Dec 03, 2020

Biên khảo

Những thành ngữ có xuất xứ từ thơ cổ và điển cố 1 - 10
Nguyễn Ngọc Kiên * đăng lúc 12:01:25 PM, Mar 22, 2017 * Số lần xem: 1518
Hình ảnh
#1

1
 
Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt trong câu.

1) Khái niệm về thành ngữ
Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt trong câu.
Như vậy có thể hiểu thành ngữ là tổ hợp từ cố định, hoàn chỉnh, bền vững về hình thái - cấu trúc và bóng bẩy về ý nghĩa. Tức là nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc / và gợi cảm.
         Thành ngữ tiếng Hán phần lớn có nguồn gốc từ những câu truyện lịch sử, những điển cố, và sau khi hình thành thì cấu trúc của nó thường ổn định từ cổ chí kim. Hay nói cách khác, thành ngữ được dùng trong tiếng Hán hiện đại phần lớn được giữ nguyên trạng từ thành ngữ trong tiếng Hán cổ.
Trong tiếng Việt, thành ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài chủ yếu là gốc Hán được đọc theo âm Hán Việt hoặc được dịch sang tiếng Việt.
Trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu một số thành ngữ tiếng Hán có xuất xứ từ thơ cổ và điển cố được dịch sang tiếng Việt.
 
2)  Một số thành ngữ có nguồn gốc từ  thơ cổ và điển cố
(1) Nghiêng nước nghiêng thành
Thành ngữ  “
倾国倾城” [khuynh quốc khuynh thành] (nghiêng nước nghiêng thành) có nguồn gốc từ bài “Giai nhân ca” (佳人歌) của Lý Diên Niên (李延年). Chuyện rằng, vua Vũ Đế đời Hán (40-86 trước Công nguyên) có một người hầu tên là Lí Diên Niên, anh ta rất giỏi múa hát và thông hiểu âm luật, được nhà vua yêu mến, cưng chiều. Nhà vua cho xây cung điện Minh Quang và tuyển chọn những người con gái đẹp tuổi từ 15 trở lên vào cung để hầu hạ  vua. Trong cung có tới gần 10 ngàn mĩ nữ nhưng vua vẫn chưa thấy ai đẹp như ý và thường lắc đầu than thở: Đời nay thiên hạ không có giai nhân tuyệt sắc! Một hôm, Lí Diên Niên múa hát mua  vui cho nhà vua xem. Lí hát rằng:
 
