Jan 21, 2021

Biên khảo

Một Lối Vào Vườn Thơ Đường kỳ VIII
Hoàng Xuân Thảo * đăng lúc 06:22:32 PM, Jun 22, 2017 * Số lần xem: 949
Hình ảnh
#1

MỘT LỐI VÀO VƯỜN THƠ ĐƯỜNG – KỲ VIII

                MC chẳng đặng trên sân khấu

                Trên mạng làm chơi cũng đỡ buồn

                                MC Hoàng Xuân Thảo, Canada

                                       Nguyễn Văn Bảo, Hoa Kỳ

                                       Nguyễn Đương Tịnh, Pháp 

 

 

HOA TRƯNG BÀY                            

NHÂN DỊP NGÀY PHỤ TÔN:                                                        

                                                                I.   Quy Gia                                          Đỗ Mục               

                                                                II.  Giang Đình Hữu Cảm                                Nguyễn Du

                                                                III. Lương Châu Từ                           Vương Hàn

IV. Lũng Tây Hành                            Trần Đào

 

I.             Thơ Đường, nhất là thời kỳ Sơ và Thịnh Đường đề cập rất ít tới tình gia đình như mẹ con, cha con và ngay cả vợ chồng. Một số các nhà phê bình đưa ra một vài lý do: người xưa không thích hay không được phép nói về đời sống tự do cá nhân; cả ba tôn giáo Nho, Lão và Phật đều chủ trương diệt dục ít hay nhiều; các quan hệ giữa chồng với vợ, bố hay mẹ với con, thày với trò, vua với quân thần đều theo một chiều có tính cách kỳ thị hay bất bình đẳng nên không được tự do giãi bày tâm sự thật tình; ngoài ra người xưa còn quan niệm những tình cảm đó hầu như là đương nhiên, cưỡng bách thì còn có gì đáng nói thêm nữa , trong khi tình bạn chẳng hạn, chiếm 20% các đề tài thơ, là sự quan hệ giữa hai người lạ mà bỗng dưng lại nẩy sinh một tấm tình thắm thiết, khắng khít, có khi sống chết vì nhau thì mới là chuyện ly kỳ và lý thú đáng nói.

                Nếu tình mẫu tử trong thơ Đường đã là một đề tài hiếm hoi, thì bóng dáng người cha lại càng mờ mịt rất khó tìm, có thể đếm được trên đầu ngón tay trong số mấy chục ngàn bài thơ Đường. Sau đây là một cái kim trong đáy bể thơ Đường, bài Quy Gia của Đỗ Mục (803-853). Ông thuộc dòng dõi trâm anh, thế phiệt, ông nội và anh đều làm tể tướng, phần ông cũng đỗ tiến sĩ năm 26 tuổi, làm ngự sử tại nhiều nơi rồi được triệu về kinh làm Trung thư xá nhân. Cuộc đời ông kể như phong vân gặp hội, sung sướng tột cùng thế mà sau rốt ông mới khám phá ra mái nhà là chốn hạnh phúc hơn cả. Hãy nghe ông tâm tình trong bài thơ dưới đây, do Hoàng Xuân Thảo dịch:

                QUY GIA                                                                              VỀ NHÀ

                Trĩ tử khiên y vấn:                                                            Con trẻ níu áo hỏi:

                Quy gia hà thái trì?                                                           Sao quá chậm về nhà?

                Cộng thùy tranh tuế nguyệt                                        Cùng ai giành cuộc sống?

                Doanh đắc mấn như ti?                                                 Được lời tóc như tơ?

Hai câu thơ cuối nêu lên một mâu thuẫn bất ngờ, cả cuộc đời, trải qua bao năm tháng tranh giành cho được để rồi được một mái tóc bạc phơ, thành ra tưởng là được mà hóa ra lại thua, tưởng lời mà hoá ra lại lỗ, vì tóc bạc là tượng trưng cho sự vất vả trong mưu sinh và suy yếu trong thân xác. Tác giả chỉ gợi ý để người đọc tự hiểu ra mà ngậm ngùi, chua xót vì đã tranh giành trong gần hết một kiếp người để rồi về dưỡng già với mái tóc bạc phơ. Đáng lẽ ra mình phải giành thời gian để sống chung dưới mái nhà với vợ con nhiều hơn và do đó cùng chung hưởng hạnh phúc thì hay biết chừng nào.

