bát cú hay nhất thời Đường, hơn cả các bài Đằng Vương Các cuả Vương Bột, bài Vạn Tuế Lâu của Vương Xương Linh, bài Đăng Nhạc Dương Lâu của Đỗ Phủ và ngay cả bài Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài của Lý Bạch

            Trước khi đọc bài thơ “ Lầu Hoàng Hạc” ta cần biết sơ qua về lịch sử của cái lầu từng nổi tiếng là một trong tứ đại danh lầu của Trung quốc cùng với lầu Nhạc Dương thuộc Hồ Nam, Đằng Vương Các thuộc Giang Tây và Phù Dung Lâu thuộc thành Trấn Giang, nay là huyện Giang Đồ tỉnh Giang Tô.

            Lầu Hoàng Hạc được xây năm Ngô Hoàng Vũ thứ 2 tức năm 223 thời Tam Quốc trên núi  Hạc, bờ Bắc của sông Dương Tử, tại ngã ba sông này và sông Hán Thủy, phía Tây Nam thành Giang Hạ như một đài quan sát để theo dõi binh tình vì có thể nhìn rõ thuyền bè đi lại trên hai sông này và đài chỉ có hai tầng. Tới năm 625, nhà Đường cho xây lại, cũng gồm hai tầng, làm nơi tụ họp các văn nhân tài tử cùng các nhạc công và ca nương nên lầu có tính cách văn hóa thay vì quân sự. Tới nhà Thanh, đời Đồng Trị, lầu được xây lại với ba tầng.

            Còn tại sao lầu có tên là Hoàng Hạc thì tục truyền là có một vị tiên ông đã cưỡi hạc vàng tới Hạc Sơn nghỉ vì thấy cảnh đẹp rồi lại cưỡi hạc theo mây bay đi nên người đời xây lầu này làm kỷ niệm. Vị tiên này thời Nam Bắc triều, theo sách  Nam Tề Thư Châu Quận Chí có tên là Vương Tử An nhưng tới thời Đường, theo sách Đồ Kinh và Thái Bình Hoàn Vũ Ký lại là một người khác có tên là Phí Văn Vĩ, nguyên là là thừa tướng thời Lưu Thiện, sau bị ám sát và trở thành tiên.

            Từ đời Bắc Tống cho đến khi lầu hoàn toàn bị tiêu hủy ở đời Quang Tự thứ X, lầu còn là đạo tràng lớn của Lão giáo và là nơi truyền đạo của tiên ông Lã Động Tân sau đã cưỡi hạc thăng thiên vào ngày 20 tháng 5 và lầu đã được một thời coi là thánh tích cuả đạo Giáo.

            Lầu Hoàng Hạc đã được xây lại tất cả 12 lần, không kể các trùng tu, qua các triều Nam Bắc, Đường, Nguyên, Ngũ Đại, Minh, Thanh, Trung hoa dân quốc và cộng sản, lần cuối cùng khánh thành vào năm 1985, gồm 5 tầng, cao 51.4 m, rộng 30 m, theo mô hình cũ đời Thanh Đồng Trị nhưng thêm hai tẩng và cao hơn 20m, nằm trong thành phố Vũ Xương, cùng với hai thành phố khác là Hán Khẩu và Hán Dương họp thành đại đô thị Vũ Hán. Lầu có hai cột lớn có đôi câu đối dài 7 m như sau:

                        Sảng khí tây lai, vân vụ tảo khai thiên địa hám

                        Đại giang đông khứ, ba đào tẩy tịnh cổ kim sầu.