北方有佳人,
绝世而独立。
一顾倾人城,再顾倾人国。
宁不知倾城与倾国?
佳人难再得!
Phiên âm:
Bắc phương hữu giai nhân,
Tuyệt thế nhi độc lập.
Nhất cố khuynh nhân thành,
Tái cố khuynh nhân quốc.
Ninh bất tri, khuynh thành dữ khuynh quốc,
Giai nhân nan tái đắc.
(Dịch nghĩa: Ở phương Bắc có một người đẹp, đẹp nhất đời mà đứng riêng một mình. Quay đầu lại một lần thì làm nghiêng thành trì của người ta, quay đầu lại nhìn lần nữa thì làm nghiêng nước người ta, thà chẳng biết nghiêng nước với nghiêng thành , chỉ biết là người đẹp thì khó gặp.)
Bản dịch thơ khuyết danh:
Bắc phương có một giai nhân
Dung nhan tuyệt thế cõi trần đứng riêng
Liếc nhìn, thành quách ngả nghiêng
Liếc thêm lần nữa nước liền lung lay
Thành nghiêng nước đổ mặc bay
Giai nhân há dễ gặp hoài được sao.
Chị của vua Vũ Đế là Bình Dương công chúa đứng hầu bên cạnh bèn  tâu: “Lý Diên Niên có một người em gái giỏi múa hát và đẹp tuyệt trần như trong bài ca đó”. Nhà vua cho vời người đẹp vào cung, xem mặt. Quả nhiên nhà vua bỗng xao xuyến, rạo rực như có một luồng điện chạy khắp người khi nhìn thấy nàng mỹ nữ nhan sắc tuyệt trần, yêu kiều, diễm lệ. Vua liền phong nàng làm làm chánh cung hoàng hậu và ngày đêm si mê, đắm đuối bên nàng. Từ đó xuất hiện thành ngữ “
倾国倾城” [khuynh quốc khuynh thành] (nghiêng nước nghiêng thành) để chỉ người con gái đẹp.
Nhà thơ Bạch Cư Dị đời Đường đã để lại kiệt tác “Trường hận ca” miêu tả mối tình giữa Đường Minh Hoàng và Dương Qúi Phi trong đó cũng sử dụng thành ngữ này:
漢皇重色思傾國
御宇多年求不得
Phiên âm:
Hán hoàng  trọng sắc tư khuynh quốc /  Ngự vũ đa niên cầu bất đắc
(Dịch nghĩa: Vua Hán trọng sắc đẹp, muốn có một người “nghiêng nước nghiêng thành”.  Ở ngôi bao năm tìm kiếm không được.)
Trong tiếng Việt, “nghiêng nước nghiêng thành” cũng được sử dụng với ý nghĩa như vậy như một thành ngữ thuần Việt. Trong kiệt tác “Truyện Kiều”, đại thi hào Nguyễn Du đã tả sắc đẹp của nàng Kiều:
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành họa một tài đành họa hai.
(2) Chuồn chuồn đạp nước
Ông Đỗ Phủ (
杜甫) là người làm thơ nổi tiếng đời Đường. Hầu hết mọi người Việt Nam đều biết tới ông qua “Di chúc” của Hồ Chí Minh với câu thơ nổi tiếng “人生七十古來稀” [Nhân sinh thất thập cổ lai hi] (Người thọ bảy mươi  xưa nay hiếm) trong bài “Khúc giang” (曲江). Nguyên văn:
朝回日日典春衣 / 每日江頭盡醉歸
酒債尋常行處有 / 人生七十古來稀
穿花蛺蝶深深見 / 點水蜻蜓款款飛。
傳語風光共流轉 / 暫時相賞莫相違。
Phiên âm:
Hồi triều nhật nhật điển xuân y / Mỗi nhật giang đầu tận tuý quy.
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu, / Nhân sinh thất thập cổ lai hy.
Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện, / Ðiểm thuỷ thanh đình khoản khoản phi.
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển, /Tạm thời tương thưởng mạc tương vi.
(Dịch nghĩa: Ngày ngày khi ở trong triều đình ra về ta đem cầm cái áo xuân để mua rượu. Mỗi ngày ta uống thật say ở đầu sông rồi mới trở về. Nợ rượu thường ở nơi nào cũng có. Người đời xưa nay ít ai thọ được tới bảy mươi tuổi. Nhiều con bươm bướm châm hoa thấp thoáng hiện. Những con chuồn chuồn dỡn nước dập dờn bay. Hãy nói cho mọi người biết rằng: theo thời gian phong cảnh đều thay đổi. Ta hãy tạm cùng nhau thưởng ngoạn, đừng nên để lỡ dịp.)
Bản dịch của nhà thơ Khương Hữu Dụng:
Áo chầu tan buổi cởi cầm tay,
Hằng bữa đầu sông về khướt say.
Nợ rượu tầm thường đâu chẳng có,
Người đời bảy chục mấy xưa nay.
Luồn hoa bươm bướm chen chen lượn,
Điểm nước chuồn chuồn thoáng thoáng bay.
Quang cảnh, nhắn cho thường biến đổi,
Tạm vui xuân với, kẻo e hoài.
Bài thơ này cũng là xuất xứ của thành ngữ tiếng Hán “
蜻蜓點水” (chuồn chuồn đạp nước). Thành ngữ này có nghĩa bóng: làm ăn hời hợt,  chiếu lệ, qua loa cho xong chuyện, không sâu sát, kĩ càng. Thành ngữ này đã được người Việt dịch ra và mượn vào tiếng Việt. Còn có các biến thể: “chuồn chuồn đạp nước”, hoặc các biến thể: “chuồn chuồn chấm nước”, “chuồn chuồn lẹo nước”.
 
(3) Sư tử Hà Đông
 Long Khâu cư sĩ là Trần Tạo tự Quý Thường, người đời nhà Tống, quê ở Vĩnh Gia, Trung Quốc. Vợ của Trần Tạo là người họ Liễu có máu Hoạn Thư hay ghen kinh khủng lại hung hăng. Trần Tạo rất sợ vợ nhưng rất tôn sùng đạo Phật. Hằng ngày Trần Tạo ngồi đọc kinh, vợ lấy làm bực, la hét om sòm, nhưng ông vẫn điềm nhiên không dám phản ứng gì.
Tính tình của Trần Tạo cũng hào hoa, bạn bè đông, nên ở nhà thường có yến tiệc.
Một lần, Quý Thường mở tiệc có ca kỹ đến hát xướng mua vui. Liễu thị Để thêm hứng thú và long trọng, Trần Tạo chiều khách, mời kỹ về ca hát mua vui. Vợ Trần Tạo ở nhà sau nổi máu ghen, lấy gậy đập vào tường, gầm thét om sòm khiến khách kinh hãi bỏ về. Trần Tạo hốt hoảng, gậy cầm trong tay mà bỏ rơi mất. Tô Đông Pha là bạn thân của Trần Tạo, thấy vậy Tô Đông Pha làm bài thơ 24 câu vừa châm biếm vừa cảm thương cho tình cảnh bạn, trong đó có đoạn.
龙丘居士亦可怜
 