Hai chữ doanh đắc là sức bật cho toàn bài, tiếc rằng nhiều dịch giả lại bỏ qua vì thiếu nó cái chủ ý của tác giả bị chìm đi khiến bài thơ không làm nổi lên được cái kết quả phù du cuả vòng danh lợi.

Trước khi đọc bài thơ này của Đỗ Mục, tôi cũng có lần đang làm việc tại văn phòng, chợt thấy chỗ này đâu có thoải mái, khoan khoái bằng ở nhà nên tôi cảm hứng viết ra đoạn thơ tứ tuyệt như sau:

Good bye! Phòng mạch! Bệnh nhân!

“ Một xe trong cõi hồng trần như bay”

Không gì êm ái bằng NHÀ

Mới hay sao gọi vợ là NHÀ TÔI!

Thơ Đỗ Mục thường không chải chuốt, câù kỳ mà là những lời lẽ mộc mạc chân tình đã làm rung động lòng người nên đời gán cho ông danh hiệu Tiểu Đỗ trong khi Đỗ Phủ là Lão Đỗ vì cả hai thường lấy đề tài làm thơ từ nếp sống thường ngày của người dân.

Tiếp theo đây là thơ dịch và lời bàn của hai MC Nguyễn Văn Bảo, bút danh Con Cò và Nguyễn Đương Tịnh, bút danh Trúc Cư:

Con Cò                                                                                  Trúc Cư

Thằng bé níu áo hỏi:                                                       Trẻ thơ níu áo hỏi:

Về nhà muộn quá à?                                                      Sao bố nay mới về?

Với ai giành năm tháng                                                  Làm việc chi lâu thế

Để được tóc như tơ?                                                      Để đầu bạc như kia!

LỜI BÀN của Con Cò

Bài này là một tuyệt chiêu. Dùng lời của một thằng nhỏ lồng trong thể ngũ ngôn tứ tuyệt - một thể thơ lý tưởng để diễn tả ngôn ngữ của trẻ nhỏ - để đặt một vấn đề vô cùng rộng lớn như tranh bá đồ vương hoặc bon chen danh lợi. Câu 3 là một tuyệt cú do hai chữ năm tháng. Tác giả dùng giá trị thời gian - giá trị vô biên mà tiền bạc không mua nổi - mà người này đã trả cho việc bon chen danh lợi.

Hai nhân vật trong thơ là hai cha con vì thái độ họ rất thân thiết. Thằng bé hỏi: “ Bố ơi! Sao hôm nay bố về trễ qúa vậy? Bố đã vắng nhà tháng này qua năm nọ. Bố hãy soi gương mà xem, bố chả được gì ngoài bộ tóc bạc như tơ thôi!” Không thể tưởng tượng rằng chỉ dùng 20 chữ đơn sơ, mộc mạc mà giải quyết được một triết lý cao siêu như vậy.

LỜI BÀN của Trúc Cư

Lời trong bài này đúng ra phải là của người vợ hỏi và trách yêu chồng chứ đưá con thấy bố về thì nó đòi kẹo bánh chứ sao lại có thể hỏi móc họng như vậy được?

CÁC DỊCH GIẢ KHÁC

Trần Trọng Kim                                                                  Lê Nguyễn Lưu

Trẻ con nắm áo hỏi han                                                 Trẻ con níu áo hỏi:

Đi đâu vắng mãi lan man bấy chầy                             Sao muộn trở về nhà?

Cùng ai tranh tháng tranh ngày                                  Giành với ai năm tháng

Chỉ lưa mái tóc như mây trắng ngần.                        Chỉ còn tóc trắng phau?

Đỗ Bằng Đoàn &  Bùi Khánh Đản

Trẻ con nắm áo hỏi                                                          Cùng với ai tranh sống?

Sao khách về chậm nhà                                                 Mái đầu sắc tuyết pha!