Nghĩa là:

                        Hơi mát từ hướng tây tới, mây mù quét mở lay trời đất

                        Sông lớn chảy về hướng đông, sóng gió rửa sạch sầu kim cổ

                        Trong vô số các câu đối đề lầu Hoàng Hạc, câu sau đây được coi là hay nhất vì dùng được nhiều chữ trong thơ xưa với ý tình đậm đà:

            Hà thời hoàng hạc trùng lai, thả cộng đảo kim tôn, kiêu châu chử thiên niên mậu thảo

            Đản kiến bạch vân phi khứ, dữ thùy xuy ngọc địch, lạc giang thành ngũ nguyệt mai hoa

Nghĩa là:

            Bao giờ hạc vàng trở lại, hãy cùng rót chén vàng, tưới cỏ tươi ngàn năm trên bãi

            Chỉ thấy mây trắng bay đi, với ai thổi sáo ngọc, mai tháng 5 rụng xuống thành sông.

            Lầu cũng còn là một bảo tàng cất giữ những bài từ, bài thơ nói về lầu, những bức hoạ về các sự kiện lịch sử từ thời Tam Quốc, riêng bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu được khắc trên đá tại tầng I. Trong bài thơ có nói tới hai địa danh Hán Dương và Anh Vũ; Hán Dương chính là thành phố Hán Dương hiện nay, cách Vũ Xương bởi sông Dương Tử và cách thị trấn Hán Khẩu bởi sông Hán Thủy còn bãi Anh Vũ nằm giữa sông Dương Tử về phía tây nam Vũ Hán.

            Tên của bãi Anh Vũ cũng có hai truyền thuyết:

- Bãi Anh Vũ sở dĩ có tên như vậy vì có nhiều chim vẹt thường bay tới đậu tại đây.

- Tại miền Giang Hạ này, cuối thời Đông Hán và đầu thời Tam Quốc có quan thái thú tên là Hoàng Tổ, con trai trưởng là Hoàng Xạ thường giao du với các văn nhân và thết tiệc tại bãi này, trong số khách mời có bạn văn thơ của Xạ là Nễ Hành bị Tào Tháo đầy ra đây vì tuy có tài nhưng lại có tật ương bướng. Trong tiệc, một ca nương tên Bích Cơ dâng cho Nễ Hành một ly rượu và nói, “ Từ lâu đã nghe thanh danh của tiên sinh, nay may mắn được chiêm ngưỡng, xin dâng ly rượu này, đừng chê trách phận thấp hèn của thiếp.”  

Nễ Hành cảm động tình tri kỷ, nhận ly rượu uống liền một hơi. Lại có người khác dâng cho Hoàng Xạ mộc con chim anh vũ, mỏ đỏ lông xanh rất đẹp, Hoàng Xạ biết là vẹt qúy đem tặng lại cho Nễ Hành, nói rằng, “ Con chim anh vũ này xin tặng lại cho ngài đổi lấy một bài vịnh chim Anh Vũ để mọi người tham dự cuộc vui hôm nay được biết tài văn thơ của ngài và cùng có diễm phúc được thưởng thức.” Bích Cơ vội xắn tay áo lên mài mực còn Nễ Hành, tài hoa có thừa, trong lòng sẵn mối oán hận vì có tài mà không được thi thố, cất bút lên trong chốc lát đã viết xong bài “ Anh Vũ Phú” đại ý thương cho Anh Vũ vốn là thần điểu nhưng người đời không biết, đem nhốt trong lồng để thưởng ngọan. Viết xong, Nễ Hành tặng lại con vẹt cho Bích Cơ để bày tỏ tình ý đồng bệnh tương lân.

            Sau đó Hoàng Tổ đọc được bài phú, sợ sau này Nễ Hành được trọng dụng thì bất lợi cho mình bèn tìm cách giết Hoành, đúng là chữ Tài liền với chữ Tai một vần. Hoàng Xạ ngâm ngùi thương tiếc, cho mai táng trọng hậu còn Bích Cơ mặc tang phục, đem chim tới trước mộ Nễ Hành và đập đầu vào mộ tự vận. Đêm đó người dân nghe chim anh vũ hót tiếng bi ai không ngớt và sáng hôm sau phát hiện nó chết trước mộ và từ đó người dân gọi bãi này là bãi Anh Vũ để hoài niệm tác giả bài phú Anh Vũ.