谈空说法夜不眠
忽闻河东狮子吼
 
拄杖落手心茫然
Phiên âm:
Long Khâu cư sĩ hiền diệc khả liên,/ Đàm không thuyết pháp dạ bất miên.
Hốt văn Hà Đông sư tử hống,/ Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên.
(Dịch nghĩa: Thật đáng thương cho Long Khâu cư sỹ, miệng nói không nói có đêm ngủ không được, chợt nghe tiếng gầm rú của sư tử Hà Đông, gậy văng ra khỏi tay tâm thần hoảng loạn.)
Tạm dịch:
Thật đáng thương thầy đồ Long Khâu,
Đọc kinh thuyết pháp suốt đêm thâu,
Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,
Kinh hoàng bỏ gậy rớt nơi đâu.
Hai chữ “Hà Đông” là do Tô Đông Pha mượn câu thơ của Đỗ Phủ:
河东女儿身性柳 [Hà Đông nữ nhi thân tính Liễu] (cô gái Hà Đông người họ Liễu) vì vợ của Trần Tạo cũng họ Liễu. Và "Sư tử" do lời trong kinh Phật: sư tử là chúa loài thú, mỗi khi rống lên thì các thú vật đều khiếp đảm để vừa chỉ tính ghen dữ của Liễu Thị, vừa chỉ Quý Thường là một tín đồ đạo Phật. Thành ngữ “Sư tử Hà Đông” có xuất xứ từ đó và được dùng để chỉ người đàn bà hay ghen tuông, hung hãn, đanh đá, hay ức hiếp chồng. Thành ngữ này được tiếng Việt mượn vào khiến nhiều người lầm tưởng Hà Đông là thủ phủ của tỉnh Hà Tây (cũ), nay thuộc Hà Nội.
Nhà thơ trào phúng Tú Xương trong bài thơ vịnh cảnh lấy lẽ, có câu:
Hậu hạ đã cam phiền cát lũy,
Nhặt khoan còn ỏi tiếng Hà Đông.
 
(4) Gương vỡ lại lành
破镜重圆” [phá kính trùng viên] (gương vỡ lại lành) là một thành ngữ nói lên cảnh vợ chồng đã ly tán sau lại được sum họp, đoàn viên.
Giai thoại kể rằng, Từ Đức Ngôn (
徐德言) là tài tử trứ danh ở Giang Nam đời Nam Bắc triều, sau làm phò mã lấy em gái của Trần Hậu Chủ Trần Thúc Bảo là Lạc Xương công chúa (樂昌公主), rồi nhập triều đình làm chức Thị trung (quan cận thần), bộc lộ tài năng chính trị. Đương thời ông cùng phu nhân phu xướng phụ tuỳ thành một cặp giai ngẫu mọi người ai cũng phải ngưỡng mộ.
Sách "Bản sự thi" (
本事詩) nói Lạc Dương công chúa là người "tài sắc quán tuyệt". Hai người yêu nhau, lấy nhau nhưng đúng vào lúc ấy giặc giã nổi lên, nhà Trần suy loạn. Ông nói với vợ rằng hai người thế nào cũng ly tán vì thời cuộc, rồi lấy tấm gương soi đập vỡ thành hai, mỗi người giữ một mảnh và hẹn nhau ngày rằm tháng giêng năm sau ra chợ Trường An tìm lại nhau. Nhà Trần mất, Lạc Dương công chúa bị bắt, bị bán làm nô tỳ cho Dương Tố (楊素) và được Dương Tố đặc biệt yêu mến. Một năm sau, Từ Đức Ngôn ra chợ thì gặp một thiếu nữ bán mảnh gương vỡ. Từ Đức Ngôn đem mảnh gương của mình ra ghép vào thì thấy vừa khít nên biết ngay đó là nửa gương của vợ. Người bán gương kể cho Từ Đức Ngôn nghe nỗi lòng của công chúa, Từ Đức Ngôn bèn lấy bút đề một bài ngũ ngôn:
鏡與人俱去,
鏡歸人不歸。
無復嫦娥影,
空留明月輝。
Phiên âm: Cảnh dữ nhân câu khứ/ Cảnh quy nhân vị quy/ Vô phục Hằng Nga ảnh/ Không lưu minh nguyệt huy.
( Dịch nghĩa: Người đi thì gương cũng đi, người về nhưng gương chưa về, bóng Hằng Nga đâu sao chẳng thấy, chỉ thấy ánh trăng mà thôi )
Lạc Dương công chúa đọc bài thơ, biết là thơ của chồng liền than khóc vật vã. Dương Tố hỏi nguyên do, khi biết chuyện, liền cho mời Từ Đức Ngôn đến, trả lại Lạc Dương công chúa cho chàng, vợ chồng lại được đoàn tụ. Đây cũng chính là điển cố “
破镜重圆” [phá kính trùng viên] (gương vỡ lại lành).
Nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài “Ba mươi năm đời ta có Đảng”:
Đời ta gương vỡ lại lành
Cây khô cây lại đâm cành trổ hoa.
…………
(Còn nữa)