      II.

Các thi nhân Việt Nam đề cập tới tình gia đình tương đối nhiều hơn các nhà thơ Đường và có phần nghiêng về tình mẫu tử mặc dầu ca dao đề cao, “ Công Cha như núi Thái sơn/ Nghiã Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.” Đại thi hào Nguyễn Du cũng rất ít đả động tới tình cảm gia đình, ông duy nhất chỉ nhắc tới thân phụ Nguyễn Nghiễm một lần khi người cáo lão về vui thú điền viên, tới người vợ cũng chỉ một lần trong bài Ký Mộng, còn tuyệt nhiên không nhắc nhở gì tới thân mẫu. Phải chăng vì ông mồ côi sớm, mất cha năm 10 tuổi và mẹ năm 13 tuổi nên tình cảm đối với song thân thiếu đậm đà?

Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nghiễm thôi chức tể tướng, về trí sĩ ở quê nhà Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Nguyễn Du, lúc này 6 tuổi cũng về quê với cha và được chứng kiến cảnh vinh hoa phú quý của thân phụ và gia đình : được cấp ba thuyền hải mã, xe bốn ngựa, bánh xe bọc cỏ bồn cho êm thường chỉ dùng để đưa đón người hiền hay các bậc quyền qúy vương hầu và tất nhiên dân chúng đón rước nồng nhiệt. Điạ điểm chào mừng là bến Giang Đình, một trong tám cảnh đẹp của huyện Nghi Xuân.

Sự kiện này đã được in dấu trong câu ca dao của người dân huyện Nghi Xuân:

                Quan về trí sĩ quê nhà

                Truyền dân tám tổng phải ra đón đường.

Nguyễn Du năm 1794, được anh là Nguyễn Khản sai về quê cùng Nguyễn Nễ để tu bổ lại từ đường đã bị đốt cháy hết vì Nguyễn Quýnh đã chống lại nhà Tây Sơn, ông chạnh nhớ lại và viết bài thơ này.

Bài thơ gồm hai dải, dải đầu tả cảnh đón rước cha ông được vinh danh như một đại công thần, dải sau nói tới sự biến đổi đau thương từ khi thân phụ mất đi vào năm 1775 - trong khi cầm quân đi đánh chúa Nguyễn - không riêng gì cho gia đình ông mà trong cả nước, đại diện là Thăng Long mà ông gọi là Trường An. Những ngày sống ở quê hương, Nguyễn Du đã hoà nhập cùng với dân làng, khi làm ngư phủ đánh cá biển Đông, khi theo phường săn thú tại núi Hồng Lĩnh.Trong bài thơ Độ Long Vĩ Giang tức sông Lam, tình cảm cuả người dân đồng hương lưu luyến tiễn đưa ông đã được ghi lại: Trên bến người đưa tiễn/ Vì ta lệ vấn vương...

Giang Đình Hữu Cảm                                                                 Hoàng Xuân Thảo dịch:

Ức tích ngô ông tạ lão thì                                              Còn nhớ cha xưa tuổi lão thì

Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi                                  Ngựa xe trên bến thật uy nghi

Tiên chu kích thủy thần long đấu                               Thuyền tiên rẽ nước như rồng đấu

Bào cái phù không thụy hạc phi                                  Tàn qúy phơi trời tựa hạc phi

Nhất tự y thường vô mịch xứ                                      Từ thuở áo xiêm không dấu tích

Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi                                 Đôi bờ cỏ khói toả sầu bi

Bách niên đa thiểu thương tâm sự                           Trăm năm dâu bể thương tâm quá!

Cận nhật Trường An đại dĩ phi.                                   Mới đó Trường An khác hẳn đi.