*******

Những thành ngữ có xuất xứ từ thơ cổ và điển cố (Phần II)

 

 (5) Vật đổi sao dời

Vật đổi sao dời (
物換星移 [vật hoán tinh di]) là một thành ngữ dùng để chỉ sự thay đổi to lớn, có nguồn gốc từ bài thơ Đằng Vương các  (滕王閣) nổi tiếng của nhà thơ Vương Bột (王勃). Nguyên tác:

滕王高閣臨江渚,
佩玉鳴鸞罷歌舞。
晝棟朝飛南浦雲,
珠簾暮捲西山雨。
閒雲潭影日悠悠,
物換星移幾度秋。
閣中帝子今何在,
檻外長江空自流。
Phiên âm:
Đằng Vương cao các lâm giang chử / Bội ngọc minh loan bãi ca vũ
Họa đống triêu phi Nam phố vân / Chu liêm mộ quyển Tây sơn vũ
Nhàn vân đạm ảnh nhật du du / Vật hoán tinh di kỷ độ thu
Các trung đế tử kim hà tại ? / Hạm ngoại Trường Giang không tự lưu.
(Dịch nghĩa: Gác Đằng Vương đứng cao ngất bên bờ sông, ngày nay không còn nghe tiếng tiếng ngọc vàng rung của những người ca vũ nữa. Những cột lớn vẽ mây như mây Nam phố lúc buổi sáng, những bức rèm cuộn lên như những trận mưa chiều ở vùng núi Tây sơn. Bóng mây trên mặt đầm trôi đi mãi, vật đổi sao dời đã biết bao mùa thu rồi. Các bậc vương tôn ngày xưa ở trong gác này giờ ở nơi đâu, ngoài hiên sông Trường giang cứ trôi đi.)
Dịch thơ:
Bên sông đây gác Đằng Vương,
Múa ca đã hết, ngọc vàng nào ai.
Cột rồng Nam phố mây bay,
Rèm châu mưa cuốn ngàn Tây sớm chiều.
In đầm, mây vẩn vơ trôi,
Tang thương vật đổi, sao dời mấy thâu?
Đằng vương trong gác giờ đâu?
Trường Giang nước vẫn chảy mau mé ngoài.
                                         (Bản dịch của Trần Trọng San)
Đọc kĩ bài thơ này ta sẽ hiểu sâu sắc hơn thành ngữ trên. Người Việt cũng hay sử dụng thành ngữ này. Nó gợi cho ta nhiều góc độ tâm trạng hoài cổ, bâng khuâng, thương tiếc một cái gì đẹp đẽ đã qua.