Trường An đây ám chỉ Thăng Long vừa trải qua một cuộc biển dâu, nhà Tây Sơn đã thế cho vua

Lê và chúa Trịnh

Lê Phụng                                                                             Quách Tấn

Cha xưa cáo lão từ quan                                                Nhớ thưở tiên nghiêm cáo ão về

Xe bồ bốn ngựa thuyền sang bến này                     Bên sông rộn rịp ngựa liền xe

Thuyền tiên rẽ sóng rồng bay                                     Khúc rồng cuộn sóng thuyền tiên lướt

Tàn che phấp phới hạc quây đón chờ                      Cánh hạc vờn mây lọng gấm che

Áo xiêm từ độ phai mờ                                                  Từ nếp xiêm y chìm khuất bến

Bùi ngùi ngọn cỏ đôi bờ khói bay                               Để sầu cây cỏ ngập tràn đê

Trăm năm bao truyện đổi thay                                   Trường An cũng trải nhiều dâu bể

Đế đô dâu biển thương thay kiếp người.                               Gẫm cuộc trăm năm lắm não nề.              

Tiếp theo là bản dịch của Con Cò và Trúc Cư:

Con Cò                                                                                  Trúc Cư

Nhớ lúc cha ta cáo lão về                                              Nhớ xưa thân phụ lúc về hưu

Trang nghiêm xe ngưạ tiến lên đê                            Xe bồ ngựa tứ đẹp làm sao

Thuyền tiên rẽ nước, thần rồng quẫy                      Thuyền đi rẽ sóng như rồng uốn

Tàn lọng trong không cánh hạc che                          Tàn lọng gió lay tựa hạc chầu

Áo mũ nay không như trước nưã                              Khăn áo đâu rồi muôn năm cũ

Đôi bờ cỏ khói gợi sầu bi                                               Mờ sương đôi ngạn dạ buồn đau

Cuộc đời dâu bể đau lòng lắm!                                   Thương đời sao quá nhiều gian khổ!

Hiện tại Trường An chẳng khác gì.                             Mới đấy Trường An đã khác nhiều.

LỜI BÀN cuả Con Cò

Nguyễn Du diễn đạt cả lòng yêu nước và tình phụ tử trong bài thơ này:

1/ Lòng ái quốc của Nguyễn Du vừa hẹp hòi vừa lỗi thời. Nó theo đúng khuôn mẫu Quân Thần Phụ Tử của Khổng Mạnh được triệt để thi hành bởi mọi triều đại Trung quốc và Việt Nam trong hơn hai thiên kỷ. Bố ông làm quan cuốt thời Hậu Lê, ông được sinh trưởng trong thời đó nhưng sau này được triều Nguyễn trọng dụng. Cuối thời Hậu Lê là một triều đại bù nhìn, quyền hành trong tay chúa Trịnh, đất nước phân chia, nội chiến đẫm máu, dân chúng lầm than. Ông mặc áo mũ của triều Nguyễn thái bình thống nhất mà vẫn nhớ tiếc triều Lê tàn mạt, rách nát. Đáng lẽ ông nên im lặng chứ không nên than van như thế.

2/ Tình phụ tử trong bài này gần như hoàn hảo. Nguyễn Du nhớ cha với lòng ngưỡng mộ, thán phục và tôn kính, coi cha như tấm gương sáng để mình noi theo.

 

LỜI BÀN của Trúc Cư

Cả cuộc đời của tác giả chỉ là long đong, lận đận nên khi nhìn lại chốn xưa khi ông còn nhỏ được chứng kiến cảnh võng lọng của thân phụ mà ngậm ngùi cho chính bản thân mình. Đối lại nếu cuộc sống của ông được như ý nguyện nghĩa là có quyền cao, chức trọng thì ta tự hỏi dân Việt chưa chắc gì đã có được những áng văn tuyệt phẩm để lại cho đời sau. Thường sống ở trong khổ đau chỉ có những tâm hồn thi sĩ mới có thể và mới có cơ hội để phát huy đến tột bậc.

CÁC BẢN DỊCH KHÁC

Nhất Uyên

Chạnh nhớ cha ta xưa cáo lão                                     Từ độ áo xiêm không thấy nữa

Xe bồ ngưạ tứ bến sông này                                       Hai bờ cây cỏ chạnh sầu bi

Thuyền tiên lướt lướt như rồng đấu                        Trăm năm buồn biết bao tâm sự

Tàn lộng dập dìu ngỡ hạc bay                                      Nay chốn Trường An khác những ngày.