(5) Người đầu sông kẻ cuối sông

 Thành ngữ “Người đầu sông kẻ cuối sông” dùng để chỉ sự xa xôi cách trở của đôi trai gái đang độ yêu nhau. Nó có xuất xứ từ một bài thơ Đường là “Trường tương tư” (
長相思), của Lương Ý  Nương (梁意娘) . Trong Tình sử chép rằng: Vào triều nhà Chu () đời Ngũ Quý (五季), có người con gái của Lương Tiêu Hồ (梁瀟湖) tên là Lương Ý Nương (梁意娘), cùng với Lý Sinh (李生) là họ hàng con cô con cậu. Lý Sinh thường qua lại rất nhiều lần. Nhân ngày trung thu ngắm trăng, ngầm hẹn ước với Ý Nương, hai người lưu luyến không rời. Sự việc lâu ngày lộ ra, Tiêu Hồ nổi giận, ngăn cấm hai người gặp nhau. Gặp ngày trời thu, Ý Nương viết bài thơ này. Bài thơ được nhiều người nhắc đến trong đó có hai đoạn trích dưới đây:
人道湘江深,
未抵相思畔。
江深終有底,
相思無邊岸。
我在湘江頭,
君在湘江尾。
相思不相見,
同飲湘江水。
Phiên âm:
Nhân đạo Tương Giang thâm / Vị để tương tư bạn
Giang thâm chung hữu để / Tương tư vô biên ngạn
Ngã tại Tương Giang đầu / Quân tại Tương Giang vĩ
Tương tư bất tương kiến / Đồng ẩm Tương Giang thủy
(Dịch nghĩa: Người bảo sông Tương sâu, nhưng chưa sâu bằng lòng thương nhớ. Sông sâu còn có đáy, lòng thương nhớ thì không có bến bờ. Chàng ở đầu sông Tương, thiếp ở cuối sông Tương. Nhớ nhau mà không thấy nhau, cùng uống nước sông Tương.)
Dịch thơ:
Người bảo sông Tương sâu
Tương tư sâu gấp bội
Sông sâu còn có đáy
Tương tư chẳng bến bờ
Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông Tương
Nhớ nhau không gặp mặt
Cùng uống nước sông Tương.
                                (Bản dịch của Vũ Ngọc Khánh)
 
Thành ngữ “Người đầu sông kẻ cuối sông”  không chỉ nói lên sự cách trở bởi không gian mà còn nói  lên được cái hoàn cảnh trớ trêu, ngang trái của hai kẻ yêu nhau mà vì một lí do nào đó phải xa nhau, nói lên một nỗi ưu hoài vạn kiếp của nhân tình thế thái.
Ở Việt Nam, trong những năm kháng chiến chống Mĩ, xuất hiện bài hát nổi tiếng “Anh ở đầu sông, em cuối sông” của Phan Huỳnh Điểu phổ thơ Hoài Vũ, trong đó có hai câu:
  Anh ở đầu sông em cuối sông
   Uống chung dòng nước Vàm
Thương nhau đã chín ba mùa lúa
Chưa ngày gặp lại, nhớ mênh mông!
Không biết khi sáng tác các tác giả có tham khảo thành ngữ hoặc tứ thơ trên không hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên?
…………………
     (còn nữa)

          (7) Một đi không trở lại 

 

 

          Một đi không trở lại (一去不復返)  [nhất khứ bất phục phản] là thành ngữ nói lên sự mất mát vĩnh viễn, không thể tìm thấy lại được và nó có xuất xứ từ bài Hoàng Hạc lâu (黃鶴樓) bất hủ của nhà thơ Thôi Hiệu đời Đường.  Nguyên tác:

 

 

昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。

 

 

 

Phiên âm:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

 

 

          Dịch nghĩa:

 

          Người xưa đã cỡi hạc vàng bay đi mất, chỉ còn trơ lại Lầu Hoàng hạc tại mảnh đất này. Hạc vàng một đi không trở lại, ngàn năm mây trắng vẫn bay dằng dặc, hàng cây đất Hán Dương rực rỡ bên dòng sông tạnh, cỏ thơm bãi Anh Vũ vẫn tốt tươi. Lúc trời chiều đứng trông về làng cũ tự hỏi : Quê hương ở chốn nào ? Khói sóng mịt mờ trên sông nước Khiến cho người nổi mối ưu sầu.

 

 

          Dịch thơ:

 

Người xưa cưỡi hạc đã lên mây,
Lầu hạc còn suông với chốn này.
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Ngàn năm mây bạc vẩn vơ bay.
Vàng gieo bên Hán, ngàn cây hửng
Xanh ngắt châu Anh, lớp cỏ dày.
Trời tối quê nhà đâu tá nhỉ ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây!

                                   (Bản dịch: Ngô Tất Tố)

 

          Nếu ta hiểu được bài thơ trên thì ta thấy thành ngữ “Một đi không trở lại” không đơn thuần chỉ nói lên sự lên sự mất mát vĩnh viễn, không thể tìm thấy lại được mà nó còn nói lên tâm trạng cảm hoài trước quy luật của tạo vật là không có gì tồn tại vĩnh cửu.

          Trong tiếng Việt, thành ngữ “một đi không trở lại” được sử dụng rộng rãi hơn, đôi khi nó được dùng trong các “tít” báo theo cả nghĩa đen. Chỉ cần bấm vào google.com trong vòng 0,17 giây cho ra 710. 000 kết quả; chẳng hạn “Tại sao du khách nước ngoài đến Việt Nam một đi không trở lại”, nói về sự làm ăn chộp giật của ngành du lịch nước ta.

 

          (8) Thanh  mai trúc mã

 

 

          Thanh mai trúc mã (青梅竹马) (thanh mai: mai xanh, trúc mã: ngựa trúc), thành ngữ này dùng để chỉ sự đẹp đôi hoặc duyên nợ lứa đôi và nó có nguồn gốc từ bài thơ Trường Can hành (長干行) của Lý Bạch. Bài thơ có 30 câu, có thể nói là một thiên diễm tình.

 

 

          Nguyên văn:























西





 

 

Phiên âm:

Thiếp phát sơ phú ngạch
Chiết hoa môn tiền kịch
Lang kỵ trúc mã lai
Nhiễu sàng lộng thanh mai
Đồng cư Trường Can lý
Lưỡng tiểu vô hiềm sai
Thập tứ vi quân phụ
Tu nhan vị thường khai
Đê đầu hướng ám bích
Thiên hoán bất nhất hồi
Thập ngũ thuỷ triển mi
Nguyện đồng trần dữ hôi
Thường tồn bão trụ tín
Khởi thướng Vọng Phu đài
Thập lục quân viễn hành
Cù Đường, Diễm Dự đôi
Ngũ nguyệt bất khả xúc
Viên thanh thiên thượng ai
Môn tiền trì hành tích
Nhất nhất sinh lục đài
Đài thâm bất năng tảo
Lạc diệp thu phong tảo
Bát nguyệt hồ điệp hoàng
Song phi tây viên thảo
Cảm thử thương thiếp tâm
Toạ sầu hồng nhan lão
Tảo vãn há Tam Ba
Dự tương thư báo gia
Tương nghênh bất đạo viễn
Trực chí Trường Phong Sa

 

 

          Dịch nghĩa:

 

          Khi tóc vừa buông trán, hái hoa trước cổng chơi. Chàng cưỡi ngựa tre đến,  quanh giường tung trái mai. Trường Can cùng chung xóm, cả hai đều thơ ngây. Mười bốn, về làm vợ, thiếp còn e lệ hoài. Cúi đầu vào vách tối, Gọi mãi, chẳng buồn quay. Mười lăm, mới hết thẹn, Thề cát bụi không rời. Bền vững lòng son sắt, há lên Vọng phu đài. Mười sáu, chàng đi xa, Cù Đường, Diễm Dự đôi. Tháng năm không đến được, Vượn buồn kêu trên trời. Trước cổng vết chân cũ, rêu xanh mọc um tùm. Rêu nhiều không quét hết, Gió thổi, lá vàng rơi. Tháng tám bươm bướm vàng, trên cỏ vườn bay đôi. Cảnh ấy đau lòng thiếp, Má hồng buồn phôi pha. Khi chàng xuống Tam Ba, nhớ gởi thư về nhà. Thiếp sẽ mau đi đón, Đến thẳng Trường Phong Sa.

 

 

          Dịch thơ:

 

 

                     XÓM TRƯỜNG CAN

 

 

                   Tóc em vừa chấm bờ vai

 

          Bẻ hoa dưới ánh ban mai trước nhà

 

                   Chàng từ  cưỡi ngựa trúc qua

 

          Nghịch đùa tung quả mơ hoa quanh giường.

 

                   Trường Can cùng ngụ lân hương

 

          Hai ta đâu biết vấn vương là gì !

 

                   Mười bốn em bước vu quy

 

          Về bên chàng có biết chi là tình

 

                   Nên thường cúi mặt lặng thinh

 

          Mặc cho chàng gọi trăm nghìn không quay

 

                   Mười lăm rạng rỡ mày ngài

 

          Nguyện cùng chàng hết trần ai tro tàn

 

                   Lòng tin ôm cột giữ giàng

 

          Thì đâu em phải lên đàng vọng phu ?

 

                   Muời sáu chàng bước viễn du

 

          Cù Đường, Diễm Dự mịt mù xa khơi

 

                   Tháng năm không thể đến nơi

 

          Vượn buồn hót thảm bên trời bi ai

 

                   Trước sân còn đậm dấu hài

 

          Nay rêu kín phủ đơn sai mấy lần

 

                   Rêu dày không quét  được sân

 

          Lá thu theo gió trải ngần thềm xưa

 

                   Tháng tám bướm dập dìu đưa

 

          Phía tây vườn cỏ cho vừa nhớ thương

 

                   Cảnh vui lòng luống đọan trường

 

          Đếm từng ngày tháng phấn hương phai nhòa

 

                   Bao giờ chàng đến Tam Ba

 

          Nhớ thư tin báo về nhà đợi mong.

 

                   Đón chàng đâu ngại núi sông

 

          Nguyện vì nhau, mặc Trường Phong ...dãi dầu.

                                    (Bản dịch của Đào Thái Sơn)

 

          Như vậy có thể thấy, cả bài thơ của Lý Bạch tả mối tình thơ ngây của chàng trai và cô gái, hai người cùng ngụ trong xóm Trường Can, thuở nhỏ luôn luôn nô đùa quấn quít cùng nhau, bằng hai câu thơ: “Lang kị trúc mã lai. Nhiễu sàng lộng thanh mai.” (Chàng cưỡi ngựa tre đến,  quanh giường đùa với trái mai xanh). Do đó, nói: “trúc mai” là chỉ tình yêu thắm thiết của một đôi trai gái.

          Theo cách giải thích của học giả An Chi trên báo Sài gòn giải phóng online thì có khác đôi chút. Chẳng hạn: “Trúc mã” ở đây là gậy tre mà trẻ con lấy giả làm ngựa để cưỡi chứ không phải “ngựa tre”, “sàng” là ghế chứ không phải là giường.

                      

(còn nữa)


(9) Mài sắt nên kim

          Thành ngữ “mài sắt nên kim” (铁棒磨成针 / 铁柱磨成针) [thiết bổng ma thành châm / thiết trụ ma thành châm] được lưu truyền rộng rãi như một lời dạy, lời giáo huấn mọi người về ý chí bền bỉ trong công việc nói riêng, trong cuộc đời nói chung.


          Đến như sắt mài mãi cũng thành kim, thì bất cứ việc gì cũng có thể làm được, miễn là chúng ta biết chịu khó khổ luyện, biết kiên trì nhẫn nại, không quản gian lao vất vả. Lời giáo huấn biểu hiện qua câu thành ngữ “mài sắt nên kim”, một mặt được nhận thức qua ngôn từ của nó mà mấu chốt là sự đối lập giữa hai hình ảnh sắt và kim, mặt khác, thông qua sự liên hệ tới giai thoại về cuộc đời của nhà thơ nổi tiếng đời Đường ở Trung Quốc – nhà thơ Lý Bạch.
          Tương truyền, thuở niên thiếu, Lý Bạch là cậu bé không chịu khó học hành, ham chơi như bao đứa trẻ bình thường khác. Một hôm, cậu bé chán học, lẻn sang chơi ở chân núi phía Đông. Kỳ lạ quá! Trước mắt cậu bé là một bà lão đang cắm cúi mài một thanh sắt bên một tảng đá lớn. “Bà già tóc bạc đến dường kia mà lại chăm chắm mài một thanh sắt để làm gì nhỉ?” Cậu bé hết sức phân vân, bèn rón rén đến bên cạnh cụ già rồi cất tiếng hỏi:
          - Cụ ơi, cụ mài sắt để làm gì vậy?
          Bà lão ngoảnh mặt lên, hiền từ trả lời:
          - Để làm kim khâu cháu ạ.
          - Làm kim khâu ư? Thanh sắt thì làm thế nào mà trở thành cái kim khâu được? Cậu bé chất vấn bà lão.
          - Mài mãi cũng phải được. Kẻ có công mài sắt thì có ngày nên kim chứ - Bà lão trả lời một cách tin tưởng như vậy.
          Lý Bạch nửa tin nửa ngờ hỏi lại:
          - Liệu hôm nay có xong được không hở cụ?
          Bà lão thong thả trả lời hoà nhịp với động tác mài kim:
          - Hôm nay không xong thì mai lại làm tiếp vậy, năm nay không xong thì sang năm tiếp tục làm, ngày lại ngày, già nhất định mài xong.
          Nghe đến đây, Lý Bạch chợt hiểu ra và im lặng. Về nhà Lý Bạch thường ngẫm nghĩ về những lời của bà lão mà càng chuyên tâm học tập. Chẳng bao lâu, Lý Bạch trở thành nhà thơ lỗi lạc với những áng thơ Đường tuyệt mĩ, có một không hai trong nền văn học Trung Quốc. Từ đó, trong dân gian lưu truyền câu tục ngữ “Chỉ yếu công phu thâm/ Thiết trụ ma thành châm” (只要功夫深, 铁柱磨成针), nghĩa là “có công mài sắt, có ngày nên kim”; trong đó có chứa thành ngữ “mài sắt nên kim”. Thoạt đầu, nó như một nhận xét về cuộc đời, văn nghiệp của Lý Bạch: từ chỗ lười học, nhờ sự tỉnh ngộ qua cuộc gặp gỡ với cụ già mà siêng năng, kiên trì học tập và cuối cùng trở thành tài. Nhưng dần dần câu tục ngữ “có công mài sắt, có ngày nên kim” được lưu truyền rộng rãi, vượt qua phạm vi của một cuộc đời, một sự nghiệp, trở thành một lời dạy, lời giáo huấn mọi người về ý chí bền bỉ trong công việc nói riêng, trong cuộc đời nói chung.
          (Theo chuyện kể của Trịnh Mạnh)

 

 

          Ở Việt Nam, ngoài thành ngữ “mài sắt thành kim” còn có tục ngữ “có công mài sắt, có ngày nên kim” cũng được sử dụng rộng rãi như một lời khuyên, răn dạy về đức tính kiên trì sẽ dẫn đến thành công, nhưng trên thực tế, ít người biết đến nguồn gốc của nó.


          (10) Buôn tảo bán tần

          Thành ngữ “buôn tảo bán tần” có xuất xứ từ bài thơ “Thái Tần” (采蘋) của Khổng Tử. Nguyên văn:
          于以采蘋?
         
南澗之濱。
         
于以采藻?
         
于彼行潦。
Phiên âm
:
          Vu dĩ Thái Tần,
          Nam gián chi tân
          Vu bỉ Thái Tảo
          Vu bỉ hàng lạo
Dịch nghĩa:
          Đi hái rau Tần,
          bên bờ khe phía nam,
          đi hái rau Tảo,
          bên lạch nước kia.
(Chú giải:
          tần: rau lục bình nổi trên mặt nước, người Giang Đông gọi là bèo.
          tân: bờ nước.
          tảo: rong tụ, tảo ở đáy nước, cọng như ngọn cây thoa, lá như cỏ bồng.
          hành lão: cái rãnh nước mưa chảy cuốn đi.
          Nước ở phía nam chịu sự giáo hoá của Văn Vương, vợ của quan đại phu năng đi việc cúng tế, người nhà của nàng mới kể lại việc ấy mà khen tặng).
          (Theo chú giải của Chu Hy)
Dịch thơ:
                    Để mà đi hái rau tần,
          Núi nam hay mọc ở gần bờ khe.
                   Tảo kia ta hái luôn về,
          Bên đường nước chảy dầm dề sau mưa.
                             (Bản dịch Tạ Quang Phát)
          Theo cách chú giải truyền thống thì câu thơ trên ca ngợi người “vợ hiền dâu thảo”, chăm chỉ hái rau Tần, rau Tảo về làm cỗ cúng tổ tiên. Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, “Tảo Tần” tượng trưng cho đức tính siêng năng, chịu khó, hay làm hay làm của người phụ nữ. Thành ngữ “buôn tảo bán tần” đã xuất hiện trong Kinh Thi.
          Ở Việt Nam, ý biểu trưng của “Tảo Tần” cũng được sử dụng nhiều trong văn học cổ. Chẳng hạn, trong truyện Phạm Tải – Ngọc Hoa:
                    Sớm khuya chăm việc tảo tần
          Thờ cha kính mẹ đôi lần chẳng sai
          Về sau: thành ngữ “buôn tảo bán tần” được dùng với nghĩa rộng hơn, chỉ đức tính đảm đang việc nhà của người phụ nữ. Chẳng hạn:
                    Cô Hai buôn tảo bán tần
          Cô Ba đòi nợ chỗ gần chỗ xa
                                      (Ca dao)

 (còn nữa)



 

 

Ý kiến bạn đọc

Vui lòng login để gởi ý kiến. Nếu chưa có account, xin ghi danh.